Chú tiểu

Một Sa-di (tiếng Phạn: Sāmaṇera hay śrāmaṇera, trong tiếng Việt thường gọi là chú tiểu) là một tập sự tu sĩ nam trong Phật giáo.[1] Đây là những người xuất gia tu hành khi tuổi đời còn nhỏ (thường là thiếu niên hoặc nhi đồng). Một tập sự tu sĩ nữ được gọi là Sāmaṇerī, trong tiếng Phạn là śrāmaṇerī hoặc śrāmaṇerikā (sa-di-ni). Các chú tiểu còn nhỏ tuổi nên chưa được thọ giới, xem như là tập sự, tập tu gieo duyên, tức tập học kinh kệ, tập viết chữ Hán, tập niệm Phật và làm một số việc nhẹ như nấu nước pha trà, rửa chén, quét rác, quét lá[2] và các công việc vặt trong chùa như quét sân, nhổ cỏ, nấu cơm (nhà trù), thỉnh chuông (đánh chuông), lau dọn ban thờ.
Từ nguyên
[sửa | sửa mã nguồn]Từ sāmaṇera là một dạng giảm nhẹ tương đương với thuật ngữ tiếng Phạn śrāmaṇera, chỉ một hành giả khổ hạnh. Do đó, sāmaṇera có thể được hiểu là "người xuất gia (khổ hạnh) nhỏ hoặc trẻ tuổi". Trong một số truyền thống Phật giáo Nam Á và Đông Nam Á, thuật ngữ này dùng để chỉ người đã thực hiện lời thề xuất gia (pabbajjā) ban đầu nhưng chưa thọ đại giới (Upasampadā). Các quy tắc Biệt giải thoát giới (Pratimokṣa) không áp dụng cho họ, và họ không tham gia vào việc tụng đọc các giới luật vào những ngày Bố-tát (Uposatha). Từ tiếng Phạn śrāmaṇerikā là dạng giống cái của tiếng Phạn: śrāmaṇera.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]

Theo ghi chép trong văn học Phật giáo Nam Á (và được các truyền thống Phật giáo khác tiếp nhận), khi con trai của Đức Phật Gautama là La-hầu-la (Rāhula) được bảy tuổi, cậu bé đã đi theo Đức Phật và nói "Hãy cho con gia sản của con." Đức Phật đã gọi Xá-lợi-phất (Sariputta) và yêu cầu ông làm lễ xuất gia cho La-hầu-la, người trở thành sa-di đầu tiên.
Nhà vua (Suddhodana), khi phát hiện ra rằng cháu nội của mình và một số thanh niên trong hoàng tộc đã xin xuất gia, đã yêu cầu Đức Phật chỉ cho phép trẻ vị thành niên xuất gia khi có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ. Đức Phật đã chấp thuận. Quy tắc này được mở rộng để bao gồm cả vợ/chồng của những người có ý định gia nhập Tăng đoàn của các nam tu sĩ và nữ tu sĩ.[3]
Tổng quan
[sửa | sửa mã nguồn]Trong Luật tạng (các quy định tu viện), được sử dụng bởi nhiều tông phái Phật giáo Nam Á, một người nam dưới 20 tuổi không thể được thọ giới làm tỳ-kheo (Bhikṣu) nhưng có thể được thọ giới làm sāmaṇera (sa-di). Sāmaṇera (và sāmaṇerī – thuật ngữ tương đương cho nữ) sống theo Mười Giới và cống hiến bản thân cho việc phụng vụ tôn giáo trong thời gian nghỉ học ở trường thế tục, hoặc kết hợp với việc học nếu họ nguyện hiến mình cho việc xuất gia chính thức. Ở các nền văn hóa và truyền thống Phật giáo khác (đặc biệt là ở Đông Bắc Á, và ở phương Tây bắt nguồn từ các dòng truyền thừa này), các tu sĩ thực hiện các bộ lời thề khác nhau và tuân theo các quy tắc tập quán khác nhau. Mười Giới được giữ bởi các sāmaṇera là:
- Tránh xa sự sát sinh.
