Chūnibyō Demo Koi ga Shitai!

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chūnibyō Demo Koi ga Shitai!
Chūnibyō Demo Koi ga Shitai! volume 1 cover.jpg
Bìa của light novel Chūnibyō Demo Koi ga Shitai! tập 1 - Bên trái là Yūta và bên phải là Rikka
中二病でも恋がしたい!
Thể loại Hài hước, Lãng mạn, Học đường, Chính kịch
Light novel
Tác giả Torako
Minh họa Nozomi Osaka
Nhà xuất bản Kyoto Animation
Phát hành 1 tháng 6 năm 2011 – nay
Số tập 3
Anime truyền hình
Đạo diễn Tatsuya Ishihara
Kịch bản Jukki Hanada
Âm nhạc Nijine
Hãng phim Kyoto Animation
Kênh Tokyo MX, Sun TV, KBS, TV Aichi
Phát sóng 4 tháng 10 năm 201219 tháng 12 năm 2012
Số tập 12
Chủ đề Anime và manga

Chūnibyō Demo Koi ga Shitai! (中二病でも恋がしたい!?) (thường được biết đến với tên tiếng Việt là Hội chứng tuổi teen), là một series light novel do Torako sáng tác và Nozomi Osaka minh họa. Tác phẩm đoạt giải danh dự trong Giải thưởng Kyoto Animation năm 2010,[1]. Một phiên bản chuyển thể anime của Kyoto Animation được phát sóng vào ngày 4 tháng 10 năm 2012.[2][3][4][5]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Yūta Togashi, cậu bé mắc hội chứng "Hoang tưởng tuổi trẻ" (中二病 Chūnibyō?, "Trung Nhị Bệnh") trong những năm học sơ trung (cấp II), tin rằng mình sở hữu năng lực siêu nhiên và tự phong bản thân là 'Dark Flame Master', kết quả cậu bị bạn bè xa lánh. Kết thúc quãng thời gian đầy xấu hổ này, Yūta bước vào cấp III nơi không có ai quen cậu, và nhờ đó dần quên đi những ám ảnh về quá khứ. Tuy nhiên, mọi việc lại trở nên khó khăn khi Rikka Takanashi - cô bạn gái cùng lớp cũng mắc chứng hoang tưởng, biết được quá khứ của Yūta và trở nên hứng thú với cậu.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Togashi Yūta (富樫 勇太 ?)
Lồng tiếng bởi: Fukuyama Jun
Yūta là nam chính của câu chuyện, là nam sinh năm nhất cao trung từng bị mắc hội chứng "Hoang tưởng tuổi trẻ", cậu tin rằng bản thân là "Dark Flame Master" và kết quả bị bạn bè xa lánh. Nghĩ về việc xấu hổ đó, cậu cố gắng chối bỏ quá khứ này, kể cả việc chọn một ngôi trường ở xa, tách biệt những người bạn học sơ trung của mình. Tuy nhiên, từ khi gặp Rikka, quá khứ của cậu lại quay trở lại. Cậu và Rikka cuối cùng trở nên gần gũi hơn và họ bắt đầu hẹn hò. Cậu và Satone Shichimiya từng là bạn cùng lớp ở trường sơ trung và cô chính là người cho cậu cảm hứng trở thành "Dark Flame Master".
Takanashi Rikka (小鳥遊 六花 ?)
