Chú đại bi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Chú Đại Bi, hay Đại Bi Tâm Đà La Ni (Maha Karunika citta Dharani), là bài chú căn bản minh họa công đức nội chứng của Đức Quán Tự Tại Bồ Tát (Avalokiteśvara Bodhisatva). Bài chú này còn có các tên gọi là: Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni, Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thanh Cảnh Đà La Ni…

Theo kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, bài chú này được Bồ tát Quán Thế Âm đọc trước một cuộc tập họp của các Phật, bồ tát, các thần và vương. Cũng như câu Om Mani Padme Hum rất phổ biến ngày nay, Đại Bi chú là chân ngôn phổ biến cùng với phật Quán Thế Âm ở Đông Á, bài chú này thường được dùng để bảo vệ hoặc để làm thanh tịnh.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Chân ngôn này được trích từ Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà La Ni Kinh. Trong kinh ngài Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn, tôi có chú Đại Bi tâm đà ra ni, nay xin nói ra, vì muốn cho chúng sanh được an vui, được trừ tất cả bịnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được thành tựu tất cả thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu. Cúi xin Thế Tôn từ bi doãn hứa.", rồi sau đó đọc Chú Đại Bi.[1]

"Bồ tát thuyết chú xong, cõi đất sáu phen biến động, trời mưa hoa báu rơi xuống rải rác, mười phương chư Phật thảy đều vui mừng, thiên ma ngoại đạo sợ dựng lông tóc. Tất cả chúng hội đều được quả chứng."[1]

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

Chú Đại Bi thường dùng chính là Tâm Chú của Đức Thanh Cảnh Quán Tự Tại Bồ Tát (Nìlakantha Avalokite’svara Bodhisatva) chủ yếu do hai ngài Bất Không Kim CươngKim Cương Trí dịch vào khoảng giữa thế kỷ thứ 6. Các bản này được lưu truyền dưới 2 dạng là bản dài với bản ngắn:

1) Bản dài (quảng bản) được ghi nhận qua các bài:

  • Thanh Cảnh Quán Tự Tại Bồ Tát Đà La Ni, Bất Không Kim Cương dịch.
  • Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Nễ La Kiến Tha Đà La Ni, Kim Cương Trí dịch.
  • Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Chỉ Không dịch.
  • Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Chú, Kim Cương Trí dịch.

2) Bản ngắn (lược bản) được ghi nhận qua các bài:

  • Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Tự Tại Vương Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Tự Tại Thanh Cảnh Đại Bi Tâm Đà La Ni, Bất Không Kim Cương dịch.
  • Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Bi Tâm Đà La Ni, Bất Không dịch.
  • Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Già Phạm Đạt Ma dịch.

Do các bản Chú Văn có nhiều loại phiên dịch nên chương cú cũng dựa theo các Kinh Văn mà có sự khác biệt kể cả số lượng câu và Phạn Ngữ.

Phiên bản tiếng Phạn[sửa | sửa mã nguồn]

Nīlakantha Dhāranī
नीलकण्ठ धारनी
namo ratnatrayāya namah āryā avalokiteśvarāya

नमो रत्नत्रयाय नमह् अर्य अवलोकितेश्वराय
bodhisattvāya mahāsatvāya mahākāruṇikāya

बोधिसत्त्वाय महासत्वाय महाकारुनिकाय
oṃ sarvarabhaye sudhanadasya namaskṛtvā imaṃ

ॐ सर्वरभय सुधनदस्ये नमस्क्र्त्वा इमम्
āryāvalokiteśvara ramdhava namo narakindi

आर्यावलोकितेश्वर रंधव नमो नरकिन्दि।
hrīḥ mahāvadhasame sarva athadu śubhaṃ ajeyaṃ

ह्रिह् महावधसम सर्व अथदु शुभुं अजेयं।
sarva sattva nama vasattva namo vaga mava dudhu
सर्व सत्य नम वस्त्य नमो वाक मार्ग दातुह्।
tadyathā oṃ avaloki lokate kārāte e hrīḥ

तद्यथा ॐ अवलोकि लोचते करते ए ह्रिह्
mahābodhisattva sarva sarva mālā mālā mahima hṛdayaṃ
महाबोधिसत्त्व। सर्व सर्व मल मल महिम हृदयम्
kuru kuru karmuṃ dhuru dhuru vājayate mahāvājayate

कुरु कुरु कर्मुं धुरु धुरु विजयते महाविजयते
dhara dhara dhṛṇiśvarāya cala cala mama vamāra muktele
धर धर धिरीनिश्वराय चल चल मम विमल मुक्तेले
ehi ehi śiṇa śiṇa ārṣam pracali vaśa vaśaṃ praśaya

