Bước tới nội dung

Caprimulgus longipennis

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Caprimulgus longipennis
Chim đực trong mùa sinh sản
Chim trong giai đoạn không sinh sản
Phân loại khoa học edit
Giới: Animalia
Ngành: Chordata
Lớp: Aves
nhánh: Strisores
Bộ: Caprimulgiformes
Họ: Caprimulgidae
Chi: Caprimulgus
Loài:
C. longipennis
Danh pháp hai phần
Caprimulgus longipennis
Shaw, 1796
Bản đồ phạm vi của Caprimulgus longipennis: vùng sinh sản (màu đậm) và vùng không sinh sản (màu nhạt)

Caprimulgus longipennis, (tiếng Anh: standard-winged nightjar) là một loài chim hoạt động về đêm thuộc Họ Cú muỗi. Từng được xếp cùng loài Caprimulgus vexillarius vào chi riêng của chúng là Macrodipteryx, đây là loài bản địa của châu Phi và có sự dị hình giới tính rõ rệt. Trong mùa sinh sản, chim đực mọc cặp lông cánh trang trí bản lớn dài hơn cả chiều dài cơ thể.

Phạm vi phân bố và môi trường sống

[sửa | sửa mã nguồn]

Caprimulgus longipennis là loài chim sinh sản định cư tại châu Phi, phân bố từ miền nam Sénégal đến miền đông Ethiopia. Vào mùa không sinh sản, chúng di cư về phía bắc đến khu vực Sahel. Môi trường sống của loài bao gồm các vùng trảng cỏ thưa, các khu vực có bụi rậm và cả đất nông nghiệp trong vùng thảo nguyên rậm cây.[2] Chúng từng được quan sát thấy ở độ cao lên tới 2.030 mét (6.660 ft) tại Ethiopia,[3] nhưng thông thường loài này xuất hiện từ mực nước biển đến độ cao 1.400 mét (4.600 ft).[2]

Khi đậu trên mặt đất trong ban ngày, loài cú muỗi này có kích cỡ trung bình chiều dài 20–23 cm (7,1–9,1 in) chủ yếu có màu xám loang lổ, với vòng cổ màu nâu hơn. Chúng có hình dáng mờ ảo với đường bay nhẹ, im lặng như bướm đêm; loài cú muỗi này có đuôi tương đối ngắn và có một chút các vệt trắng ở cánh hay đuôi. Tiếng hót là một chuỗi âm thanh rung kéo dài.[1]

Các cá thể đực trưởng thành mọc những chiếc lông trang trí trong mùa sinh sản, bao gồm một chiếc lông bay thứ cấp bản rộng ở mỗi bên cánh,[4] độ dài lên đến 53,5 cm (21.1 in),[2] gần gấp đôi cả chiều dài cơ thể của chúng. Trong chuyến bay bình thường, những chiếc lông này kéo dài ra phía sau, nhưng khi bay phô diễn chúng như những chiếc cờ tiêu chuẩn.[2] Những chiếc lông lớn này được cho rằng là đặc điểm được phát triển thông qua quá trình chọn lọc giới tính mạnh mẽ.[5] Ngoài mùa sinh sản, chim cái khác chim đực ở kích thước nhỏ hơn và tương đồng với loài Caprimulgus vexillarius, đáng chú ý ở mảng lông màu trắng ở họng và các vằn tối trên bụng.[6]

Giống các loài cú muỗi khác, loài này ăn côn trùng đang bay, miệng chúng mở rộng để bắt bướm đêmbọ cánh cứng. Chúng bay đi săn vào lúc chạng vạng, khi có nhiều con mồi, mặc dù tập tính kiếm ăn này thay đổi tùy thuộc vào ánh trăng, việc kiếm ăn muộn hơn vào đêm khuya có phụ thuộc với mức độ ánh trăng cao hơn.[7] Chúng cũng có thể kiếm ăn tại các đàn côn trùng bị xao động bởi lửa hoặc ánh sáng nhân tạo, hành vi này được cho là có liên quan đến việc chim bị xe va đập khi đèn xe chiếu sáng mặt đường.[8]

Trong mùa sinh sản, chim đực và hiếm hơn chim cái sẽ tập trung tại các bãi đất ít thực vật để kiếm ăn và để chim đực thực hiện các chuyến bay phô diễn.[7] Hành vi này được xem là một dạng của lekking.[a][2] Ngoài mùa sinh sản, loài này từng được quan sát thấy di chuyển trong quần thể lên tới 20 cá thể chim.[2]

Loài này không làm tổ, trong mỗi ổ trứng bao gồm hai quả trứng hình bầu dục, hơi bóng đặt trực tiếp trên nền đất cát trần.[9]

