Chó săn gấu Karelia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chó săn gấu Karelia
Karelski pies na niedźwiedzie sylwetka.JPG
Chó săn gấu Karelia trưởng thành
Tên khác Karjalankarhukoira
Karelsk Björnhund
Nguồn gốc Phần Lan
Đặc điểm
Nặng 23-23 kg
Cao Đực 54-60 cm
Cái 49-55 cm
Màu chủ yếu là đen và trắng

Chó săn gấu Karelia (tiếng Anh: Karelian Bear Dog, tiếng Phần Lan: Karjalankarhukoira) là một giống chó Phần Lan[1]. Ở đất nước của nó, nó được coi là một kho báu quốc gia. Chó săn gấu Karelia là một giống chó săn. Phản xạ nhanh chóng của nó và bản chất không sợ hãi đã làm cho nó rất phổ biến cho việc săn bắn các động vật như gấu, nai sừng tấm, heo rừng. Nó có khả năng chống lại con gấu và mang tên giống của nó

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo hồ sơ khảo cổ học, chó săn gấu Karelia rất giống với Russo-European Laika hiện đại và nó tồn tại ở đông bắc châu Âu và Scandinavia kể từ thời đồ đá mới. Tiêu chuẩn giống cho chó săn gấu Karelia và Laika ngày nay là đen trắng, nhưng ban đầu giống chó này bao gồm những cá thể có lớp lông màu xám sói với nhiều sắc thái khác nhau, bộ lông màu đỏ giống như chó đuôi cuộn và màu đen và nâu.

Chó săn gấu Karelia được sử dụng chủ yếu để săn bắt những con thú nhỏ có lông, như sóc and chồn marten. Giống như chó săn hươu Na Uy, Chó săn gấu Karelia cũng được sử dụng để săn lùng nai sừng tấm, linh miêu, sói và săn gấu nâu Á Âu.

Chó săn gấu Karelia đã được sử dụng để kiểm soát gấu tại các vườn quốc gia ở YosemiteGlacier và với Washington State Department of Fish and Wildlife.[2] Chó săn gấu Karelia được giới thiệu vào năm 2004 ở Karuizawa, Nhật Bản, một thị trấn nghỉ mát nổi tiếng cách thủ đô Tokyo khoảng 170 km, nơi chúng giảm số vụ gấu tấn công từ 255 năm 2006 xuống còn 4 trong năm 2017.[3]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại hình[sửa | sửa mã nguồn]

Con đực có chiều cao 54–60 cm ở các vai; con cái là 49–55 cm. Cả hai đều nặng 20–23 kg.

Chó săn gấu Karelia có một lớp lông bảo vệ thẳng, cứng và một lớp lông mịn, mềm, dày. Bộ lông có màu đen với các mảng màu trắng. Tỷ lệ phần trăm màu là khoảng 70% màu đen và 30% màu trắng. Giống này có đuôi rậm rạp uốn lượn thành một vòng tròn ở phía sau và đầu đuôi trắng. Chó săn gấu Karelia thuần chủng có đuôi cong chứ không phải hình lưỡi liềm.

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Chó săn Gấu Karelian lý tưởng có đôi mắt sáng và thông minh.

Chó săn gấu Karelia thường hung hãn đối với những con chó khác. Việc xã hội hóa và huấn luyện đúng là cần thiết cho giống chó này.

Chúng là những người con chó săn bắt lặng lẽ nhưng ngoan cường và chỉ cảnh giác khi có con mồi. Chúng sẽ giữ con mồi dồn vào đó bằng cách sủa và chạy qua lại xung quanh con mồi cho đến khi người xử lý chúng.

Chúng không luôn luôn săn bắt với chủ của chúng, vì chúng được huấn luyện để làm việc với những người khác. Tuy nhiên, chúng có xu hướng tách sự lo lắng do bản chất xã hội của chúng. Một con chó săn gấu Karelia có thể cắn một con người và nó có thể giết chết một con vật khác nếu nó cảm thấy bị đe dọa.

Chúng là những con chó săn rất thích môi trường ngoài trời, và cần nhiều không gian để chạy tự do và tập luyện nhiều. Ngoài ra, chúng cần kích thích tinh thần và thể chất nhiều, vì giống chó này được sử dụng để làm việc.

Chó săn gấu Karelia hay bảo vệ lãnh thổ của mình và sẽ cảnh báo chủ của chúng khi bất kỳ người lạ hoặc động vật nào khác gần đó.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]