एहि एहि शिन शिन आरषं प्रचलि विष विषं प्राशय |
huruhuru huru māra huru huru hṛ

हुरु हुरु मर हुलु हुलु ह्रिह्
sāra sāra śiri śiri suru suru bodhiya bodhiya

सर सर सिरि सिरि सुरु सुरु बोधिय बोधिय
bodhaya bodhaya maitreya narakindi

बोधय बोधय । मैत्रिय नारकिन्दि
dhṛṣṇina bhayamana svāhā siddhāya svāhā

धर्षिनिन भयमान स्वाहा सिद्धाय स्वाहा
mahāsiddhāya svāhā siddhāyogeśvarāya svāhā

महासिद्धाय् स्वाहा सिद्धयोगेश्वराय स्वाहा
narakindi svāhā māraṇara svāhā

नरकिन्दि स्वाहा मारणर स्वाहा
śira śaṃhā mukhāya svāhā sarva mahā āsiddhāya svāhā

शिर संह मुखाय स्वाहा सर्व महा असिद्धाय स्वाहा
cakra āsiddhāya svāhā padma kastāya svāhā

चक्र असिद्धाय स्वाहा पद्म हस्त्राय स्वाहा
narakindi vagarāya svāhā mavari śaṅkharāya svāhā

नारकिन्दि वगलय स्वाहा मवरि शन्खराय स्वाहा
namaḥ ratnatrayāya namo āryāvalokiteśvarāya svāhā

नमः रत्नत्रयाय नमो आर्यवलोकितेश्वराय स्वाहा
oṃ siddhyantu mantra padaya svāhā

ॐ सिधयन्तु मन्त्र पदाय स्वाहा

Dưới đây là phiên âm ký tự Latin của bản Phạn Ngữ trên ra âm chữ Việt. Phần trong ngoặc đơn là phiên bản Chú Đại bi tiếng Việt Nam. Các chữ trong phiên bản tiềng Việt Nam nếu xuất phát từ một từ Phạn thì được gạch nối, chữ đầu viết hoa (Ví dụ: Các chữ bồ đề tát đỏa bà da là dịch ra từ từ Phạn बोधिसत्त्वाय thì được viết có gạch nối: Bồ-đề-tát-đỏa-bà-da)

0. Ni-la-căn-tha Đà-ra-ni (Tựa bài chú)

1. Na-mô Rát-tna-tra-ya-ya Na-ma A-ri-ya A-wa-lô-ki-tê-swa-ra-ya

(Nam-mô Hắc-ra-đát-na-đa-ra-dạ-da Nam-mô A-rị-da Bà-lô-kiết-đế-thước-bát-ra-da)

2. Bô-ti-sát-twa-ya Ma-ha-sát-twa-ya Ma-ha-ka-lu-ni-ka-ya

(Bồ-đề-tát-đỏa-bà-da Ma-ha-tát-đỏa-bà-da Ma-ha-ca-lô-ni-ca-da)

3. Om Sa-wa-ra-ba-yê Su-tha-na-ta-si-ya Na-ma-skrít-twa I-mâm

(Án Tát-bàn-ra-phạt-duệ Số-đát-na-đát-tỏa Nam-mô-tất-kiết-lật-đỏa Y-mông)

4. A-ri-ya-wa-lô-ki-tê-swa-ra Ram-tha-wa Na-mô Na-ra-kin-ti

(A-rị-da-bà-lô-kiết-đế-thất-phật Ra-lăng-đà-bà Nam-mô Na-ra-cẩn-trì)

5. H-riah Ma-ha-wa-tha-sa-mê Sa-wa A-tha-tu Su-bam A-yê-yam

(Hê-rị Ma-ha-bàn-đa-sa-mế Tát-bà A-tha-đậu Du-bằng A-thệ-dựng)

6. Sa-wa Sat-twa Na-ma Wa-sat-twa Na-mô Wa-ka Ma-wa Tu-thu

(Tát-bà Tát-đa Na-ma Bà-tát-đa Na-ma Bà-dà Ma-phạt Đạt-đậu)

7. Ta-tya-tha Om A-va-lô-ki Lô-ka-tê Ka-la-tê E H-riah

(Đát-điệt-tha Án A-bà-lô-hê Lô-ca-đế Ca-ra-đế Di Hê-rị)

8. Ma-ha-bô-thi-sat-twa Sa-wa Sa-wa Ma-la Ma-la Ma-hi-ma Hrit-ta-yâm

(Ma-ha-bồ-đề-tát-đỏa Tát-bà Tát-bà Ma-ra Ma-ra Ma-hê-ma Hê-rị-đà-dựng)

9. Ku-ru Ku-ru Ka-mâm Thu-lu Thu-lu Wa-tcha-ya-tê Ma-ha-wa-tcha-ya-tê

(Cu-lô Cu-lô Kiết-mông Độ-lô Độ-lô Phạt-xà-da-đế Ma-ha-phạt-xà-da-đế)

10.Tha-la Tha-la Thir-ri-ni Swa-ra-ya Cha-la Cha-la Ma-ma Wa-ma-la Muk-tê-lê

(Đà-ra Đà-ra Địa-rị-ni Thất-phật-ra-da Giá-ra Giá-ra Mạ-mạ Phạt-ma-ra Mục-đế-lệ)

