Chân Dung Tông Diễn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Thiền Sư Chân Dung Tông Diễn (1640 – 1711),(真融宗演) hiệu Như Hùng là Tổ thứ 2 của Thiền phái Tào Động Việt Nam(zh. cáo-dòng-zōng 曹洞宗).Sư từng tham thiền tu đạo với Thiền Sư Thông Giác Thủy Nguyệt và nối pháp vị này, sư là trụ trì đời thứ 2 chùa Hòe Nhai-Hồng Phúc Tự ở Ba Đình, Hà Nội. Sư có công lớn trong việc phát triển thiền phái Tào ĐộngMiền Bắc Việt Nam và cũng là người đã ghóp sức vào việc phát triển phật giáo nước ta lúc bấy giờ. Sư là đời thứ 32 Tông Tào Động, môn đệ có nhiều vị kiến tính, nổi bật nhất là Từ Sơn Hành Nhất.

Tiểu Sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sư sinh năm 1640, quê sư có thể ở làng Phú Quân, huyện Cẩm Giang. Cha mất sớm, sư sống với mẹ. Mẹ sư tần tảo bán buôn nuôi sư. Khi sư 12 tuổi, trong một lần sư vì trái ý nên bị mẹ đánh. Sợ quá sư chạy khỏi nhà.. Sư gặp được một sư cụ và được vị này đem về chùa làm sa di, đặt pháp danh cho xuất gia.

Sau này khi đã hơn tứ thập, đang trụ trì một chùa nọ. Sư bỗng nhớ về mẹ xưa. Sư bèn về quê tìm kiếm, gặp được một bà cụ , dò hỏi thì biết bà chính là mẹ mình nhưng sư không nói ra thân phận.

Sư mời bà về chùa, lập am cho bà tu. Rồi sư lại dạy bà tụng kinh, niệm phật,làm công quả. Sư thường ân cần thăm hỏi bà rất chu đáo.

Sau này khi bà già yếu,sắp xả bỏ thân tàn, Sư vì có việc phải đi nên dặn tăng chúng khi bà mất nhớ làm hậu sự chu đáo cho bà. Sau khi sư về mới đóng nắp quan tài lại.

Ba hôm sau thì bà cụ mất. Lúc sư về liền vào nơi đặt quan bà cụ. Sư cầm tích trượng gõ vào quan tài 3 cái rồi hô to "Như lời Phật dạy: Một người tu hành ngộ đạo cha mẹ sinh thiên, nếu lời ấy không ngoa xin cho quan tài bay lên hư không để chứng minh lời Phật". Quan tài bà cụ bay lên hư không rồi từ từ hạ xuống mặt đất. Nhân đây mọi người biết chuyện vỡ lẽ , ai cũng cảm phục lòng hiếu thảo với mẹ khó nói của sư.

Hồng Phúc Phổ Hệ tán thán sư: “Diêu văn Đại Thánh Sư, thần đức nan tuyên giả, chỉ tích mẫu quan phi, niệm kinh Bảo Liên Hoa, đầu đơn đế nhãn minh, tiến ngọc quân vương tạ...”

Sau này, chỗ quán bán trà của mẹ, Sư lập một ngôi chùa tên “Mại Trà Lai Tự” ở thôn Phú Quân, huyện Cẩm Giang. Am bà ở để tên là “Dưỡng Mẫu Đường” ở phủ  Vĩnh An.

Kệ tán thán sư “Dưỡng Mẫu Đường linh thế thái vĩnh trường khan,

            Vọng Mẫu tháp trí trà lai nhân tịnh đổ.”

         Nghĩa là “Dưỡng Mẫu Đường khiến người đời mãi nhớ,

           Vọng mẫu tháp trí trà lai mọi người thấy.”

Câu chuyện về lòng hiếu thảo của sư đã được đi vào sử sách. Có nhiều tác phẩm cải lương, kịch đã tái hiện lại điều này.

Cơ Duyên Ngộ Đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Khi sư đang trụ trì chùa ở Đông Sơn thì nghe tin Thiền Sư Thông gIác Thủy nguyệt vừa đắc đạo bên Trung Quốc trở về nước hoằng pháp Thiền Tào Động ở trên Chùa Vọng Lão núi Yên Tử. Sư liền lên núi yết kiến tổ Thông Giác. Cơ duyên được ghi lại như sau

'' Thiền Sư Thông Giác hỏi :Như khi ta đang nghỉ, đợi đến bao giờ có tin tức ?

