Chà vá chân đỏ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chà vá chân đỏ
Portrait of a Douc.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Primates
Họ (familia) Cercopithecidae
Chi (genus) Pygathrix
Loài (species) P. nemaeus
Danh pháp hai phần
Pygathrix nemaeus
Khu vực phân bố
Khu vực phân bố

Chà vá chân đỏ hay còn gọi là Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) thuộc họ Khỉ Cựu Thế Giới (để phân biệt với loài khỉ tân thế giới), và là loài có màu sắc rực rỡ nhất trong các loài linh trưởng. Chúng còn được biết đến với tên "Vooc ngũ sắc" cũng bởi vẻ ngoài độc đáo này. Từ đầu gối đến mắt cá chân của Voọc chà vá chân đỏ giống như “đôi tất dài màu nâu đỏ”, cẳng tay trước của chúng như được phủ một lớp găng tay trắng vậy. Nhưng bàn tay và đôi chân thì lại có màu đen. Vooc chà vá chân nâu có vành râu quai nón màu trắng và thường của con đực sẽ rậm rạp hơn. Mí mắt của chúng màu xanh dương nhẹ. Đuôi trắng và có cụm lông trắng ở phía cuối. Con đực ở mọi lứa tuổi đều có mảng trắng ở hai bên mông và bộ phận sinh dục màu đỏ và trắng.

Từ "Voọc" tiếng Việt có nghĩa là "khỉ". Loài voọc là loài khỉ sống trên cây, ăn, ngủ trên các cành cây trong rừng và hoạt động vào ban ngày. Chà vá chân nâu là loài khỉ ăn lá đặc hữu của Việt NamLào. Chúng là một trong những động vật quý hiếm và bị săn bắn quá mức ở đây.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chà vá chân nâu được giới khoa học biết đến từ năm 1771 và ghi nhận xuất xứ từ "Cochin-China" nhưng lúc bấy giờ chúng được coi như một nhóm gồm ba phân loài: P. nemaeus nemaeus, P. nemaeus cinerea, và P. nemaeus nigripes[1]. Mãi đến cuối thế kỷ 20 giới khoa học mới sắp xếp lại và kết luận rằng chúng là một loài riêng, mang tên P. nemaeus.[2]

Đặc điểm hình dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như các loài voọc khác, chà vá chân nâu là loài khỉ có thân hình dài, mảnh dẻ. Đầu và thân con đực có chiều dài trung bình vào khoảng 61 cm (24 in) và con cái thì vào khoảng 54.5 cm (21.5 in) với đuôi dài từ 55.8 - 76.2 cm (22.0-30.0 in). Con đực năng trung bình 11 kg (24 lb), và con cái khoảng 8.44 kg (18.6 lb). Có sự khác biệt nhỏ giữa mảng màu ở mông của 2 giới: con đực có mảng trắng ở mông, con cái thì không có.[3]

Cả ba loại chà vá nói chung (Pygathrix nemaeus, Pygathrix cinereaPygathrix nigripes) có thân lông xám với vết lông trắng ở mông. Lông vai và tay màu đen. Lông trên đầu màu xám nhưng có một vành đen phía trên trán. Chúng có vành râu quai nón màu trắng trong khi phía cổ thì lông màu dà, hung đỏ. Mắt chúng hơi xếch. Tay chà vá dài hơn chân. Đuôi dài, sắc lông trắng.

Khác biệt giữa ba loại chà vá là lông từ mông trở xuống. Chà vá chân đỏ, như tên đặt cho chúng, có cặp chân màu nâu đỏ. Hai cánh tay cũng xám. Chúng có họ rất gần với chà vá chân xám trong khi chà vá chân đen theo giảo nghiệm thì có họ xa hơn[4].

Môi trường sống và Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Chà vá chân nâu nay sinh sống ở khu vực bắc Trường Sơn của Việt Nam (địa bàn gồm từ Nghệ An xuống Kontum) và nước Lào. Trước năm 1967, Loài Voọc Chà Vá được tìm thấy ở nhiều môi trường sống từ môi trường thấp đến địa hình đồi núi lên đếm 2000 mét, trong rừng nhiệt đới nguyên sinh trên núi cao, rừng thứ sinh, rừng hỗn giao.