11.Ê-hi Ê-hi Si-na Si-na Ar-sâm Pra-cha-li Wa-sa Wa-sâm Pra-sá-ya

(Y-hê Y-hê Thất-na Thất-na A-ra-sâm Phật-ra-xá-lợi Phạt-sa Phạt-sâm Phật-ra-xá-da)

12. Hu-lu Hu-lu Ma-la Hu-lu Hu-lu Hri

(Hô-lô Hô-lô Ma-ra Hô-lô Hô-lô Hê-rị)

13.Sa-la Sa-la Si-ri Si-ri Su-lu Su-lu Bô-đi-ya Bô-đi-ya

(Ta-ra Ta-ra Tất-rị Tất-rị Tô-rô Tô-rô Bồ-đề-dạ Bồ-đề-dạ)

14. Bô-tha-ya Bô-tha-ya Mai-trê-ya Na-ra-kin-đi

(Bồ-đà-dạ Bồ-đà-dạ Di-đế-rị-dạ Na-ra-cẩn-trì)

15. Dri-si-ni-na Ba-ya-ma-na Swa-ha Sit-tha-ya Swa-ha

(Địa-rị-sắc-ni-na Ba-dạ-ma-na Ta-bà-ha Tất-đà-dạ Ta-bà-ha)

16.Ma-ha Sit-tha-ya Swa-ha Sit-tha-yô-kê-swa-ra-ya Swa-ha

(Ma-ha Tất-đà-dạ Ta-bà-ha Tất-đà-dũ-nghệ-thất-bàn-ra-dạ Ta-bà-ha)

17. Na-ra-kin-đi Swa-ha Ma-ra-na-ra Swa-ha

(Na-ra-cẩn-trì Ta-bà-ha Ma-ra-na-ra Ta-bà-ha)

18. Si-ra Sâm A-mu-kha-ya Swa-ha Sa-wa Ma-ha A-sit-tha-ya Swa-ha

(Tất-ra Tăng A-mục-khê-da Ta-bà-ha Ta-bà Ma-ha A-tất-đà-dạ Ta-bà-ha)

19. Chak-kra A-sit-tha-ya Swa-ha Pat-tma Ka-sta-ya Swa-ha

(Giả-kiết-ra A-tất-đà-dạ Ta-bà-ha Ba-đà-ma Yết-tất-đà-dạ Ta-bà-ha)

20. Na-ra-kin-di Wa-ka-la-ya Swa-ha Ma-wa-li Săn-kha-ra-ya Swa-ha

(Na-ra-cẩn-trì Bàn-đà-ra-dạ Ta-bà-ha Ma-bà-lợi Thắng-yết-ra-dạ Ta-bà-ha)

21. Na-ma Rat-tna-tra-ya-ya Na-mô A-ri-ya-wa-lô-ki-tê-swa-ra-ya Swa-ha

(Nam-mô Hắc-ra-đát-na-đa-ra-dạ-da Nam-mô A-rị-da-bà-lô-kiết-đế thước-bàn-ra-dạ Ta-bà-ha)

22. Om Sit-thy-an-tu Man-tra Pat-ta-ya Swa-ha

(Án Tất-điện-đô Mạn-đa-ra Bạt-đà-dạ Ta-bà-ha)

