Carl Jenkinson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Carl Jenkinson
Carl Jenkinson vs Liverpool 2011.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Carl Daniel Jenkinson[1]
Ngày sinh 8 tháng 2, 1992 (27 tuổi)
Nơi sinh Harlow, Anh
Chiều cao 1,86 m (6 ft 1 in)
Vị trí Hậu vệ cánh phải
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
West Ham United
(cho mượn từ Arsenal)
Số áo 12
CLB trẻ
2000–2009 Charlton Athletic
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2009–2011 Charlton Athletic 8 (0)
2010Borough (mượn) 4 (0)
2010Welling (mượn) 10 (0)
2011– Arsenal 37 (1)
2014–2015West Ham United (mượn) 32 (0)
2015–West Ham United (mượn) 9 (2)
Đội tuyển quốc gia
2008 U-17 Anh 1 (0)
2010 U-19 Phần Lan 3 (1)
2011 U-21 Phần Lan 1 (0)
2013–2015 U-21 Anh 14 (2)
2012– Anh 1 (0)

* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 07:50, 1 tháng 11 năm 2015 (UTC).
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 21:40, 24 tháng 6 năm 2015 (UTC)

Carl Daniel Jenkinson (sinh ngày 8 tháng 2 năm 1992) là một cầu thủ bóng đá mang hai quốc tịch Anh và Phần Lan hiện đang chơi cho câu lạc bộ Arsenal ở vị trí Hậu vệ cánh. Anh có cha là người Anh và mẹ là người Phần Lan, và đã từng thi đấu cho cả Anh và Phần Lan ở cấp độ đội tuyển trẻ.

Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Charlton Athletic[sửa | sửa mã nguồn]

Jenkinson lần đầu đá cho Charlton trong trận bán kết Johnstone's Paint Trophy khu vực phía nam gặp câu lạc bộ Brentford trên sân Griffin Park vào tháng 12 năm 2010, anh thi đấu trong cả trận ở vị trí hậu vệ cánh phải.[2]

Arsenal[sửa | sửa mã nguồn]

Jenkinson ký hợp đồng với Arsenal vào tháng 6 năm 2011,[3] với mức phí chuyển nhượng không được tiết lộ (được cho là vào khoảng 1 triệu £).[4]

Ngày 16 tháng 8 năm 2011, Jenkinson có trận đấu đầu tiên cho Arsenal ở vòng sơ loại cuối cùng UEFA Champions League gặp Udinese khi vào sân thay người ở hiệp 2 cho cầu thủ bị chấn thương Johan Djourou. Jenkinson lần đầu đá ở Premier League trong trận gặp Liverpool vào ngày 20 tháng 8 năm 2011. Anh tiếp tục có tên trong đội hình chính ở trận lượt về gặp Udinese và sau đó gặp Manchester United trên sân Old Trafford, mặc dù bị đuổi khỏi sân sau khi phạm lỗi với Javier Hernández. Anh vẫn kiến tạo cơ hội để Robin van Persie ghi bàn thắng thứ 2 cho Arsenal trong trận thua 8–2 trước Manchester United. Jenkinson tiếp tục kéo dài số trận đá chính cho Arsenal với một phong độ ấn tượng trận gặp West Bromwich.[5]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 31 tháng 10 năm 2015.
Câu lạc bộ Mùa giải Premier League FA Cup League Cup Châu Âu Khác Tổng cộng
Hạng Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Welling United (mượn) 2009–10 Conference South 10 0 0 0 0 0 10 0
Charlton Athletic 2010–11 League One 8 0 0 0 0 0 1 0 9 0
Eastbourne Borough (mượn) 2010–1 Conference Premier 4 0 0 0 1 0 5 0
Arsenal 2011–12 Premier League 9 0 0 0 1 0 4 0 14 0
2012–13 Premier League 14 0 1 0 1 0 5 0 21 0
2013–14 Premier League 14 1 3 0 2 0 3 0 22 1
Tổng cộng 37 1 4 0 4 0 12 0 57 1
West Ham United (loan) 2014–15 Premier League 32 0 4 0 0 0 36 0
2015–16 Premier League 9 2 0 0 0 0 1 0 10 2
Tổng cộng sự nghiệp 100 3 8 0 4 0 13 0 2 0 127 3

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 14 tháng 11 năm 2012.[6]
Đội tuyển quốc gia Năm Trận Bàn
Anh 2012 1 0
Tổng cộng 1 0

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Search 1984 to 2006 – Birth, Marriage and Death indexes”. Findmypast.com. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2010. 
  2. ^ “Jenkinson debutss; Dailly returns”. Charlton Athletic. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2010. 
  3. ^ “Carl Jenkinson Joins Arsenal”. Arsenal F.C. 6 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  4. ^ “Carl Jenkinson to join Arsenal in £1m deal”. The Scotsman. 6 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  5. ^ “Arsenal 3-0 West Brom”. BBC Sport. Truy cập 8 tháng 3 năm 2015. 
  6. ^ “Carl Jenkinson”. National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]