Chân đăng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Chân đăng
Khu vực có số dân đáng kể
 Nouvelle-Calédonie   2.327[1]
 Vanuatu   600
Ngôn ngữ
Tiếng Việt, tiếng Pháp ở New Caledonia
Sắc tộc có liên quan
Người Kinh - Métis

Chân đăng (tiếng Pháp: travailleurs engagés) là từ dùng để chỉ những người Việt Nam "tham gia dưới dạng khế ước" đến làm việc ở New Caledonia vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 thời Pháp thuộc mà thời đó gọi là Tân Thế giới (Nouvelle-Calédonie) và một phần ở Tân Đảo (Nouvelles-Hébrides, nay là Vanuatu) (nhiều người cũng gọi gộp 2 quần đảo này là Tân Đảo, một số người khác thì lẫn lộn hai tên này với nhau). Từ này nghĩa đen trong tiếng Pháp là "chân tham gia", dùng để chỉ những người có hợp đồng lao động khi họ đến, từ "chân" trong tiếng Việt có một số nghĩa, trong số những nghĩa khác là "chân", "nơi ở" hoặc "việc làm". Cái tên này gợi lại thành ngữ "pieds-noirs" được áp dụng cho những người châu Âu di cư đến Algeria.

Sự xuất hiện của những người Việt Nam đầu tiên ở New Caledonia bắt đầu từ năm 1891. Họ chủ yếu là tù nhân của nhà tù Poulo Condor. Từ năm 1895, việc tuyển dụng được thực hiện trực tiếp tại cảng Hải Phòng. Lực lượng lao động này được thuê theo hợp đồng dài hạn, trong 5 năm được hoàn lại, được hồi hương. Sự xuất hiện của họ tiếp tục cho đến những năm 1930.

Do chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, việc hồi hương bị đình chỉ, tiếp tục nối tiếp vào cuối những năm 1940 nhưng những người còn lại của Chân Đăng phải đợi đến khi chiến tranh Đông Dương kết thúc mới có thể trở về nước. Trong khi đó, tình hình của họ đang thay đổi ở New Caledonia. Từ năm 1945, không hài lòng với điều kiện làm việc của họ và thực tế là chính quyền Pháp không thể cho họ hồi hương, họ tham gia vào các cuộc đấu tranh xã hội bạo lực trong đó họ bày tỏ lòng trung thành với Việt Minh sau đó tham gia vào một cuộc đấu tranh chống thực dân chống lại quân đội Pháp. Sự linh hoạt về mặt xã hội của họ được cải thiện sau khi bãi bỏ quy tắc l'indigénat (bản địa) năm 1946, chính quyền bản địa cho phép họ tiếp cận các nghề trung cấp. Ngay cả trong cộng đồng người Việt, sự ủng hộ Việt-Minh cũng chia rẽ một phần của nhóm, đặc biệt là những người Công giáo có quan điểm chống Cộng.

Trong giai đoạn 1960-64, phần lớn người Việt Nam rời đi, những người ở lại vẫn hòa nhập vào xã hội Caldoche, đặc biệt là thông qua hôn nhân. Con cháu của thế hệ Chân Đăng tiếp tục truyền lại di sản Việt Nam của họ thông qua các sự kiện văn hóa.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Vào cuối thế kỷ 19, tên gọi trên các văn bản để chỉ người Việt Nam thường ghi Tonkinois (người Đông Kinh, Đàng Ngoài), Indochinois (người ở Đông Dương thuộc Pháp nói chung, gồm Lào, Việt Nam, Khơ-me), Annamite (người An Nam), engagé (người được tuyển chọn/tuyển mộ, còn chỉ lính mộ - hàm ý tự nguyện), cu-li (thợ không rành nghề, hàm ý tiêu cực), kẻ làm thuê/mướn - phu (journalier, ouvrier, mercenaire, travailleur...).

Trong các danh từ trên, sau này đặc biệt có cách gọi "chân đăng" dùng để chỉ thế hệ đầu tiên.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyến đầu tiên đưa những người Chân Đăng đến New Caledonia vào năm 1891, trên tàu Chéribon . Đoàn gồm 768 người Việt Nam bao gồm 479 tù nhân lao động khổ sai từ Poulo Condor. Chín mươi sáu người trong số họ chết khi vẫn còn ở bến và những chủ thuê không sẵn lòng thuê vì nguồn gốc của họ[2]. Từ năm 1895, những người phu được tuyển mộ từ Hải Phòng[3]. Hợp đồng của họ có thời hạn 5 năm, gia hạn một lần. Phần lớn họ là người Bắc Kỳ đến từ đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là từ các tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, những khu vực đông dân cư với mức sống rất thấp và nạn đói hoành hành.các công nhân tự do từ Bắc Kỳ được đưa đến đảo Thái Bình Dương, phu mỏ kềncromit còn những người đi Tân Đảo thì thường ký làm phu đồn điền trồng cà phêdừa.

Ở New Caledonia, người Việt Nam cũng như những người làm thuê khác (người Indonesia, người New Hebridians) phải tuân theo chế độ của người bản xứ.[3]. Bị giới hạn trong các lán trại, họ không thể tự do đi lại, việc ở lại Noumea được quy định. Theo bản chất của khế ước, họ không thể phá vỡ những gì đã ký vào giấy[3]. Theo quan điểm của tình trạng này, người Bắc kỳ gọi mình là Chân Đăng (pieds engagé). Ngay sau khi họ đến nơi, mỗi công nhân được cấp một con số mà họ được chỉ định, kể cả trong các tài liệu chính thức, tên của họ được coi là quá khó phát âm[3].

Chiến tranh Đông Dương và hồi hương[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến tranh, các nhà chức trách Pháp đã cho hồi hương những người cầm đầu cuộc bạo loạn vào năm 1946-1947. Từ tháng 8 năm 1947 đến tháng 10 năm 1950, bốn đoàn xe đã đưa 1791 người Việt Nam trở lại đất nước của mình[4].

Tuy nhiên, Chiến tranh Đông Dương và hậu quả khiến Việt Nam bị chia thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòaViệt Nam Cộng hòa tạo ra sự rắc rối về ngoại giao làm trì hoãn việc tiếp tục hồi hương trong vài năm.[4]. Thật vậy, những người phu ở New Caledonia trước đây đến từ Bắc Kỳ, và do đó muốn được hồi hương về miền bắc, trong khi Cộng hòa miền Nam Việt Nam dứt khoát từ chối việc Pháp đàm phán với miền Bắc trong khi chỉ công nhận miền Nam Việt Nam. Trên chính hòn đảo này, các tổ chức địa phương, hiệp hội những người phu Việt Nam và chính phủ Caledonian cùng thúc đẩy giải quyết vấn đề[4].

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc kịch South Pacific phỏng theo tập truyện giành Giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu có một câu chuyện về một mối tình giữa một Đại úy Hải quân Hoa Kỳ và một cô gái chân đăng Bắc Kỳ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thomson, Virginia. French Indochina. New York: Octagon Books, 1968.
  1. ^ Totalité de ceux se présentant comme « Vietnamiens » au recensement de 2009.
  2. ^ (Frédéric Angleviel 2000)
  3. ^ a ă â b (Christiane Bougerol 2010)
  4. ^ a ă â (Mohamed-Gaillard 2007)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]