Các phiên bản tiếng Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Bính âm Hán ngữ Hàn Quốc Nhật Bản Việt Nam
Nā mò Hē lá dá nà duō lá yè yē Nā mò ā lī yē Pó lú jié dì shuò bō lá yē Na-mo Ra-da-na-da-ra-ya-ya Na-mak Ar-ya Ba-ro-gi-je-sae-ba-ra-ya Na mu Ka ra ta no to ra ya ya Na mu O ri ya Bo ryo ki chi shi fu ra ya Nam-mô Hắc-ra-đát-na-đa-ra-dạ-da Nam-mô A-rị-da Bà-lô-kiết-đế-thước-bát-ra-da
Pú tí sà duǒ pó yē Mó hē sà duǒ pó yē Mó hē jiā lú ní jiā yē Mo-ji-sa-da-ba-ya Ma-ha-sa-da-ba-ya Ma-ha-ga-ro-ni-ga-ya Fu ji sa to bo ya Mo ko sa to bo ya Mo ko kya ru ni kya ya Bồ-đề-tát-đỏa-bà-da Ma-ha-tát-đỏa-bà-da Ma-ha-ca-lô-ni-ca-da
Om Sà pó luó fá yè Shǔ dá nà dá xiě Nā mò xī jí lī duǒ Yī měng Om Sal-ba-ba-ye Su-da-ra-na ga-ra-ya da-sa-myong Na-mak-ka-ri-da-ba I-mam En Sa ha ra ha ei Shu ta no ton sha Na mu shi ki ri to I mo Án Tát-bàn-ra-phạt-duệ Số-đát-na-đát-tỏa Nam-mô-tất-kiết-lật-đỏa Y-mông
ā lì yē pó lú jí dì shì fó Lá lèng tuó pó Nā mò Nà lá jǐn chí Ar-ya-ba-ro-gi-je sae-ba-ra da-ba i-ra gan-ta Na-mak O ri ya bo ryo ki chi shi fu Ra rin to bo Na mu no ra kin ji A-rị-da-bà-lô-kiết-đế-thất-phật Ra-lăng-đà-bà Nam-mô Na-ra-cẩn-trì
Xī lī Mó hē pó duō shā miē Sà pó ā tā dòu Shū péng ā shì yùn Ha-ri-na-ya Ma-bal-ta-i-sa-mi Sal-bal-ta Sa-da-nam Su-ban A-ye-yom Ki ri Mo ko ho do sha mi Ta bo O to jo Shu ben O shu in Hê-rị Ma-ha-bàn-đa-sa-mế Tát-bà A-tha-đậu Du-bằng A-thệ-dựng
Sà pó Sà duō Nā mò pó sà duō Nà mó pó jiā Mó fá tè dòu Sal-ba Bo-da-nam Ba-ba-mar-a Mi-su-da-gam Sa bo Sa to No mo bo gya Mo ha te cho Tát-bà Tát-đa Na-ma-bà-tát-đa[2] Na-ma-bà-dà Ma-phạt-đạt-đậu
Dá shí tā Om ā pó lú xī Lú jiā dì Jiā luó dì Yí xī lī Da-nya-ta Om A-ro-gye A-ro-ga ma-ji-ro-ga Ji-ga-ran-je Hye-hye-ha-rye To ji to En O bo ryo ki Ru gya chi Kya rya chi I ki ri Đát-điệt-tha Án A-bà-lô-hê Lô-ca-đế Ca-ra-đế Di Hê-rị
Mó hē pú tí sà duǒ Sà pó Sà pó Mó lá Mó lá Mó xī mó Sī lī tuó yùn Ma-ha Mo-ji Sa-da-ba Sa-ma-ra Sa-ma-ra Ha-ri-na-ya Mo ko fu ji sa to Sa bo Sa bo Mo ra Mo ra Mo ki mo Ki ri to in Ma-ha-bồ-đề-tát-đỏa Tát-bà Tát-bà Ma-ra Ma-ra Ma-hê-ma Hê-rị-đà-dựng
Jù lú Jù lú Jié měng Dù lú Dù lú Fá shé yē dì Mó hē fá shé yē dì Gu-ro-gu-ro gal-ma Sa-da-ya Sa-da-ya Do-ro Do-ro Mi-yon-je Ma-ha mi-yon-je Ku ryo Ku ryo Ke mo To ryo To ryo Ho ja ya chi Mo ko ho ja ya chi Cu-lô Cu-lô Kiết-mông Độ-lô Độ-lô Phạt-xà-da-đế Ma-ha-phạt-xà-da-đế
Tuó lá Tuó lá Dì lī ní Shì fó lá yē Zhē lá Zhē lá Mó mó Fá mó lá Mù dì lì Da-ra Da-ra Da-rin-na-rye Sae-ba-ra Ja-ra Ja-ra Ma-ra-mi-ma-ra A-ma-ra Mol-che-ye To ra To ra Chi ri ni Shi fu ra ya Sha ro Sha ro Mo mo Ha mo ra Ho chi ri Đà-ra Đà-ra Địa-rị-ni Thất-phật-ra-da Giá-ra Giá-ra Mạ-mạ Phạt-ma-ra Mục-đế-lệ