Chim đực đang bay phô diễn chiếc lông trang trí của chúng

Danh pháp

[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù loài Caprimulgus longipennis từng được xếp vào chi Caprimulgus trong nhận định đầu tiên của George Shaw vào năm 1796,[10] loài này sau đó được xếp vào chi Macrodipteryx cùng với loài Caprimulgus vexillarius.[2] Một nghiên cứu phát sinh chủng loại học được thực hiện vào năm 2010 đã loại bỏ chi Caprimulgus, xếp cả hai loài Caprimulgus longipennisCaprimulgus vexillarius vào chi Caprimulgus.[5] Hai loài có quan hệ gần,[5] mặc dù sự khác biệt của chúng ở phạm vi sinh sảnmùa sinh sản.[11]

Sinh thái học và bảo tồn

[sửa | sửa mã nguồn]

Caprimulgus longipennis là loài chim di cư[1] và di chuyển tới khu vực sinh sản hằng năm. Mùa sinh sản chính xác thay đổi tùy theo vùng, và bị ảnh hưởng tới con mồi và lượng mưa; các quần thể sống ở vùng phía nam thường sinh sản sớm hơn so với các quần thể ở vùng phía bắc.[2]

Số lượng loài Caprimulgus longipennis không được xem là bị đe dọa và được liệt kê là loài ít quan tâm bởi Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) trên sách đỏ IUCN.[1]

  1. Trong tiếng Anh, thuật ngữ này được gọi là lek, lekking (lek-mating). Xem thêm trên Wiktionary (tiếng Anh) (tạm dịch: phô diễn tập thể).

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 3 4 BirdLife International (2024). "Caprimulgus longipennis: The IUCN Red List of Threatened Species 2024" (bằng tiếng Anh). IUCN. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2026.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 Cleere, Nigel (2010). Nightjars: A Guide to the Nightjars, Frogmouths, Potoos, Oilbird and Owlet-nightjars of the World. Pica Press. tr. 258–259. ISBN 978-1-4081-3547-1.
  3. Ash, J. S.; Atkins, J.; Ash, Caroline P. J. (2009). Birds of Ethiopia and Eritrea: An Atlas of Distribution. London, UK: A&C Black. tr. 209. ISBN 978-1-4081-0979-3.
  4. Lovette, Irby J.; Fitzpatrick, John W., biên tập (2016). Cornell Lab of Ornithology's handbook of bird biology (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 3). Wiley-Blackwell. tr. 71. ISBN 978-1-118-29105-4.
  5. 1 2 3 Han, Kin-Lan; Robbins, Mark B.; Braun, Michael J. (tháng 5 năm 2010). "A multi-gene estimate of phylogeny in the nightjars and nighthawks (Caprimulgidae)". Molecular Phylogenetics and Evolution (bằng tiếng Anh). 55 (2): 443–453. doi:10.1016/j.ympev.2010.01.023. PMID 20123032.
  6. Holyoak, D. T. (ngày 19 tháng 7 năm 2001). Nightjars and Their Allies: The Caprimulgiformes (bằng tiếng Anh). OUP Oxford. tr. 362. ISBN 978-0-19-854987-1.
  7. 1 2 Jetz, Walter; Steffen, Jan; Linsenmair, Karl Eduard (tháng 12 năm 2003). "Effects of light and prey availability on nocturnal, lunar and seasonal activity of tropical nightjars". Oikos (bằng tiếng Anh). 103 (3): 627–639. Bibcode:2003Oikos.103..627J. doi:10.1034/j.1600-0706.2003.12856.x.
  8. Jackson, Hd (tháng 9 năm 2003). "Another reason for nightjars being attracted to roads at night". Ostrich (bằng tiếng Anh). 74 (3–4): 228–230. Bibcode:2003Ostri..74..228J. doi:10.2989/00306520309485398.
  9. Cleere, Nigel (ngày 4 tháng 3 năm 2020), "Standard-winged Nightjar (Caprimulgus longipennis)", Birds of the World (bằng tiếng Anh), Cornell Lab of Ornithology, doi:10.2173/bow.stwnig1.01, truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2026
  10. Shaw, George; Nodder, Frederick Polydore (1797). "The Leona Goatsucker, Caprimulgus longipennis (Pl. 265)". The Naturalist's Miscellany (bằng tiếng La-tinh). 8 (LXXXIX). doi:10.5962/p.310808.
  11. Maclean, G. L. (1997). "Pennant-winged Nightjar". Trong Harrison, J. A.; Allan, D. G.; Underhill, L. G.; Herremans, Marc; Parker, V. (biên tập). The atlas of Southern African birds (bằng tiếng Anh). Randburg, South Africa: Acorn Books and Russel Friedman Books. ISBN 978-0-620-20729-4.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]