Chó Alano Español

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chó Alano Español
Alano-espanol-0003.jpg
Tên khác Chó Alano Tây Ban Nha
Chó Bulldog Tây Ban Nha
Biệt hiệu Alano
Nguồn gốc Tây Ban Nha
Đặc điểm
Nặng 75–88 pound (34–40 kg)
Cao Đực 23–25 inch (58–64 cm)
Cái 22–24 inch (56–61 cm)
Bộ lông Ngắn và dày
Màu trộn của nhiều màu, leonardo (màu nâu vàng), đen và nâu
Tuổi thọ 11-14 năm
Ghi chú
Chó Alano Español đã được công nhận chính thức tại Tây Ban Nha, Real Sociedad Canina de España, CLB chó tại Tây Ban Nha

Chó Alano Español, đôi khi được gọi là chó Bulldog Tây Ban Nha (mặc dù dịch chính xác sẽ là chó Alaunt Tây Ban Nha), là một giống chó lớn của loại chó Molosser, có nguồn gốc ở Tây Ban Nha. Loài chó này nổi tiếng với việc sử dụng nó để nhử mồi trong các trận đấu bò Tây Ban Nha trước đây.

Ngoại hình[sửa | sửa mã nguồn]

Chó Alano Español là một loài chó rất lớn của chó Molosser, với một cái đầu to, mạnh mẽ. Con đực có chiều cao tới vai tối thiểu 58 cm (23 in), và cân nặng cỡ 34–40 kg (75-88 lb). Con cái có các thông số hơi nhỏ hơn.

Loài chó này có bộ lông ngắn và dày nhưng không bao giờ mượt mà, và thường có màu kết hợp của nhiều màu khác nhau; leonardo (màu nâu vàng), đen và nâu. Ngực thường có màu trắng trộn với các màu khác nhưng màu trắng hoàn toàn thì không có. Khuôn mặt có thể có hoặc không có lớp da đen trên mặt.[1]

Loài chó này có mõm ngắn với hàm dưới hơi lõm, và có một cái mũi to, rộng, màu đen. Tai được đặt cao và có thể cụp hoặc cắt ngắn. Da rất dày, với nếp gấp cổ và một số nếp nhăn trên mặt.[2]

Mặc dù đôi khi nó được gọi là Bulldog Tây Ban nha, chó Alano không phải là chó bulldog: nó không bao giờ có một mõm phẳng hoặc có hàm thực sự dài. Tỷ lệ hộp sọ-mặt thường là 65:35, có nghĩa là loài chó này có mõm dài hơn đáng kể so với chó Boxer.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tên của giống chó này xuất phát từ bộ lạc người Alani của Iran, những người du mục chăn nuôi đến Tây Ban Nha như là một phần của giai đoạn di cư vào thế kỷ thứ 5. Những người này thường nuôi những con chó bảo vệ gia súc lớn và những con chó săn đã trở thành cơ sở cho nhiều loại chó Alaunt trong khu vực. Tài liệu tham khảo chính thức đầu tiên về giống ở Tây Ban Nha nằm trong một chương của cuốn sách "Hướng dẫn đi săn của Alfonso XI" thế kỷ 14 (Libro de la Montería de Alfonso XI), trong đó chó săn gọi là chó Alani được mô tả là có màu sắc đẹp.[4]

Chó loài này đã đi cùng với những người thám hiểm Tây Ban Nha và được sử dụng làm chó chiến tranh (như vai trò của chúng trong Eurasia trước khi di cư) trong việc chinh phục người da đỏ (người Mỹ bản địa), cũng như trong việc bắt giữ nô lệ.[5]

Việc sử dụng những con chó này trong các cuộc đấu bò đã được Francisco de Goya ghi lại trong loạt tranh La Tauromaquia năm 1816.[6] Ngoài ra chó Alano Español còn được dùng trong các cuộc đi săn lợn rừng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Spanish standard, page 4
  2. ^ Spanish standard, page 2
  3. ^ Jarén Nebot, Manuel (2001). Alano Español (ấn bản 1). Torredonjimeno: Editorial Jabalcuz. tr. 121. ISBN 84-95233-24-X. 
  4. ^ Alano Español in El Mundo del Perro Magazine, retrieved 23/02/2009
  5. ^ Derr, Mark (2004). A Dog's History of America. North Point Press. tr. 23–45. ISBN 978-0-86547-631-8. Tóm lược dễ hiểu. 
  6. ^ La Tauromaquia
    25, "Echan perros al toro" They Loose Dogs on the Bull