Chương trình hỗ trợ các huyện nghèo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Chương trình hỗ trợ các huyện nghèo, tên gọi đầy đủ là Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, là một chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ Việt Nam nhằm tạo ra sự chuyển biến nhanh về đời sống vật chất và tinh thần cho các hộ nghèo, người các dân tộc thiểu số ở 64 huyện nghèo trong cả nước (những huyện có tỷ lệ hộ nghèo trong tổng số hộ của huyện lớn hơn 50%) sao cho đến năm 2020 có thể ngang bằng với các huyện khác trong khu vực. Ngày 27 tháng 12 năm 2008, Chính phủ Việt Nam ra Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP[1] bắt đầu chính thức triển khai Chương trình này. Ngày 12 tháng 2 năm 2009, Chính phủ tổ chức tại thành phố Thanh Hóa một hội nghị triển khai Nghị quyết nói trên.[2]

Khái quát[sửa | sửa mã nguồn]

Theo thống kê của Bộ Lao động, thương binh và xã hội, đến cuối năm 2006 toàn Việt Nam còn 58 huyện (thuộc 19 tỉnh) có tỷ lệ hộ nghèo trong tổng số hộ của huyện trên 50%.[3] Những thay đổi về hành chính (chia tách huyện) sau đó đã đưa số huyện nghèo lên thành 61 huyện (thuộc 20 tỉnh). Tuy nhiên, có tài liệu cho rằng số huyện nghèo tại thời điểm tháng 2 năm 2009 lên tới 63 huyện (thuộc 20 tỉnh) trong đó có 43 huyện ở vùng Tây Bắc.[4]

61 huyện nghèo bao gồm 797 xã và thị trấn, phần lớn tại khu vực miền núi và biên giới. Tỷ lệ hộ nghèo ở đây cao gấp 3,5 lần mức bình quân của cả nước. Dân số các huyện nghèo là 2,4 triệu người, trong đó có tới 90% là người các dân tộc thiểu số. Thu nhập bình quân đầu người ở đây chỉ khoảng 2,5 triệu đồng/năm, có được chủ yếu là nhờ sản xuất nông nghiệp lạc hậu. Với mức thu ngân sách bình quân hàng năm là 3 tỷ đồng, chính quyền huyện không đủ nguồn lực tài chính để xóa đói giảm nghèo cho các hộ.[1]

Mục tiêu[sửa | sửa mã nguồn]

Mục tiêu của chương trình, được xác định trong Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP. Theo đó, tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện giảm xuống còn 40% vào năm 2010, xuống bằng mức trung bình của tỉnh vào năm 2015, và xuống bằng mức trung bình của khu vực vào năm 2020. Thu nhập bình quân của các hộ ở huyện nghèo vào năm 2020 sẽ cao gấp 5,6 lần hiện nay. Tỷ lệ lao động nông thôn được tập huấn và đào tạo đạt trên 25% vào năm 2010, trên 40% vào năm 2015, trên 50% vào năm 2020. Đến năm 2020, giao thông sẽ thông suốt 4 mùa tới hầu hết các xã và cơ bản có đường ô tô tới các thôn, bản đã được quy hoạch; điện sinh hoạt được cung cấp cho hầu hết dân cư; điều kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hoá, tinh thần, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc được cơ bản đảm bảo.

Biện pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ đề ra 4 nhóm biện pháp để thực hiện các mục tiêu đã đề ra.

  1. Hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập (bao gồm cả đưa người lao động ở huyện nghèo đi lao động ở nước ngoài
  2. Đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí
  3. Bổ sung nguồn lực con người ở các cấp quản lý và các tổ công tác
  4. Đầu tư cơ sở hạ tầng ở cả cấp thôn/bản, xã, huyện

Ngoài ra còn có các biện pháp như đề nghị các tập đoàn kinh tế nhà nước "đỡ đầu" các huyện nghèo.

Chính phủ đã giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực thực hiện Chương trình.

Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chủ trương vận động thanh niên tình nguyện về giúp đỡ các huyện nghèo.[5]

(Xem chi tiết trong nội dung Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP)

Danh sách 64 huyện nghèo[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Số huyện nghèo Tên huyện Tham khảo
Hà Giang 6 Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, Hoàng Su Phì, Xín Mần [1]
Cao Bằng 5 Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thông Nông, Hà Quảng, Hạ Lang [2]
Lào Cai 3 Si Ma Cai, Mường Khương, Bắc Hà [3]
Yên Bái 2 Mù Căng Chải, Trạm Tấu [4]
Bắc Kạn 2 Ba Bể, Pác Nặm [5]
Bắc Giang 1 Sơn Động [6]
Phú Thọ 1 Tân Sơn [7]
Sơn La 5 Sốp Cộp, Phù Yên, Bắc Yên, Mường La, Quỳnh Nhai [8]
Lai Châu 7 Mường Tè,Nậm nhùn, Phong Thổ, Sìn Hồ, Tân Uyên, Than Uyên, Tam Đường [9]
Điện Biên 5 Điện Biên Đông, Mường Nhé,Nậm pô, Tủa Chùa, Mường Ảng [10]
Thanh Hóa 7 Lang Chánh, Thường Xuân, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Như Xuân, Bá Thước [11]
Nghệ An 3 Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong [12]
Quảng Bình 1 Minh Hóa [13]
Quảng Trị 1 Đa Krông
Quảng Ngãi 6 Sơn Hà, Trà Bồng, Sơn Tây, Minh Long, Tây Trà, Ba Tơ [14]
Quảng Nam 3 Nam Trà My, Tây GiangPhước Sơn [15][16]
Bình Định 2 An Lão, Vĩnh Thạnh [17] [18]
Ninh Thuận 1 Bác Ái [19]
Kon Tum 2 Tu Mơ Rông, Kon Plông [20]
Lâm Đồng 1 Đam Rông [21]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]