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Voọc, giống như các loài khỉ khác, thích sống bầy đàn. Chúng sống trong nhóm từ 4 đến 15 con nhưng đã từng ghi lại được nhóm lên tới 50 con. Một nhóm thường có một hoặc vài con đực và trung bình sẽ có 2 con cái nếu có 1 con đực. Cả con cái và con đực đều biết vị trí của mình trong đàn và con đực thường có vị trí cao hơn con cái. Cả con đực và con cái cuối cùng rồi sẽ rời khỏi đàn nơi chúng được sinh ra.

Giống các loài khác thuộc họ Khỉ cựu thế giới, đuôi của chúng không dùng để cầm nắm. Đuôi chỉ được sử dụng cho một mục đích duy nhất là cân bằng. Chúng dùng tay và chân để di chuyển trong rừng. Một khi đã bắt đầu di chuyển cả nhóm sẽ được dẫn dắt bởi con đực đầu đàn, với những con đực trẻ ở phía sau, con cái và con non an toàn ở giữa. Loài voọc này sống trên cao, chúng di chuyển ở trên các tán rừng. Chúng rất nhanh nhẹn và thường có thể nhảy tới 6 mét (20 feet), với cánh tay dang rộng qua đầu, chúng đẩy chi dưới về phía trước và tiếp đất bằng 2 chân.

Bình thường, chà vá chân nâu sẽ di chuyển một cách ồn ào từ cành này sang cành khác qua khu rừng, đi qua các tán cây, nhảy nhót trên các cành và nhún nhảy bằng 2 chân cùng lúc, thể hiện khả năng giữ cân bằng tuyệt vời của mình. Nhưng khi có biến, bởi kẻ săn mồi hay những mối nguy hiểm khác, chúng có thể chạy trốn một cách yên lặng qua những cành cây, ra xa khỏi mối nguy hiểm. Nếu chúng giật mình, chúng có thể kêu lớn, nháo nhác quanh các cành cây. Nhưng ngược lại với những lần di chuyển ồn ã, chà vá dành phần lớn thời gian để ăn trong yên lặng, tiêu hóa đống thức ăn, liu diu ngủ và chải lông cho nhau.

Loài khỉ này giao tiếp thông qua biểu cảm khuôn mặt. Nó như một màn biểu diễn khuôn mặt với cái miệng há rộng, răng nhe ra và cằm hướng về phía trước. Thỉnh thoảng, chúng nhắm mắt, quờ quạng nhau mà không để tâm tới mối nguy hiểm khi ở trên các cành cao. Cái nhìn chằm chằm thể hiện sự đe dọa. Mặt nhăn nhó, miệng mở rộng và răng nhe ra cho thấy thái độ tuân phục sau khi bị nhìn chằm chằm. Biểu hiện này cũng thường thấy khi chúng bắt đầu chài lông cho nhau và chơi đùa. Chà vá chân nâu gầm gừ ở âm vực thấp, thể hiện sự đe dọa và kêu ré lên khi phải chịu đau.

Loài chà vá này giờ không còn có nhiều trong môi trường hoang dã và không có nhiều thông tin về tập tính giao phối và sinh sản ngoài thiên nhiên của chúng. Trước khi giao phối, cả con đực và con cái đều ra dấu hiệu bằng cách giơ cằm ra, lông mày nhếch cao và đầu cúi xuống. Con cái sẽ di chuyển trước, cắm mặt xuống cành cây, mắt nhìn vào con đực đã chọn. Con đực sẽ quay lại nhìn thẳng và có thể quay đi tìm nơi mà nó cho là phù hợp để giao phối.

