Chính phủ Ba Lan lưu vong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Chính phủ Ba Lan lưu vong, chính thức được gọi là Chính phủ Cộng hòa Ba Lan lưu vong, là chính phủ lưu vong Ba Lan được hình thành sau cuộc xâm lược Ba Lan tháng 9 năm 1939, và sự chiếm đóng của Ba Lan bởi Đức quốc xã và Liên bang Xô viết, đã chấm dứt Cộng hòa Ba Lan lần thứ hai.

Bất chấp sự chiếm đóng Ba Lan bởi các thế lực thù địch, chính phủ lưu vong đã có ảnh hưởng đáng kể ở Ba Lan trong Chiến tranh thế giới thứ II thông qua các cấu trúc của Nhà nước ngầm Ba Lan và quân đội Armia Krajowa. Ở nước ngoài, dưới quyền của chính phủ lưu vong, các đơn vị quân đội Ba Lan thoát khỏi cuộc chiếm đóng đã chiến đấu dưới quyền chỉ huy của họ như là một phần của các lực lượng Đồng Minh ở Châu Âu, Châu Phi và Trung Đông.

Sau chiến tranh, khi lãnh thổ Ba Lan nằm dưới sự kiểm soát của nước Cộng hòa Nhân dân Ba Lan, một nhà nước vệ tinh Xô viết, chính phủ lưu vong vẫn tồn tại, mặc dù phần lớn không được công nhận và không có quyền lực hữu hiệu. Chỉ sau khi Cộng sản sụp đổ ở Ba Lan, chính phủ lưu vong chính thức chuyển giao trách nhiệm của mình cho chính phủ mới của Cộng hòa Ba Lan Ba ​​Lan vào tháng 12 năm 1990.

Chính phủ lưu vong đã có trụ sở tại Pháp trong những năm 1939 và 1940, lần đầu tiên ở Paris và sau đó ở Angers. Từ năm 1940, sau sự sụp đổ của Pháp, chính phủ chuyển tới Luân Đôn và ở lại Vương quốc Anh cho tới khi giải thể vào năm 1990.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 9 năm 1939, Tổng thống nước Cộng hoà Ba Lan, Ignacy Mościcki, người đang ở thị trấn nhỏ Kuty (nay là Ukraina)[1][2][3] gần biên giới phía nam Ba Lan, đã đưa ra tuyên bố về kế hoạch của ông chuyển giao quyền lực và chỉ định Władysław Raczkiewicz, Marshal của Thượng viện, là người kế nhiệm ông.[1][2][4][5] Điều này đã được thực hiện theo Điều 24 [4][5] của Hiến pháp của Cộng hòa Ba Lan, được thông qua vào tháng 4 năm 1935,[4][6] được quy định như sau:

Trong trường hợp chiến tranh, nhiệm kỳ của chức vụ Tổng thống sẽ kéo dài đến ba tháng sau khi kết thúc hòa bình; thì Tổng thống sau đó sẽ thông qua một đạo luật đặc biệt được công bố trong Công báo, chỉ định người kế nhiệm ông, trong trường hợp văn phòng bỏ trống trước khi kết thúc hoà bình. Nếu người kế nhiệm Tổng thống nắm giữ chức vụ, nhiệm kỳ của ông sẽ chấm dứt vào cuối ba tháng sau khi kết thúc hòa bình.

Mèocicki đã từ chức. Cho đến ngày 29 tháng 6 hoặc 30 [6] or 30th[4][5][7] tháng 9 năm 1939 Mościcki từ chức. Raczkiewicz, người đã ở Paris, ngay lập tức đã tuyên thệ hiến pháp tại Đại sứ quán Ba Lan và trở thành Tổng thống của Cộng hòa Ba Lan. Sau đó, ông chỉ định Tướng Władysław Sikorski làm Thủ tướng,[7][8] và sau khi Edward Rydz-Śmigły bước xuống, đã làm Sikorski Tổng tư lệnh của Lực lượng Vũ trang Ba Lan.[8][9]

Hầu hết hải quân Ba Lan trốn sang Anh,[10] và hàng chục ngàn lính và người lính Ba Lan chạy thoát qua Hungary và Romania hoặc qua biển Baltic để tiếp tục cuộc chiến tại Pháp.[11] Nhiều người Ba Lan sau đó đã tham gia vào các hoạt động đồng minh ở Na Uy (Narvik[12]), France, the Battle of Britain, the Battle of the Atlantic, North Africa (notably Tobruk[13]), Pháp, Trận chiến Anh, Trận Đại Tây Dương, Bắc Phi (đặc biệt là Tobruk [13]), Ý (đặc biệt là tại Cassino và Ancona), Arnhem, Wilhelmshaven và những nơi khác bên cạnh các lực lượng Đồng Minh khác. Các công dân Ba Lan bị giam giữ trong các trại của Liên Xô được thả ra theo Thỏa thuận Sikorski-Mayski để hình thành các đơn vị quân đội có thể chiến đấu với Đức quốc xã theo lệnh Đồng Minh. (Quân đội Berling được hình thành ở Liên Xô năm 1944 cùng chiến đấu và dưới sự chỉ huy của Liên Xô).

