Chùa Ông (Nghĩa An Hội Quán)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nghĩa An hội quán.jpg

Chùa Ông (còn gọi là miếu Quan Đế hay Nghĩa An Hội Quán); hiện tọa lạc tại số 676 đường Nguyễn Trãi, thuộc phường 11, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Đây không chỉ là nơi chiêm bái của người Hoa gốc Triều Châu ở vùng Sài Gòn, mà còn là một công trình có giá trị về kiến trúc và nghệ thuật ở nửa cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20. Vì vậy, ngày 7 tháng 11 năm 1993, Bộ Văn hóa - Thông tin đã ký quyết định số 43-VH/QĐ công nhận ngôi miếu là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

Tên gọi, lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong miếu, vị thần được thờ chính là Quan Công (tức Quan Vũ, 162? – 219), một nhân vật thời Tam Quốc. Đối với người Hoa, ông là người tài đức vẹn toàn[1]. Vì vậy, miếu có tên là miếu Quan Đế. Và vì đây cũng là nơi hội họp của người Triều Châu, nên còn gọi là Nghĩa An Hội Quán (Nghĩa An là tên một vùng đất ở Quảng Đông thuộc Trung Quốc, nơi đa số người Triều Châu sinh sống). Tuy nhiên, ngôi thờ này thường được gọi là chùa Ông theo thói quen của nhiều người[2].

Theo học giả Vương Hồng Sển, thì miếu Quan Đế do người Hoa gốc Triều Châu xây dựng trước thế kỷ 19, nhưng đến năm 1819-1820 mới xây cất kiên cố cho đến ngày nay [3].

Vì thế, khoảng năm 1820, khi viết về chợ Sài Gòn xưa (tức Chợ Lớn ngày nay), Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí (Thành trì chí) đã nhắc đến ngôi miếu này: Đầu phía Bắc đường lớn có miếu Quan Thánh và ba hội quán Phúc Châu, Quảng ĐôngTriều Châu chia đứng hai bên tả hữu... Hễ gặp tiết đẹp đêm trăng, các ngày tam nguyên, sóc vọng thì treo đèn, đặt án, đua tranh kỳ xảo...

Thêm nữa, trong Gia Định phú của một tác giả khuyết danh (soạn ra trước khi Lê Văn Khôi khởi binh năm 1833) cũng đã nhắc đến ngôi miếu: Chói chói bấy! chùa Ông Quan Đế, chí trung nghĩa cao xa ngàn thuở...

Ngoài ra, hiện ở trong miếu có một thạch bia chữ lớn nêu rõ bà Đỗ Thị (phu nhơn Tả quân Lê Văn Duyệt) cúng hai trăm quan tiền vào năm 1819, và một chiếc lư hương bằng đồng làm vào năm Đạo Quang thứ 5 (1825)[4].

Từ khi xây dựng kiên cố cho đến nay, miếu đã được trùng tu nhiều lần vào các năm 1866, 1901, 1969, 1984 và mới đây nhất là vào năm 2010[5].

Kiến trúc, bài trí và thờ cúng[sửa | sửa mã nguồn]

Như phần lớn các đền miếu của người Hoa, miếu Quan Đế (Nghĩa An Hội Quán) có kiến trúc tổng thể hình chữ khẩu (囗) hay chữ quốc (国) với các dãy nhà khép kính vuông góc. Nhìn chung, kiến trúc và trang trí ở miếu thể hiện rõ nét phong cách Triều Châu qua thiết kế, qua màu sắc (màu đỏ là màu chủ đạo). Tất cả đã thể hiện những giá trị nghệ thuật về thư pháp, chạm đá, chạm gỗ, ghép mảnh sành sứ,...ở nửa cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20. Lược kể từ ngoài vào trong:

Mái ngôi miếu có 3 cấp: giữa cao, hai bên thấp hơn. Trên nóc có gắn tượng sành hình lưỡng long tranh châu.