Lồng tiếng bởi: Uchida Maaya
Rikka là nữ chính của câu chuyện, cô học chung lớp với Yūta, sống cùng chị gái ngay căn hộ phía trên căn của Yūta. Cô ấy cũng mắc bệnh giống Yūta, tự cho mình là một "Tà Vương Chân Nhãn" (邪王真眼 Jaō Shingan, lit. True Eye of the Evil King) và luôn mang theo một miếng vá y tế bên mắt phải của minh, băng bó khắp tay trái dù cô không hề bị thương. Mặc dù khá gắn bó với Yūta, cô ấy rất thận trọng với người lạ và luôn khiêu chiến ngay cả khi lần đầu gặp mặt. Vũ khí tưởng tượng của cô là một chiếc dù che nắng mà cô giữ như một thanh kiếm. Trong trận chiến tưởng tượng của mình, cô thường mặc một bộ váy màu đen. Ở trường, cô luôn mặc bộ tất đen dài đến đầu gối, kết hợp với giày chơi quần vợt đời mới có bánh xe bên trong. Cô đôi khi vụng về, thường vấp ngã và hay quên. Nguồn gốc căn bệnh của cô đến từ chính Yūta, khi cô thấy Yūta trong giai đoạn hoang tưởng của mình ở ban công phía trên căn hộ của Yūta. Cuối cùng họ trở nên gần gũi, phát triển tình cảm cho nhau và họ bắt đầu hẹn hò, nhưng "căn bệnh hoang tưởng" của Rikka mới chính là cây cầu nối mối quan hệ của họ tiến triển.
Nibutani Shinka (丹生谷 森夏?)
Lồng tiếng bởi: Chinatsu Akasaki
Shinka là lớp trưởng và bạn học cùng lớp với Yūta, người luôn mỉm cười. Một trong những cô gái nổi tiếng nhất lớp do vẻ ngoài của cô ấy. Sự thật là tuy nhiên, giống như Yūta, cô cũng là một thiếu niên bị chuunibyou, cô tự gọi mình là Mori Summer (モリサマー Mori Samā), cô cũng chọn một trường cao trung khác với các bạn cùng lớp trước đây để trốn chạy khỏi quá khứ. Khi cô ấy biết được Sanae là có bằng chứng cuối cùng của hội chứng của cô, Shinka tham gia câu lạc bộ của Rikka để cô có thể thiêu hủy nó. Khi ra khỏi mắt mọi người, Shinka mới tiết lộ bản chất thật của cô ấy, dễ nổi điên, nhất là khi đối phó với Sanae. Trong khi Yuta ban đầu rất ngưỡng mộ hoặc thậm chí đã từng thích cô, sau khi nhìn thấy bản chất thật của cô, cậu vỡ mộng và thay vào đó trở thành bạn với Shinka. Mặc dù luôn cãi nhau liên tục và đánh nhau với Sanae, Shinka cố gắng quan tâm đến cho cô và ngược lại. Cô, giống như Yūta, có lí do lớn hơn so với các thành viên khác trong nhóm.
Tsuyuri Kumin (五月七日 くみん?)
Lồng tiếng bởi: Azumi Asakura
Một nhân vật anime bình thường, Kumin là một cô gái vô tư, lớn hơn Yūta và những người khác 1 tuổi. Cô ấy thích ngủ và thường xuyên mang theo một cái gối (hoặc rất nhiều) dù ở đâu. Trong một trường hợp, cô thậm chí còn ngủ được trong một tấm futon đầy đủ trên sân trường. Đã từng học ở nhà trước khi học cao trung, cô ấy rất được che chở và bảo thủ, cho cô một phong cách thời trang cổ điển mà Makoto lại thấy hấp dẫn. "Câu lạc bộ ngủ" của riêng cô được tích hợp vào câu lạc bộ của Rikka vì thiếu thành viên. Vì tôn trọng Rikka và Sanae, cô cố gắng hết sức để hiểu về hội chứng ảo tưởng của họ. Cô ấy có khuynh hướng nói chuyện khi ngủ. Cô ấy cũng rất thích mèo.
Dekomori Sanae ( 凸守 早苗 ?)