Yī xī Yī xī Shì nà Shì nà ā lá shēn Fó lá shè lì Fá shā Fá shēn Fó lá shè yē Hye-hye ro-gye sae-ba-ra ra-a mi-sa-mi na-sa-ya na-bye sa-mi sa-mi na-sa-ya mo-ha ja-ra mi-sa-mi na-sa-ya Yu ki yu ki Shi no Shi no O ra san Fu ra sha ri Ha za Ha za Fu ra sha ya Y-hê Y-hê Thất-na Thất-na A-ra-sâm Phật-ra-xá-lợi Phạt-sa Phạt-sâm Phật-ra-xá-da
Hū lú Hū lú Mó lá Hū lú Hū lú Xī lì Ho-ro Ho-ro Ma-ra Ho-ro Ha-rye ba na-ma-na-ba Ku ryo Ku ryo Mo ra Ku ryo Ku ryo Ki ri Hô-lô Hô-lô Ma-ra Hô-lô Hô-lô Hê-rị
Suō lá Suō lá Xī lī Xī lī Sū lú Sū lú Pú tí yè Pú tí yè Sa-ra Sa-ra Shi-ri Shi-ri So-ro So-ro Mot-cha Mot-cha Sha ra Sha ra Shi ri Shi ri Su ryo Su ryo Fu ji ya Fu ji ya Ta-ra Ta-ra Tất-rị Tất-rị Tô-rô Tô-rô Bồ-đề-dạ Bồ-đề-dạ
Pú tuó yè Pú tuó yè Mí dì lì yè Nà lá jǐn chí Mo-da-ya Mo-da-ya Mae-da-ri-ya Ni-ra-gan-ta Fu do ya Fu do ya Mi chi ri ya No ra kin ji Bồ-đà-dạ Bồ-đà-dạ Di-đế-rị-dạ Na-ra-cẩn-trì
Dì lì sè ní nà Pó yè mó nà Sā pó hē Xī tuó yè Sā pó hē Ga-ma-sa nal-sa-nam Ba-ra-ha-ra-na-ya ma-nak Sa-ba-ha Shit-ta-ya Sa-ba-ha Chi ri shu ni no Ho ya mo no So mo ko Shi do ya So mo ko Địa-rị-sắc-ni-na Ba-dạ-ma-na Ta-bà-ha Tất-đà-dạ Ta-bà-ha
Mó hē xī tuó yè Sā pó hē Xī tuó yù yì shì pó lá yè Sā pó hē Ma-ha-shit-ta-ya Sa-ba-ha Shit-ta-yu-ye-sae-ba-ra-ya Sa-ba-ha Mo ko Shi do ya So mo ko Shi do yu ki shi fu ra ya So mo ko Ma-ha Tất-đà-dạ Ta-bà-ha Tất-đà-dũ-nghệ-thất-bàn-ra-dạ Ta-bà-ha
Nà lá jǐn chí Sā pó hē Mó lá nà lá Sā pó hē Ni-ra-gan-ta-ya Sa-ba-ha Ba-ra-ha mok-ka Sa-ba-ha No ra kin ji So mo ko Mo ra no ra So mo ko Na-ra-cẩn-trì Ta-bà-ha Ma-ra-na-ra Ta-bà-ha
Xī lá Sēng ā mù qū yē Sā pó hē Sā pó Mó hē ā sī tuó yè Sā pó hē Shing-ha Mok-ka-ya Sa-ba-ha Ba-na-ma Ha-ta-ya Sa-ba-ha Shi ra Su O mo gya ya So mo ko So bo Mo ko O shi do ya So mo ko Tất-ra Tăng-a Mục-khê-da Ta-bà-ha Ta-bà Ma-ha A-tất-đà-dạ Ta-bà-ha
Shě jí lá ā xī tuó yè Sā pó hē Bō tuó mó Jié xī duō yè Sā pó hē Ja-ga-ra Yok-ta-ya Sa-ba-ha Sang-ka som-na-nye mo-da-na-ya Ma-ha-ra gu-ta da-ra-ya Sa-ba-ha Sha ki ra A shi do ya So mo ko Ho do mo Gya shi do ya So mo ko Giả-kiết-ra A-tất-đà-dạ Ta-bà-ha Ba-đà-ma Yết-tất-đà-dạ Ta-bà-ha
Nà lá jǐn chí Bó jiā lá yē Sā pó hē Mó pó lì Shèng jié lá yè Sā pó hē Ba-ma-sa gan-ta i-sa-shi che da ga-rin-na i-na-ya Sa-ba-ha Mya-ga-ra jal-ma ni-ba sa-na-ya Sa-ba-ha No ra kin ji Ha gya ra ya So mo ko Mo ho ri Shin gya ra ya So mo ko Na-ra-cẩn-trì Bàn-đà-ra-dạ Ta-bà-ha Ma-bà-lợi Thắng-yết-ra-dạ Ta-bà-ha
Nā mò Hē lá dá nà duō lá yè yē Nā mò ā lì yē pó luó jí dì shuò pó lá yè Sā pó hē Na-mo-ra Da-na-da-ra ya-ya Na-mak Ar-ya-ba-ro-gi-je-sae-ba-ra-ya Na mu Ka ra tan no to ra ya ya Na mu O ri ya bo ryo ki chi shi fu ra ya Sso mo ko Nam-mô Hắc-ra-đát-na-đa-ra-dạ-da Nam-mô A-rị-da-bà-lô-kiết-đế thước-bàn-ra-dạ Ta-bà-ha
Om Sī diàn dōu Màn duō lá Bá tuó yē Sā pó hē Sa-ba-ha En Shi te do Mo do ra Ho do ya So mo ko Án Tất-điện-đô Mạn-đa-ra Bạt-đà-dạ Ta-bà-ha

