Chân Yết Thanh Liễu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Dị Thiền Sư

Chân Yết Thanh Liễu (Trung: 真歇清了; Hán âmZhēnxiē QīngliăoNhật: Shinketsu Seiryō9),(1089-1153), là một vị thiền sư Trung Hoa, nối pháp thiền sư Đan Hà Tử Thuần, Tào Động tông. Sư cùng với huynh đệ là thiền sư Hoằng Trí cùng nhau tích cực đề xướng Mặc Chiếu Thiền. Sư là người đã viết Tín Tâm Minh Niêm Cố để  đáp lại sự chê trách của Thiền sư Đại Huệ.

Cơ duyên và hàng trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Thiền sư Chân Yết Thanh liễu

Thiền sư Chân Yết Thanh Liễu họ Ung, người Tả Miên. Thuở nhỏ được bế vào chùa, sư thấy Phật liền mỉm cười rạng rỡ trên khoé mắt. Thấy thế, mọi người đều quý trọng sư. Năm 18 tuổi, sư được xuất gia qua lần thi kinh Pháp hoa.

Rồi sư đến tham học với Thiền sư Đan Hà Tử Thuần và được ngộ đạo. Sự ngộ đạo của sư được ghi lại trong công án sau:

" Một hôm, ngài đến gõ cửa hoà thượng Đan Hà. Đan Hà hỏi: Trước kiếp không, ta là ai? Sư định trả lời thi Đan Hà nói: Ông ồn ào quá, xéo đi ngay! Một hôm, sư lên núi Bát Vu, bỗng nhiên khế ngộ thiền chỉ, liền theo lối tắt trở về, đứng hầu cạnh hoà thượng Đan Hà. Đan Hà vung tay tát cho một cái rồi nói: Ta tưởng ông đã biết rồi chứ!

Sư vui mừng đảnh lễ.Sau đó, sư thượng đường nói: Hôm nay, ta bị một tát của tiên sư, bao nhiêu chữ  nghĩa đều trốn hết, tìm một lời cũng không ra. "

Sau sư đi dạo Ngũ Đài Sơn, Kinh Sư, Phù Biện, thẳng đến Trường Lô yết kiến Thiền sư Tổ Chiếu. Đến cuối niên hiệu Kiến Viêm (1127), Sư đến Tứ Minh, trụ Phổ Đà, Thiên Phong ở Thai Châu, Tuyết Phong ở Mân. Vua ra chiếu mời sư trụ trì chùa Dục Vương, kế chùa Long Tường ở Ôn Châu, chùa Từ Ninh Cảnh Sơn ở Hàn Châu. Hoàng thái hậu mời khai sơn chùa Sùng Tiên ở Cao Ninh.

Về sau, sư an nhiên thị tịch ở Sùng Tiên Cao Ninh, trụ thế 63 năm, tháp được an trí ở đảo Hoa Tương phía tây của chùa, vua ban hiệu là Ngộ Không Thiền Sư

Sư có để lại cuốn "Chân Yết Thanh Liễu Thiền Sư ngữ lục"(真歇清了禪師語錄: 2 quyển).

Pháp ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

"Sư thượng đường: Rêu phong lối cũ chẳng rơi hư ngưng, mù phủ rừng xanh nhận bày phong yếu, kim móc kín đáo, ai bảo ông chài về tổ, chỉ thế thừa đương, chính là bình thường sống thích lại có người đủ con mắt thấu cổng chăng? Sư im lặng giây lâu nói: - Dù cho sớm nghe liền trở về, đâu bằng từ lâu chẳng ra cửa."

"Chợt mưa chợt tạnh chợt lạnh chợt nóng, cái của Sơn tăng thì Sơn tăng tự biết, cái của quí vị thì quí vị tự nói. Hãy nói miệng của Tuyết Phong (Sư) trừ ngoài ăn cơm cần làm gì?"

"Thân không huyễn hóa tức pháp thân. Sư múa bảo: - Thấy chăng? Thấy chăng? Thế ấy thấy được ?qua cầu thôn rượu quí?. Sư múa bảo: - Thấy chăng? Thấy chăng? Thế ấy chẳng thấy? cách bờ hoa rừng thơm?."

" Tột nhiệm tan gốc, thể diệu mất tông, một câu đứt dòng, sâu huyền cùng tột, bởi vì chỗ kín kim vàng chẳng bày sáng nhọn chỉ ngọc xuyên qua thầm bày sắc lạ. Tuy nhiên như thế vẫn là xen lẫn hai sáng, hãy nói chỗ khéo vụng chẳng đến làm sao hiểu nhau? Sư im lặng giây lâu nói: - Mây thưa soi thấu xanh mờ nhạt, cây núi thấp cao khóa biếc sâu."

"Chuyển công đến vị là người nhằm đi, ngọc ẩn Kinh Sơn quí. Chuyển vị đến công là người trở lại, lò hồng mảnh tuyết xuân. Công vị đều chuyển, khắp thân chẳng kẹt, buông tay quên áo, gái đá đêm lên máy, thất kín không người quét. Chính khi ấy bặt khí tức một câu làm sao hiểu nhau? Sư im lặng giây lâu nói: - Về cội gió rơi lá, soi tột trăng đầm không."

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thiền sư Trung Hoa(tập 1,2,3)- Thích Thanh Từ biên dịch.
  • Phật Tổ Đạo Ảnh- Hòa Thượng Hư Vân và Tuyên Hóa biên soạn.
    • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
    • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.