- Tránh xa sự trộm cắp.
- Tránh xa sự dâm dục (phi phạm hạnh).
- Tránh xa sự nói dối.
- Tránh xa việc sử dụng các chất gây say (rượu và ma túy).
- Tránh xa việc ăn phi thời (sau giờ ngọ).
- Tránh xa việc ca hát, nhảy múa, chơi nhạc, hoặc tham dự các chương trình giải trí.
- Tránh xa việc trang điểm, thoa dầu thơm, và đeo vòng hoa (đồ trang sức).
- Tránh xa việc ngồi trên ghế cao và ngủ trên giường nệm sang trọng.
- Tránh xa việc nhận tiền bạc (vàng bạc, châu báu).
Các yêu cầu thọ giới khác nhau giữa sāmaṇera (sa-di) và sāmaṇerī (sa-di-ni).
Chuyển thọ giới
[sửa | sửa mã nguồn]Sau một năm hoặc ở tuổi 20, một sāmaṇera sẽ được xem xét để thọ đại giới (upasampada) hoặc thọ giới cao hơn làm tỳ-kheo (bhikṣu). Một số tu viện sẽ yêu cầu những người muốn thọ giới làm tu sĩ phải làm sa-di trong một khoảng thời gian nhất định, như một giai đoạn chuẩn bị và làm quen. Việc thọ giới sa-di cho nữ giới, theo luật tạng truyền thống, được trao bởi các tỳ-kheo, và bởi các tỳ-kheo ni khi có thể. Các sa-di-ni (tiếng Tạng tiêu chuẩn: getsulma, hoặc tiếng Phạn: śrāmaṇerī) tôn trọng lời thề Mười Giới của họ như là quy tắc ứng xử. Sau một năm hoặc ở tuổi 20, một sa-di-ni có thể được thọ giới làm bhikṣuṇī (tỳ-kheo ni) đầy đủ. Các nghi thức thọ giới phụ thuộc vào truyền thống Phật giáo cụ thể của ni cô đó, trong khi số lượng giới luật của họ tăng lên đáng kể.
Tại Myanmar
[sửa | sửa mã nguồn]Tại Myanmar (Miến Điện), sāmaṇera được gọi là shin thamane (ရှင်သာမဏေ) hoặc thamane (သာမဏေ). Trong văn hóa Miến Điện, các bé trai Phật giáo theo truyền thống sẽ xuất gia làm sāmaṇera trong một khoảng thời gian, như một nghi lễ chuyển tiếp được gọi là shinbyu; điều này được coi là một trong Mười hai nghi lễ tốt lành. Năm 2016, Myanmar có 252.962 sāmaṇera.[4]
Số lượng sa-di tại Myanmar theo khu vực, 2016
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Sumedho, Ajahn (2014). Peace is a Simple Step (PDF). Amaravati Publications. tr. 36. ISBN 978-1-78432-000-3.
- ↑ Tản mạn về chú Tiểu
- ↑ "Wall paintings ·· coming home, see section Buddha's son". buddhamind.info. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2013.
- ↑ "The Account of Wazo Monks and Nuns in 1377 (2016 year)". The State Samgha Maha Nayaka Committee (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2020.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- The Bhikkhunis' Code of Discipline (Bhikkhunī Pāṭimokkha') Translated from the Pali by Thanissaro Bhikkhu
- Buddhist Monastic Code II: Bhikkhunis
- the website of Bhante Sujato's Writings contains several (ancient and modern) texts on the role and ordination of women in Buddhism. Lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2014 tại Wayback Machine
- Bhikkhuni committee of the ASA includes a large resource of articles regarding Bhikkhunis
- "Female Monks In Buddhism", by Dhammacaro (07/23/2005).
- "Vinaya Pitaka", brief description includes "Order of ordination for men and women...."