Xuất tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi câu trong bài chú tượng trưng với hình ảnh một vị Phật, Bồ Tát, Tôn Giả hoặc Thánh Thần do Đức Quan Âm Bồ Tát hóa thân[3]:

  1. Nam Mô Hắc Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da: Bổn thân Quan-Âm Bồ-Tát hóa hiện tướng hành giả cầm chuỗi lễ tụng cầu Bồ-Tát cảm ứng.
  2. Nam Mô A Rị Da: Quan-Âm hóa hiện tướng tay bưng Như-Ý Pháp-Luân. Hành giả y giáo phụng hành.
  3. Bà Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da: Quán-Âm hóa hiện tướng Quán-Tự-Tại trì bát. Hành giả quán tưởng khiến chúng sanh được trường thọ.
  4. Bồ Đề Tát Đỏa Bà Da: Quan Âm hiện thân Bất Không Quyên Sách Bồ Tát tự giác giác tha, phổ độ chúng sanh.
  5. Ma Ha Tát Đỏa Bà Da: Quan Âm hiện tướng tụng chú, theo pháp tu trì, được thiện giải thoát.
  6. Ma Ha Ca Lô Ni Ca Da: Quan Âm hóa hiện tướng Mã-Minh Bồ Tát tự giác giác tha, tự độ tự tha.
  7. Án: Quan Âm hóa hiện tướng các Thần Quỷ Vương chắp tay tụng chú. Chư Phật quán tưởng chữ Án thành chánh giác.
  8. Tát Bàn Ra Phạt Duệ: Quan Âm hóa hiện tướng Tứ Đại Thiên Vương dùng lục độ hoá độ chúng ma.
  9. Số Đát Na Đát Tỏa: Quan Âm hóa hiện tướng Bộ-Lạc Tứ Đại Thiên Vương khiến cải ác theo thiện.
  10. Nam Mô Tất Kiết Lật Đỏa Y Mông A Rị Da: Quan Âm hiện tướng Long Thọ Bồ Tát hộ trì người tu hành, hàng phục tất cả ma oán.
  11. Bà Lô Yết Đế Thất Phật Ra Lăng Đà Bà: Quan Âm hiện tướng Phật Viên Mãn báo Thân Lô Xá Na rộng độ vô lượng chúng sanh.
  12. Nam Mô Na Ra Cẩn Trì: Quan Âm hiện tướng Phật Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na gia hộ chúng sanh an lạc.
  13. Hê Rị Ma Ha Bàn Đa Sa Mế: Quán Âm hiện tướng Dương Đầu Thần Vương hộ trì hành giả xa lìa loài ác thú.
  14. Tát Bà A Tha Đậu Du Bằng: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Cam Lộ Vương tay cầm cành dương, tay cầm bình ngọc cam lộ độ chúng sanh.
  15. A Thệ Dựng: Quán Âm hiện tướng Phi Đằng Dạ Xoa Thiên Vương tuần sát bốn phương khuyến thiện ngừng ác.
  16. Tát Bà Tát Đa Na Ma Bà Tát Đa Na Ma Bà Già': Quán Âm hiện tướng Thần Vương Bà Già Bà Đế độ chúng sanh có duyên.
  17. Ma Phạt Đạt Đậu: Quan Âm hiện tướng Quân Tra Lợi Bồ Tát mặt có ba con mắt cảm hóa ác nhơn hướng thiện.
  18. Đát Điệt Tha: Quán Âm hiện tướng A La Hán thuyết pháp độ chúng sanh.
  19. Án A Bà Lô Hê: Quan Âm hiện tướng Quan Âm Bồ Tát từ bi vô lượng cứu khổ ban vui.
  20. Lô Ca Đế: Quan Âm hiện tướng Đại Phạm Thiên Vương ở trong mười phương thế giới độ thoát chúng sanh.
  21. Ca Ra Đế: Quan Âm hiện tướng Đế Thần ở trong mười phương thế giới thường cứu chúng sanh.
  22. Di Hê Rị: Quan Âm hóa hiện tướng Thiên Thần Ma Hê Đầu La thống lãnh thiên binh độ chúng sanh.
  23. Ma Ha Bồ Đề Tát Đỏa: Quan Âm dùng tâm nguyện thanh tịnh, từ bi vô ngã cảm ứng độ người chân thật tu hành.
  24. Tát Bà Tát Bà: Quan Âm hiện thân Bồ Tát Hương Tích điều phục năm phương chúng quỷ theo hầu cứu giúp chúng sanh.
  25. Ma Ra Ma Ra: Quan Âm hiện Bạch Y Bồ Tát tay mặt cầm Như Ý, tay trái dắt đồng tử khiến chúng sanh được trường thọ.
  26. Ma Hê Ma Hê Rị Đà Dựng: Quan Âm hiện tướng Phật A Di Đà khiến chúng sanh khi hết thân nầy đồng sanh Cực Lạc quốc.
  27. Cu Lô Cu Lô Yết Mông: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Không Thân hàng phục vạn ức thiên binh, hóa độ vô lượng chúng sanh.
  28. Độ Lô Độ Lô Phạt Xà Da Đế: Quan Âm hóa thân Bồ Tát Nghiêm Tuấn áp lãnh man binh Khổng Tước Vương hàng phục các ma oán.
  29. Ma Ha Phạt Xà Da Đế: Quan Âm hóa hiện Đại Lực Thiên Tướng tay cầm Bảo Xử hộ trì chúng sanh, tinh tấn tu hành.
  30. Đà Ra Đà Ra: Quan Âm hiện tướng trượng phu tu khổ hạnh khiến chúng sanh phá trừ ngã chấp pháp chấp.
  31. Địa Rị Ni: Quan Âm hiện tướng Sư Tử Vương xét nghiệm người tụng chú khiến chúng sanh tiêu trừ tai họa.
