Cao nguyên Ukok

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cao nguyên Ukok
Thảm Pazyryk, thế kỷ V TCN

Cao nguyên Ukok là một vùng đồng cỏ hẻo lánh nằm ở tâm miền tây nam Xibia, trong vùng dãy núi Altai của Nga, gần biến giới với Trung Quốc, KazakhstanMông Cổ. Cao nguyên này là một phần của di sản thế giới UNESCO Các ngọn núi vàng của dãy Altay. Đây là nơi sinh sống cho một số loài động vật bị đe dọa, gồm cả loài thú ăn thịt lớn ít được nghiên cứu nhất là báo tuyết. Vài loài khác là cừu Argali, đại bàng hung, và hạc đen.[1] Có một số mối đe dọa đến hệ sinh thái cao nguyên Ukok, như sự chăn thả quá mức gia súc[2], làm đường, và dự án ống dẫn khí Nga-Trung Quốc.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Pazyryk là tên mà học giả ngày nay đặt cho tộc người từng sống trên cao nguyên Ukok và gắn với một số phát hiện khảo cổ, gồm những xác ướp trong tầng đất đóng băng vĩnh cửu. Nhiều gò mộ từ thời đồ đồng đã được tìm thấy trong vùng, thường được cho là của nền văn hóa Pazyryk và mang nét tương đồng với gò mộ Scythia ở phía tây.[3] Kurgan là từ để chỉ những gò mộ như vậy. Việc khai quật những di chỉ này tiếp tục cho ra những phát hiện khảo cổ quan trọng.[4] Một trong số đó là trinh nữ băng Xibia, do nhà khảo cổ Nga Natalia Polosmak khai quật.[5][6] Ít nhất sáu xác ướp từ tầng đất đóng băng vĩnh cửu có niên đại từ 2600 TCN - 402 đã được tìm thấy.[7] Trinh nữ băng Xibia và những phát hiện khác được tìm thấy ngay trong dải đất tranh chấp giữa Nga-Trung Quốc.[8] Người dân Cộng hòa Altai đang yêu cầu việc trả đồ tạo tác về địa phương.[9]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Protect Snow Leopard Habitat / Siberia”. forests.org. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2007. 
  2. ^ “Altai: Saving the Pearl of Siberia”. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2006. 
  3. ^ Bahn, Paul G. (2000). The Atlas of World Geology. New York: Checkmark Books. tr. 128. ISBN 0-8160-4051-6. 
  4. ^ “Golden Mountains of Altai”. UNESCO. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2007. 
  5. ^ “Ice Mummies: Siberian Ice Maiden”. PBS - NOVA. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2007. 
  6. ^ “Prehistoric Art - Early Nomads of the Altaic Region”. The Hermitage Museum. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2007. 
  7. ^ Deter-Wolf, Aaron; Robitaille, Benoît; Krutak, Lars; Galliot, Sébastien (tháng 2 năm 2016). “The World's Oldest Tattoos”. Journal of Archaeological Science:Reports 5: 19–24. doi:10.1016/j.jasrep.2015.11.007. 
  8. ^ Leigh Fenly (8 tháng 12 năm 2004). “Archaeology News”. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2007. 
  9. ^ “Minor nationality of Russia demands the return of "Princess of Ukok". Pravda. 21 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2007. 

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • S.I. Rudenko, Kul'tura naseleniia Gornogo Altaia v skifskoe vremia ("The Population of the High Altai in Scythian Times")(Moscow and Leningrad, 1953) translated as Frozen Tombs of Siberia: The Pazyryk Burials of Iron Age Horsemen, M.W. Thompson, tr. (University of California Press, Berkeley) 1970. ISBN 0-520-01395-6

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 49°18′28″B 87°35′41″Đ / 49,3078°B 87,5947°Đ / 49.3078; 87.5947