Chính Hữu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Chính Hữu (15 tháng 12 năm 1926[1] - 27 tháng 11 năm 2007[2]), tên thật là Trần Đình Đắc, là một nhà thơ Việt Nam, nguyên Đại tá, Phó cục trưởng cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục chính trị, Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Phó tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam. Ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn họcnghệ thuật lần hai (năm 2000).

Tiểu sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh tại Vinh (Nghệ An). Nguyên quán của ông là huyện Can Lộc (nay là huyện Lộc Hà), tỉnh Hà Tĩnh. Ông học tú tài (triết học) ở Hà Nội trước cách mạng tháng Tám. Năm 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ Đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Phápkháng chiến chống Mỹ. Ông còn làm chính trị viên đại hội (chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954). Ông làm thơ từ năm 1947 và hầu như chỉ viết về người lính và chiến tranh. Tập thơ Đầu súng trăng treo (1966) là tác phẩm chính của ông. Bài thơ "Đồng chí" được in vào tháng 2-1948. Thơ ông không nhiều nhưng lại có nhiều bài đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc, hàm súc. Ông đã sáng tác bài thơ "Đồng chí" mà sau này đã được phổ nhạc cho bài hát "Tình đồng chí". Bài hát đã khơi dậy những xúc động mãnh mẽ trong lòng nhiều thế hệ.

Vào 00 giờ 27 phút ngày 27 tháng 11 năm 2007, gia đình vô cùng thương tiếc báo tin ông đã qua đời tại bệnh viện Hữu Nghị thành phố Hà Nội.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đầu súng trăng treo (tập thơ, Nhà xuất bản Văn học, 1966), 24 bài
  • Thơ Chính Hữu (tập thơ, Nhà xuất bản Hội nhà văn, 1997)
  • Tuyển tập Chính Hữu (Nhà xuất bản Văn học, 1998)

Ngoài bài thơ Đồng chí được nhạc sĩ Minh Quốc phổ nhạc, một số bài thơ khác của ông cũng là nguồn cảm hứng cho các nhạc sĩ khác sáng tác các bài hát nổi tiếng như bài "Ngọn đèn đứng gác" (nhạc sĩ Hoàng Hiệp), "Bắc cầu" (nhạc sĩ Quốc Anh), "Có những ngày vui sao" (nhạc sĩ Huy Du) [3].

Một số trích đoạn nổi tiếng:

Bài Ngày về:
Có đoàn người lên đóng trên rừng sâu
Đêm nay mơ thấy trở về Hà Nội
Bao giờ trở lại ?
Phố phường gạch ngói ngang đường
Ôi hôm nay họ nhớ mái nhà hoang
Bức tường điêu tàn ngày xưa trấn ngự
Nhớ đêm ra đi, đất trời bốc lửa
Cả kinh thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Mái đầu xanh thề mãi đến khi già
Phơi nắng gió. Và hoa ngàn cỏ dại
Nghe tiếng gọi của những người Hà Nội
Trở về,trở về, chiếm lại quê hương
Nguy nga sao cái buổi lên đường
Súng chuốt gươm lan, mắt ngời sáng quắc
A ha ! Nhà xiêu mái sập
Xác oan cừu ngập lối chân đi
Gạch ngói xưa mừng đón gót lưu ly
Bước căm giận xéo quân thù lớp lớp
Mịt mù khói ngợp
Cờ máu huy hoàng
Phất nắng
Ôi bài chiến thắng reo vang


Bài Đồng chí:
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Đồng chí
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.


Ý nghĩa nhan đề “Đồng chí” – Chính Hữu (1948) - Đồng chí là cách gọi khái quát về tình đồng đội gắn bó keo sơn, thiêng liêng và nghĩa tình. - Đồng chí là những con người cùng chung lý tưởng, chí hướng, cùng làm một đơn vị, cơ quan. - Từ khái niệm trên cùng sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân, cùng chung lý tưởng bảo vệ Tổ quốc, những người lính từ những phương trời xa lạ tập hợp và tình đồng chí đến với họ là một điều tất yếu. - Đó là chủ đề của bài thơ, nên tác giả đặt tên cho bài thơ là “Đồng chí”.

" Nước mặn đồng chua " gợi tả 1 vùng quê đồng bằng ven biển quanh năm ngập mặn chua phèn.

" Đất cày lên sỏi đá " gợi tả 1 vùng đất trung du đồi núi, đất đai cằn cỗi bạc màu.

Mượn thành ngữ trên để nói về làng quê, nơi chôn rau cắt rốn của những người chiến sĩ.

" Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá"

2 miền quên trên tuy khác nhau nhưng đều khó khăn, nghèo túng.

"Anh với tôi đôi người xa lạ" người chiến sĩ sống ở những miền quê khác nhau hội tụ ở chiến khu Việt Bắc đều là những người chưa hề quen biết .

"Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau" ở chiến khu họ chiến đấu cùng nhau, điều ấy đã gắn kết tình bạn của họ.

"Súng bên súng, đầu sát bên đầu" tượng trưng cho hành động cùng tham gia kháng chiến, đánh giặc bảo vệ quê hương. 

                                                   cùng chung lí tưởng, mục đích chiến đấu.

"Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ" người chiến sĩ chiến đấu chung một chiến hào, cùng đắp chung một chiếc chăn mỏng giữa đêm rừng . Điều ấy đã gắn kết họ lại với nhau thành đôi tri kỉ.

"Đồng chí !" là cách xưng hô của những người lính, thể hiện tình đoàn kết, sẵn sàng hi sinh vì nhau.





Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]