Sân miếu khá rộng, gần 2.000 , chiếm hơn phân nửa diện tích khuôn viên. Phần còn lại gồm tiền điện, sân thiên tỉnh, chính điện và văn phòng hội quán dọc hai bên các điện thờ. Từ hai cổng lớn vào đến cửa miếu có năm cặp kỳ lân lớn nhỏ bằng đá đặt đối xứng nhau. Đẹp hơn cả là cặp "lân hàm châu" (lân ngậm ngọc) chầu hai bên cửa. Phía trên, trước biển chữ "Nghĩa An hội quán" treo bức nghi môn làm năm 1903, chạm nổi cảnh "Lục Quốc phong tướng". Trên vách mặt tiền hai bên cửa miếu chạm chìm các chữ Hán và sáu bức chạm cành trúc khác nhau.

Từ ngoài sân bước vào là tiền điện. Chính giữa tiền điện bày một hương án, trên đặt chiếc lư hương bằng đồng làm vào năm Đạo Quang thứ 5 (1825). Bên trái tiền điện là bệ cao thờ Phúc Đức chính thần (phần lớn người Hoa quan niệm vị thần này là ông Bổn hay là thần Thổ Địa). Bên phải là tượng Mã Đầu tướng quân (người giữ ngựa Xích Thố cho Quan Công) đứng bên ngựa Xích Thố (bằng gỗ sơn đỏ cao trên 2 m). Ngoài ra, ở đây còn có một quả chuông cao 39 cm, đường kính 46 cm, hai bên đúc hai đầu lân, đường nét tinh xảo, phía trước có hàng chữ "Quan Thánh đế quân".

Sân Thiên tỉnh (giếng Trời) ở giữa chùa rộng rãi và khoáng đãng với những chậu cây cảnh. Dọc theo dãy hành lang hai bên sân đặt các bia đá ghi niên đại trùng tu chùa và tên tuổi những người đóng góp vào việc trùng tu đó. Theo Vương Hồng Sển, thì trong số bia ân nhân ấy có một thạch bia chữ lớn nêu rõ bà Đỗ Thị, phu nhơn Tả Quân Lê Văn Duyệt, cúng hai trăm quan tiền thời đó (năm 1819) và một bia đá khắc kể rõ bảy phủ là những phủ nào, toàn là bia cổ tích, liên quan nhiều đến lịch sử Sài Gòn[6].

Trong chính điện được thiết kế trang nghiêm với những tượng thờ, những cột gỗ cao treo câu đối, cùng với những bao lam, hoành phi và khám thờ chạm trổ tinh tế. Ở giữa điện có gian thờ Quan Thánh đế quân (Quan Vũ) trang trí bao lam lưỡng long tranh châu. Tượng làm bằng thạch cao sơn màu, cao 3 m, mặc áo gấm xanh, ngồi trên ngai, đặt trong khám thờ chạm viền nhiều lớp tùng-hạc, mai-điểu, mẫu đơn-trĩ, Bát Tiên giao chiến với thủy quái...Hình tượng Quan Công thể hiện ở đây mang những chi tiết đã trở thành qui ước: mặt đỏ, râu năm chòm dài đến ngực, tư thế đưa tay vuốt râu, đầu đội mão gắn kim hoa, mặc giáp trụ bên trong và áo bào xanh lá cây bên ngoài (để chỉ ông là người văn võ song toàn). Đứng hầu hai bên trước bệ thờ là tượng Quan Bình và Châu Xương cao gần 2 m [7].

Vì Quan Đế là vị thần được thờ chính nên phần lớn trong hơn 50 hoành phi, câu đối chạm chữ Hán rất mỹ thuật đều có nội dung ca ngợi ông như: "Vạn cổ tinh huy" (Sao sáng muôn đời), "Thiên cổ nhất nhân" (Người xưa nay chỉ có một), "Nghĩa khí trung tâm nguy nguy đế đức tham thiên địa" (Khí nghĩa lòng trung, đức ngài cao sánh trời đất), v.v...Ngoài ra, ở đây còn có một bài minh đề "Đạo Quang đệ thất niên " (1827), kể lại công đức Quan Đế khắc trên gỗ mạ vàng tuyệt mỹ [8].