Sư đáp: Đúng ngọ thấy bóng tròn, giờ dần mặt trời mọc.

Thông Giác hỏi: - Bảo nhậm thế nào?

Sư đáp kệ: Cần có muôn duyên có

Ưng không tất cả không

Có không hai chẳng lập

Ánh nhật hiện lên cao

Tổ bước xuống bảo : Tào Động hợp quần thần(Động Sơn Ngũ Vị), tiếp nối dòng chính pháp tông ta, nên cho ngươi pháp danh là

Tông Diễn. ''

Và bài kệ truyền pháp :

'' Tất cả pháp chẳng sinh

Tất cả pháp chẳng diệt

Phật phật tổ tổ truyền

Uẩn không sen đầu lưỡi ''

Từ đó sư luôn bên cạnh Thiền sư Thông Giác vừa hầu hạ vừa tham vấn Thầy. Sau Thiền Sư Thông Giác rời về Chùa Hạ Long, sư cũng theo thầy. Ban ngày sư đi khuyến hóa đem cúng dường chư tăng trong chùa. Ban đêm sư tham vấn nghĩa huyền nơi Thiền Sư Thông Giác, siêng năng tọa thiền nhiều đêm không đặt lưng xuống giường.

Năm 32 tuổi sư được thọ giới Cụ-túc. Rồi rời thầy đi tham vấn các nơi.

Hoằng Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm niên hiệu Vĩnh Trị (1678), vua Lê Hy Tông đề cao Nho Giáo, Phật Giáo gặp kiếp nạn. Các tăng ni bị đuổi về chốn núi rừng, Sư thấy thế , bèn lên đường vào cung để giải pháp nạn cho tăng ni.

Sư viết sớ dâng lên vua. Trình bày ý nghĩa thâm sâu của phật pháp, vai trò phật giáo đối với nhân dân. Vua đọc thấy nghe lý lẽ hợp tình thấu đáo. Liền ra chiếu cho phép tăng ni trở lại chùa tu hành. Từ đó tiếng tăm sư càng vang xa, sư nhiều lần được vua mời vào cung thuyết pháp.

Rồi sư về lại chùa Hạ Long, Hải Dương thăm thầy. Gặp nhau trò chuyện rất hoan hỷ.

Rồi sư lên kinh lại. Sư đến chùa Báo Thiên khắc in kinh Hoa Nghiêm để ở chùa Báo Thiên, khắc bản kinh Pháp Hoa in chùa Khán Sơn. Sư đứng ra tu sửa chùa hòe nhai và xây thêm chùa cầu đông.

Sư ở lại trụ trì chùa Hòe Nhai-Hồng Phúc, thường thuyết pháp giàng Thiền độ chúng tu học khiến chùa Hòe Nhai trở thành tổ đình Tông Tào Động Việt nam.

Sắp đến lúc thị tịch sư gọi đệ tử nổi pháp là Từ Sơn Hành Nhất đến và thuyết rằng :

Rồi bài kệ truyền pháp :

"Xuân đến hoa chớm nở

Thu về lá vàng rơi

Đầu càng sương lóng lánh

Cánh hoa tuyết rạng ngời

Buổi sáng trời trong rồng bảy vảy

Ngày trưa mây trắng voi hiện hình

Vằn cọp tuy thấy một

Bầy phụng thể toàn đồng

Đạt Ma qua đông truyền pháp gì?

Cành lau qua biển nổi phau phau"

Thuyết pháp xong, Sư bảo: "Báo thân của ta đến đây đã hết." Rồi sư ngồi kiết già trên thiền sàng an nhiện thị tịch . Bấy giờ là ngày 16 tháng 7 năm Tân Sửu nhằm niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ năm (1711) triều Lê Dụ Tông, Sư thọ bảy mươi hai tuổi. Đệ tử làm lễ hỏa táng xong, thu xá-lợi xây tháp ở Đông Sơn để thờ. Nay tháp mộ của sư còn một ở chùa Nhẫm Dương, một ở chùa Hòe Nhai hà nội.

Tham Khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thiền Sư Việt Nam-Hòa Thượng Thích Thanh Từ biên soạn.
  • Kế Đăng Lục- Thiền Sư Như Sơn biên soạn.
  • Tào Động Nam Truyền Tổ Sư Ngữ Lục.