Celestin (khoáng vật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Celestin
Khoáng vật celestin trong suốt màu xanh – xám từ Madagascar
Thông tin chung
Thể loại Khoáng vật Sunfat
Công thức hóa học SrSO4 đôi khi chứa lượng nhỏ canxi và bari
Tính đối xứng tinh thể hệ thoi 2/m 2/m 2/m lưỡng tháp
Màu Không màu, trắng, xanh nhạt, hồng, xanh lá cây nhạt, nâu nhạt, đen
Dạng thường tinh thể Dạng khối hoặc tinh thể hình kim tự tháp, có thể dạng sợi, dạng tấm,dạng đất, dạng khối lớn
Hệ tinh thể Hệ tinh thể trực thoi
Cát khai Mặt tinh thể dọc theo trục (001) hoàn hảo, mặt thứ hai (210) gần hoàn hảo
Vết vỡ Không đều
Độ bền Giòn
Độ cứng Mohs 3 - 3,5
Ánh Ánh thủy tinh, ánh ngọc trai ở mặt cát khai
Màu vết vạch trắng
Tính trong mờ Trong suốt đến trong mờ
Tỷ trọng riêng 3,95 - 3,97
Thuộc tính quang Hai trục (+)
Chiết suất nα = 1,619 - 1,622 nβ = 1,622 - 1,624 nγ = 1,630 - 1,632
Khúc xạ kép δ = 0,011
Đa sắc Yếu
Góc 2V Đo được: 50° tới 51°
Tán sắc Trung bình r < v
Huỳnh quang Dưới tia cực tím bước sóng ngắn = màu vàng, trắng xanh, dưới tia cực tím bước sóng dài = vàng, trắng xanh
Tham chiếu [1][2][3]

Celestin hoặc Celestit[4] là một khoáng vật chứa stronti sunfat. Tên khoáng vật được đặt theo màu sắc xanh thanh khiết của nó.

Celestin là khoáng vật chứa stronti phổ biến nhất. Nó có cấu tạo đồng hình với barit nên chúng có thể thay thế lẫn nhau trong tinh thể.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Celestin có nguồn gốc tên gọi từ tiếng Latin caelestis nghĩa là thuộc về bầu trời,[5] mà nó lại có nguồn gốc từ tiếng Latin caelum nghĩa là bầu trời hay thiên đường.[6]

Dạng tồn tại[sửa | sửa mã nguồn]

Celestin tồn tại dưới dạng tinh thể, và có thể ở dạng khối lớn và dạng sợi. Nó thường được tìm thấy ở đá trầm tích, thường liên kết với khoáng vật thạch cao, anhydrit hoặc halit.

Khoáng vật này được tìm thấy trên quy mô toàn cầu, thường ở lượng nhỏ. Các mẫu có màu xanh nhạt được tìm thấy ở Madagascar.

Thân của các loài trùng tia thuộc lớp Acantharea được làm từ celestin, không giống các loài trùng tia khác thuộc phân ngành Radiolaria với thân thể của chúng được làm từ silica.

Trong các trầm tích cacbonat đại dương, các chất tan bị chôn vùi là cơ chế được thừa nhận để kết tủa celestin.[7]

Tinh hốc celestin

Tinh hốc celestin lớn nhất đã biết đến nằm gần làng Put-in-Bay, Ohio trên đảo South Bass trong hồ Erie. Tinh hốc này có đường kính 11m (35 ft) ở điểm dài nhất. Nó đã được chuyển thành một hang động, và tinh thể từng làm nền cho hốc tinh đã được chuyển đi. Hang tinh thể này có những tinh thể celestin rộng đến 46cm (18 inch) và nặng đến 140 kg (300 lb).

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Celestin thường được dùng cho việc điều chế stronti hydrat, được sử dụng trong việc lọc đường từ củ cải đường ở Đức. Ngoài ra khoáng vật cũng được sử dùng như nguồn cung cấp các muối của stronti, được ứng dụng trong công nghiệp làm pháo hoa để tạo ra lửa đỏ.[8]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Handbook of Mineralogy
  2. ^ Mindat.org
  3. ^ Webmineral data
  4. ^ Nickel Ernest, Nichols Monte. Mineral Names, Redefinitions & Discreditations Passed by the CNMMN of the IMA, Materials Data, Inc., 2004, p. 26 - Celestine là tên phù hợp cho khoáng vật này theo Commission on New Minerals and Mineral Names (CNMMN). Mặc dù celestite có thể được tìm thấy ở một vài văn bản khoáng vật học, tên Celestite không được tin tưởng để sử dụng bởi tổ chức này.
  5. ^ Celestine
  6. ^ Celestial
  7. ^ Baker, Paul A.; Bloomer, Sherman H. (1988). “The origin of celestite in deep-sea carbonate sediments”. Geochimica et Cosmochimica Acta 52 (2): 335–339. Bibcode:1988GeCoA..52..335B. doi:10.1016/0016-7037(88)90088-9. 
  8. ^ 1911encyclopedia.org