  32. Thất Phật Ra Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Thích Lịch tay cầm Kim Xử hàng phục các ma và quyến thuộc của chúng.
  33. Giá Ra Giá Ra: Quan Âm hiện thân Bồ tát Tồi Toái tay cầm Kim Luân hóa độ oán ma điều phục tùng.
  34. Mạ Mạ Phạt Ma Ra: Quan Âm hiện thân Đại Hàng Ma Kim Cang tay cầm Kim Luân hộ trì chúng sanh đắc đại cát tường.
  35. Mục Đế Lệ: Quán Âm hiện tướng chư Phật, Bồ Tát chắp tay lắng lòng nghe tụng thần chú, hành giả phụng trì chứng đắc Phật quả.
  36. Y Hê Y Hê: Quan Âm hiện thân Ma Hê Thủ La Thiên Vương cảm triệu nhơn thiên thuận tùng.
  37. Thất Na Thất Na: Quán Âm hiện thân Ca Na Ma Tướng Thiên Vương, hóa lợi chư Thiên, không gây tai hại nhân gian.
  38. A Ra Sâm Phật Ra Xá Lợi: Quan Âm hiện tướng tay cầm khiên, tay cầm cung tên kính tụng thần chú đắc pháp tự tại.
  39. Phạt Sa Phạt Sâm: Quan Âm hiện thân Kim Khôi Đại tướng cầm linh thuận thời giáo hóa độ chúng sanh.
  40. Phật Ra Xá Da: Quan Âm hiện tướng Phật A Di Đà, chúng sanh tưởng niệm thì hiện tiền tương lai sẽ thấy Phật.
  41. Hô Lô Hô Lô Ma Ra: Quán Âm Hiện Tướng Bát Bộ Thần Vương chắp tay niệm từ bi hàng phục chúng ma.
  42. Hô Lô Hô Lô Hê Rị: Quan Âm hiện tướng Tứ Tý Tôn Thiên tay bưng Nhật Nguyệt chiếu sáng hóa độ nhơn thiên.
  43. Ta Ra Ta Ra: Quan Âm hóa độ Phổ Đà Sơn hiển linh bất khả tư nghì, có ý nghĩa Ta-Bà khổ như núi non hiểm trở.
  44. Tất Rị Tất Rị: Quán Âm hiện tướng mạo từ bi tay cầm cành dương, tay cầm tịnh bình rưới nước cam lồ cứu khổ độ sanh.
  45. Tô Rô Tô Rô: Quán Âm hóa tướng lá cây rụng, chúng sanh nghe tiếng được bốn lợi ích: quán đảnh, mát thân, tâm vui, đầy đủ.
  46. Bồ Đề Dạ Bồ Đề Dạ: Quan Âm hiện tướng diện mạo từ bi thân cận trẻ con giáo hóa lợi ích chúng sanh.
  47. Bồ Đà Dạ Bồ Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng A Nan tôn giả tay cầm bình bát hóa độ chúng sanh.
  48. Di Đế Rị Dạ: Quan Âm hiện tướng Di Lặc Bồ Tát chỉ dạy chúng sanh tu hạnh đại bi, được chơn giác ngộ an lạc.
  49. Na Ra Cẩn Trì: Quan Âm hiện tướng Địa Tạng Bồ Tát khai ngộ chúng sanh tỉnh giác mê chấp, được thoát khổ ác đạo.
  50. Địa Rị Sắc Ni Na: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Bảo Tràng tay kiết ấn, tay cầm Kim Xoa làm lợi ích chúng sanh.
  51. Ba Dạ Ma Na: Quan Âm hiện tướng Bảo Kim Quang Tràng Bồ Tát cầm Bạt Chiết La Xử lợi ích độ sanh.
  52. Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng ba đầu Viên-Tịch Thắng-Nghĩa lợi ích độ sanh.
  53. Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng tôn giả Xá Lợi Phất tay kiết ấn Liêm Thủ thông đạt tất cả pháp.
  54. Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Hằng Hà Sa đứng trên đầu rồng, dùng tâm cát tường hóa độ chúng sanh.
  55. Ma Ha Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Phóng-Quang tay cầm tràng phan báu lợi ích độ sanh.
  56. Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Mục Kiền Liên tay cầm tích trượng, bình bát dứt trừ tai ương, cứu độ chúng sanh.
  57. Tất Đà Dũ Nghệ: Quan Âm hiện Tây Phương Cực Lạc, tất cả chư Thiên, Bồ Tát vân tập thính thọ pháp hỷ, hóa độ thập phương nhơn thiên.
  58. Thất Bàn Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng Thiên Nữ Tự Tại Viên Mãn
  59. Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả A-Xà-Na hoan hỷ bưng cao bình bát tăng trưởng tâm lợi ích độ sanh.
  60. Na Ra Cẩn Trì: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Sơn Hải Huệ tay cầm kiếm vàng hóa độ thánh-giả Tiểu-thừa.
  61. Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Chiên Đà La quảy nón lá vô trụ thắng nghĩa độ hóa chúng sanh.
  62. Ma Ra Na Ra: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Bảo Ấn Vương tay cầm búa vàng Như Ý kiểm nghiệm tâm hạnh chúng sanh.