Hai bên tả hữu có gian thờ Thiên Hậu nguyên quân (tức Thiên Hậu Thánh mẫu) và Tài Bạch tinh quân (Thần Tài). Tượng Bà Thiên Hậu bằng gỗ cao 60 cm, ngồi trên ghế chạm, theo hầu Bà có hai thị nữ và hai vị Thiên lý nhãn, Thuận phong nhĩ. Thần Tài được thể hiện bằng tượng gỗ, cao 60 cm, cũng ngồi trên ghế chạm đầu rồng, hai bên có Chiêu Tài đồng tử đứng hầu. Bài trí ở hai gian thờ này giống nhau với bao lam chạm hình chim phượng hoàng và khám thờ chạm nhiều cảnh vật, như: vinh qui bái tổ, đánh cờ, chèo thuyền, giăng lưới, mục đồng cưỡi trâu, mai-điểu, trúc-điểu,...

Sát hai bên góc tường đặt hai bộ chuông trống đối xứng nhau. Chuông bên trái bằng gang, đúc ở Phật Trấn (Quảng Đông, Trung Quốc) vào năm Canh Tuất (1850?). Chuông còn lại làm bằng hợp kim, có chạm nổi hàng chữ "Gia Định tỉnh, Minh Hương xã, Tân Trường Châu, Nghĩa An hội quán..." (chuông do Tân Trường Châu dâng cúng, phỏng chừng được đúc ở giữa thế kỷ 19).

Hàng năm lễ cúng Quan Đế được tổ chức vào ngày 24 tháng 6 (âm lịch) và rằm tháng Giêng (lớn nhất). Ngoài ra, còn các lễ cúng Bà Thiên Hậu, Phúc Đức chính thần, v.v...[9]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Xem thêm: "Tín ngưỡng thờ Quan Công ở Nam Bộ" [1].
  2. ^ Nguồn: Kiến thức phục vụ thuyết minh du lịch, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chính Minh, 1995, tr. 56.
  3. ^ Theo Sài Gòn năm xưa, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1991, tr. 197.
  4. ^ Theo đó, thì một số nguồn, ghi Chùa Ông (Nghĩa An Hội Quán) được xây năm 1840 là không chính xác.
  5. ^ Theo Văn bia chạm trên vách miếu và ở đây: [2]. Thông tin thêm: Theo Vương Hồng Sển, thì ngoài chùa ông (Nghĩa An hội quán), trong Chợ Lớn còn có "ít nhất" bốn nơi thờ Quan Vũ nữa đó là: Phước An hội quán (đường Hùng Vương), Bửu Sơn Hội quán (đường Xóm Vôi) và Nghĩa Nhuận Hội quán (đường Gò Công). Nguồn: Sài Gòn năm xưa, 208-209.
  6. ^ Trích trong Sài Gòn năm xưa, tr. 197.
  7. ^ Chiều cao các pho tượng trong mục từ này đều căn cứ theo bài viết đăng trên website Du lịch Việt Nam (đã dẫn). Có tham khảo thêm sách Kiến thức phục vụ thuyết minh du lịch (tr.57-58).
  8. ^ Nguồn: Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa, tr. 197.
  9. ^ Theo Website Tri thức Việt và website Du lịch Việt Nam, đều đã dẫn.
Một số chùa miếu của người Việt gốc Hoa tại Thành Phố Hồ Chí Minh Chùa Ôn Lăng.jpg
Miếu Nhị Phủ • Hội quán Hà Chương • Hội quán Ôn Lăng • Đình Minh Hương Gia Thạnh • Chùa Bà Thiên Hậu • Chùa Ông • Chùa Ngọc Hoàng