Lồng tiếng bởi: Sumire Uesaka
Một nhân vật anime bình thường, Sanae là học sinh năm ba sơ trung, cô có tóc vàng chẻ 2 bên rất dài, cô thường gây trở ngại hơn là giúp đỡ. Như Rikka, cô ấy bị hoang tưởng tuổi trẻ rất nặng và thường tưởng tượng với Rikka. Tuy nhiên, không như Rikka, cô ấy là một học sinh luôn đứng đầu bảng trong lớp và đã hoàn thành toàn bộ chương trình giảng dạy toán học cao trung. Cô nắm giữ khá nhiều bản sao của cuốn sách thần chú là bằng chứng của chuỗi ngày hoang tưởng của Shinka. Cô ấy thường gây mâu thuẫn với Shinka, người mà cô không tin là Mori Summer thật. Cô thường kết thúc câu nói của mình bằng 'desu', cô nhấn mạnh nó để trông giống như từ 'death' (chết). Cô ấy biết rằng những ảo tưởng của mình không chỉ là ảo tưởng thôi. Cô ấy đến từ một gia đình rất giàu có và có thường cư xử bình thường quanh bạn cùng lớp. Sau đó cô ấy được lên trường cao trung nơi Yūta và các bạn đang học.
Isshiki Makoto ((一色 誠 ?)
Lồng tiếng bởi: Sōichirō Hoshi
Makoto là bạn học cùng lớp với Yūta, cậu ngồi phía sau cậu ta và thường đánh giá các cô gái khác trong lớp. Cậu tham gia Câu lạc bộ Nhạc nhẹ để cậu có thể dễ dàng ở với các cô gái và thu hút sự chú ý của họ bằng cách chơi cây guitar của mình, dù cậu chẳng biết chơi một tí nào cả. Vì cậu đánh giá các bạn nữ trong lớp nên cậu tự nguyện cạo đầu khi cuốn “Thăm dò ý kiến các bạn nữ” bị phát hiện. Trong anime, cậu thích Kumin.
Takanashi Tōka ( 小鳥遊 十花 ?)
Lồng tiếng bởi: Eri Sendai
Một nhân vật anime bình thường, Tōka là người chị cả của Rikka, người luôn hỗ trợ cô bằng cách làm đầu bếp tại nhà hàng sang trọng. Cô thường phải chịu đựng hội chứng ảo tưởng của em gái mình, cô thường xuyên đánh em mình bằng cái môi múc canh. Cô rất giỏi nhào lộn và rất linh hoạt, mà cô ấy trước đây là một vận động viên thể dục nhịp điệu khi bản thân cô còn đang học cao trung. Rikka coi cô là một phù thuỷ cấp cao và cô cáo buộc Tōka ngăn chặn cô khi cô làm nhiệm vụ tìm kiếm "Chân trời hư vô". Cô cũng đôi khi chơi trò gia đình với Yumeha nhưng theo một hướng tiêu cực là họ đã ly hôn.
Tsukumo Nanase (九十九 七瀬?)
Lồng tiếng bởi: Kikuko Inoue
Togashi Yumeha (富樫 夢葉?)
Lồng tiếng bởi: Mami Shitara
Togashi Kuzuha (富樫 樟葉?)
Lồng tiếng bởi: Kaori Fukuhara
Shichimiya Satone (七宮 智音?)
Lồng tiếng bởi: Juri Nagatsuma
Kannagi Kazari (巫部 風鈴?)
Lồng tiếng bởi: Manami Shirakawa

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “No Grand Prizes Given for 1st Kyoto Animation Award”. Anime News Network. Ngày 22 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2012. 
  2. ^ “Kyoto Animation Plans Chūnibyō Demo Koi ga Shitai! Anime”. Anime News Network. Ngày 27 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2012. 
  3. ^ “Kyoto Animation's Chūnibyō Demo Koi ga Shitai! to Run on TV”. Anime News Network. Ngày 7 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2012. 
  4. ^ “First Promo For KyoAni's Chuunibyo Demo Koi ga Shitai!. Crunchyroll. Ngày 10 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2012. 
  5. ^ Chūnibyō Demo Koi ga Shitai! Slated for October 3”. Anime News Network. Ngày 1 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]