Lịch sử chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Władysław Sikorski, thủ tướng đầu tiên chính phủ lưu vong Ba Lan
"Cuộc tàn sát người Do Thái ở Ba Lan bị chiếm đóng ", bởi chính phủ Ba Lan lưu vong gửi cho các đồng minh của Chiến tranh Thế giới lần thứ hai về các tuyên bố của Liên Hiệp Quốc lúc đó, 1942

Chính quyền Ba Lan lưu vong, đặt căn cứ ở Paris, rồi ở Angers, Pháp,[14] nơi Władysław Raczkiewicz sống ở Château de Pignerolle gần Angers từ ngày 2 tháng 12 năm 1939 đến tháng 6 năm 1940.[15] Thoát khỏi Pháp, chính phủ chuyển đến Luân Đôn, nó được công nhận bởi tất cả các chính phủ liên minh. Về mặt chính trị, nó là liên minh của Đảng Nông dân Ba Lan, Đảng Xã hội Ba Lan, Đảng Lao động và Đảng Quốc gia, mặc dù các đảng này chỉ duy trì sự tồn tại có tính vật chất trong hoàn cảnh chiến tranh.

Khi Đức khởi xướng một cuộc chiến chống lại Liên Xô vào năm 1941, chính phủ Ba Lan lưu vong thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên bang Xô viết chống lại Hitlerism, nhưng cũng để giúp người Ba Lan bị bức hại bởi NKVD [16][17]. Ngày 12 tháng 8 năm 1941, Kremlin đã ký một lần ân xá, kéo dài đến hàng ngàn lính Ba Lan, những người bị bắt giam vào năm 1939 do Hồng quân ở miền đông Ba Lan, trong đó có nhiều tù nhân dân sự Ba Lan và bị trục xuất ở Siberia.[18] Sự ân xá cho phép Ba Lan tạo ra tám sư đoàn quân được gọi là quân đội Anders. Họ đã được di tản đến Iran và Trung Đông, nơi họ đang rất cần thiết của người Anh, khó khăn bởi Afrika Korps của Rommel. Những đơn vị Ba Lan này đã tạo cơ sở cho Quân đoàn Ba Lan Ba Lan, dẫn đầu bởi Tướng Władysław Anders, cùng với các đơn vị Ba Lan khác đã được tạo ra trước đó đã chiến đấu bên cạnh các đồng minh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Count Edward Raczynski In Allied London Weidenfeld and Nicolson 1962 Page 39
  2. ^ a ă Editor Waclaw Jedrzejewicz Poland in the British Parliament 1939-1945 Volume I Jozef Pilsudski 1946 Page 317
  3. ^ John Coutouvidis & Jamie Reynolds Poland 1939-1947 ISBN 0-7185-1211-1 Page 20
  4. ^ a ă â b Jozef Garlinski Poland in the Second World War, ISBN 0-333-39258-2 Page 48
  5. ^ a ă â Editor Waclaw Jedrzejewicz Poland in the British Parliament 1939-1945 Volume I Jozef Pilsudski 1946 Page 318
  6. ^ a ă Editor Peter D. Stachura Chapter 4 by Wojciech Rojek The Poles in Britain 1940-2000 ISBN 0-7146-8444-9 Page 33
  7. ^ a ă Johbjkuinhojvn Coutouvidis & Jamie Reynolds Poland 1939-1947 ISBN 0-7185-1211-1 Page 26
  8. ^ a ă Editor Kieth Sword Sikorski: Soldier and Statesman ISBN 0-901149-33-0
  9. ^ Jozef Garlinski Poland in the Second World War, ISBN 0-333-39258-2 Page 49
  10. ^ Jozef Garlinski Poland in the Second World War, ISBN 0-333-39258-2 Pages 17-18
  11. ^ Jozef Garlinski Poland in the Second World War, ISBN 0-333-39258-2 Page 55-56
  12. ^ The Poles on the Battlefronts of the Second World War Bellona 2005 Page 29
  13. ^ The Poles on the Battlefronts of the Second World War Bellona 2005 Page 37
  14. ^ Jozef Garlinski Poland in the Second World War, ISBN 0-333-39258-2 Page 81
  15. ^ “Pignerolle dans la Seconde Guerre mondiale”. 
  16. ^ Stanislaw Mikolajczyk The Pattern of Soviet Domination Sampson Low, Marston & Co 1948 Page 17
  17. ^ Wojciech Roszkowski The Shadow of Yalta ISBN 83-60142-00-9 Page 27
  18. ^ Stanisław Mikołajczyk (1948). The Pattern of Soviet Domination. Sampson Low, Marston & Co. tr. 19, 26. OCLC 247048466.