  63. Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Câu Hy La mang giày cỏ đạp trên sóng nước phát sanh tiếng hải triều cảnh giác tâm chúng sanh.
  64. Tất Ra Tăng A Mục Khê Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Dược Vương tay cầm dược thảo trừ bịnh khổ chúng sanh.
  65. Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Viên Mãn Bồ Tát thân mặc y đỏ chấp tay tâm viên mãn an lạc chúng sanh.
  66. Ta Bà Ma Ha A Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Dược Thượng Bồ Tát tay cầm bình ngọc giải trừ tật khổ chúng sanh.
  67. Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Xá Lợi Phất tay cầm chơn kinh cứu cánh thắng nghĩa hóa đạo chúng sanh quy Tịnh Độ.
  68. Giả Kiết Ra A Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Thần Hổ gầm, tay cầm búa kiên định tâm hàng phục ma oán.
  69. Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng chư Thiên Ma Vương tay cầm Xà Thương hóa đạo chúng sanh giải trừ tâm oán hận.
  70. Ba Đà Ma Kiết Tất Đà Dạ: Quan Âm hiện tướng Linh Hương Thiên Bồ Tát bưng lư Như Ý hộ trì chúng sanh.
  71. Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Tán Hoa Thiên Bồ Tát tay cầm bảo liên ngàn cánh thành tựu chúng sanh lợi ích an lạc.
  72. Na Ra Cẩn Trì Bàn Dà Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng Tôn Giả Phú Lâu Na tay bưng bình bát cứu độ chúng sanh lìa tai nạn.
  73. Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Đà La Ni Từ tay bưng trái tươi bố thí độ sanh chân thật tu hành rõ pháp tánh không.
  74. Ma Bà Rị Thắng Yết Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Tam Ma Thiền Na kiết già trên bánh xe, tay bưng đèn ngọc sáng khắp pháp giới.
  75. Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tôn giả Đại Ca Diếp tay trái cầm chuỗi, tay mặt cầm thiền trượng chỉ dẫn chúng sanh tu hành.
  76. Nam Mô Hắc Ra Đát na Đa Ra Dạ Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Hư Không Tạng cầm hoa ngồi trên đá khiến cho chúng sanh kiên định tín tâm dõng mãnh tinh tấn.
  77. Nam Mô A Rị Da: Quan Âm hiện tướng Bồ Tát Phổ Hiền kiết già thiền tọa trên Hương Tượng khiến chúng sanh viên mãn công hạnh.
  78. Bà Lô Kiết Đế: Quan Âm hóa thân Bồ Tát Văn Thù ngồi trên sư tử tay chỉ hư không khiến chúng sanh khai ngộ.
  79. Thước Bàn Ra Dạ: Quan Âm hiện tướng hoa sen ngàn cánh giải trừ chúng sanh ái sắc trần hư vọng, thấy tự tánh không.
  80. Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng buông thõng hai tay giải trừ nhĩ căn phân biệt thanh trần hư vọng, nghe tự tánh không.
  81. Án Tất Điện Đô: Quan Âm hiện tướng mở hai bàn tay đoạn tỳ căn ái nhiễm hương trần, tự giác tánh không.
  82. Mạn Đà Ra: Quan Âm hiện tay Đâu La Miên đoạn trừ căn ái nhiễm vị trần hư vọng, tự giác tánh không.
  83. Bạt Đà Gia: Quan Âm hiện tướng tay bưng bát hương giải trừ tham ái chạm xúc, khiến chúng sanh đoạn thân căn xúc trần hư vọng, tự giác tánh không.
  84. Ta Bà Ha: Quan Âm hiện tướng tay cầm tràng phan giải trừ phân biệt các pháp, khiến chúng sanh đoạn ý căn chấp pháp trần hư vọng, biết tự tánh không.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Đời Đường, Sa môn Dà Phạm Đạt Mạ (1) người xứ Tây Thiên Trúc Hán dịch; Việt Dịch: HT. Thích Thiền Tâm. “KINH THIÊN THỦ THIÊN NHÃN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT QUẢNG ÐẠI VIÊN MÃN ĐẠI BI TÂM ÐÀ LA NI”. 
  2. ^ 5 chữ này thường bị in thiếu trong các bản kinh lưu hành tại Việt Nam
  3. ^ 2007. Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni Xuất Tượng. 1st Ed. Nhà xuất bản Tôn Giáo. Hà Nội

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Chú Đại Bi do thầy Thích Trí Thoát tụng 21 biến
  2. 84 Hình ảnh minh họa Chú Đại Bi
  3. Giảng giải Chú Đại Bi - Hòa Thượng Tuyên Hóa
  4. 42 Thủ nhãn ấn pháp theo Chú Đại Bi