Giai đoạn giao phối diễn ra từ tháng 8 đến tháng 12. Giai đoạn mang thai kéo dài trong khoảng từ 165 đến 190 ngày, con cái sẽ sinh 1 con non vừa đúng trước mùa quả chín. Sinh đôi thường rất hiếm. Con non khi chào đời mắt đã mở to và bám vào mẹ một cách bản năng. Màu con non nhạt hơn màu con trưởng thành. Lông tơ ngắn, xám có những vạch tối màu ở phần lưng. Khuôn mặt đen và 2 vạch mờ dưới mắt. Khi chúng lớn lên, cơ thể sẽ dần tối màu hơn nhưng mặt lại có màu sáng hơn, sau khoảng 10 tháng chúng có đầy đủ màu của một con trưởng thành. Trong môi trường nuôi nhốt, những thành viên khác trong nhóm cũng chăm sóc con non và những con cái khác có thể còn cho nó bú. Trong một nghiên cứu, con non được nhận nuôi sẽ do 2 con cái và 1 con đực trong đàn chăm sóc. Con cái có thể bắt đầu giao phối khi đủ 4 tuổi trong khi con đực phải mất từ 4-5 năm. Vòng đời của chúng dài khoảng 25 năm.

Kẻ thù lớn nhất của chà vá chân nâu là con người. Loài linh trưởng này bị đe dọa do mất môi trường sống bởi phá rừng và săn bắn. Người dân địa phương thường săn chúng lấy thịt và những bộ phận khác dùng để làm thuốc. Những vụ buôn lậu động vật hoang dã như chà vá chân nâu dù trái phép nhưng mang lại lợi nhuận lớn. Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, môi trường sống của loài vooc này bị đánh bom và phun thuốc hóa học như chất độc màu da cam.

Thức ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Chà vá chân nâu sinh hoạt vào ban ngày, ăn và ngủ trên cây trong rừng. Thức ăn của chúng chủ yếu bao gồm lá cây nhiều chất xơ. Thuộc phân loài Colobinae hay loài khỉ ăn lá, chúng có dạ dày to chia làm các túi chứa vi sinh giúp tách cellulose trong lá cây qua quá trình lên men, điều này khiến cho bụng của loài chà vá luôn phồng lên. Chúng cũng hay ợ do khí thải ra từ quá trình lên men này. Chà vá chân nâu thích ăn những lá non, nhỏ và mềm nhưng cũng thích hoa quả như quả sung, nụ, cuống lá, hoa và hạt. Chúng lấy được đủ chất lỏng và protein chúng cần từ thức ăn mà không cần phải xuống tận mặt đất để uống nước. Loài khỉ này ăn tới 50 loại thực vật khác nhau nhưng không ăn thịt loài động vật nào. Thói quen ăn uống bừa bãi và hỗn tạp của chúng đã làm rơi nhiều thức ăn xuống mặt đất: là khô, quả chưa chín hoặc hoa quả quá chín. Chúng ăn một cách hòa bình bên cạnh nhau, chia sẻ thức ăn mà không tranh giành. Thường thì chúng chia sẻ một tán lá, chúng dùng tay tách tán lá đó ra chia cho nhau, đây là một hành động hào hiệp mà hiếmm loài Khỉ cựu thế giới nào có. Chúng không có túi má. Chế độ dinh dưỡng đã cung cấp đủ protein và chất lỏng cần thiết rồi.

Tình trạng nguy cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Chà vá chân nâu nằm trong danh sách đỏ về động vật nguy cấp của IUCN và danh sách bị cấm buôn bán toàn cầu của CITES. Mặc dù vậy, luật bảo vệ loài này của Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn khi thực thi.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Van Penen, PFD. Preliminary Identification Manual for Mammals of South Vietnam. Washington, DC: United States National Museum Smithsonian Institution, 1969.
  2. ^ Sterling Ealeanor và ctv. Vietnam A Natural History. New Haven, CT: Nhà in Đại học Yale, 2006.
  3. ^ Gron, K. J. (2009). "Primate Factsheets: Douc langur (Pygathrix)". Retrieved 2012-04-20.
  4. ^ Eleanor Sterling và ctv. Vietnam, A Natural History. New Haven, CT: Nhà in Đại học Yale, 2006. Trang 225-8.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]