Chất tẩy rửa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Chất tẩy rửa

Chất tẩy rửa là một chất hoạt động bề mặt hoặc một hỗn hợp của các chất hoạt động bề mặt với tính chất làm sạch ở trạng thái dung dịch loãng.[1] Các chất này thường là alkylbenzene sulfonate, một họ các hợp chất tương tự xà phòng nhưng dễ hòa tan hơn trong nước cứng, bởi vì sulfonate cực (của chất tẩy rửa) ít có khả năng liên kết với carboxylate (của xà phòng) để liên kết với canxi và các ion khác tìm thấy trong nước cứng.

Trong bối cảnh gia đình, thuật ngữ chất tẩy rửa tự nó đề cập cụ thể đến bột giặt hoặc chất tẩy rửa chén bát, trái ngược với xà phòng rửa tay hoặc các loại chất tẩy rửa khác. Chất tẩy rửa thường có sẵn dưới dạng bột hoặc dung dịch đậm đặc. Chất tẩy rửa, giống như xà phòng, hoạt động vì chúng là chất lưỡng tính: một phần ưa nước (cực) và một phần kỵ nước (không phân cực). Bản chất kép của chúng tạo điều kiện cho hỗn hợp các hợp chất kỵ nước (như dầu và mỡ) với nước. Bởi vì không khí không ưa nước, chất tẩy rửa cũng là chất tạo bọt ở các mức độ khác nhau.

Phân loại hóa chất của chất tẩy rửa[sửa | sửa mã nguồn]

Chất tẩy rửa được phân thành ba nhóm rộng, tùy thuộc vào điện tích của chất hoạt động bề mặt.

Chất tẩy rửa anion[sửa | sửa mã nguồn]

Bột giặt

Chất tẩy rửa anion điển hình là alkylbenzene sulfonates. Phần alkylbenzene của các anion này là kỵ nước và sulfonate là ưa nước. Hai giống khác nhau đã được phổ biến, những giống có nhóm alkyl phân nhánh và những giống có nhóm alkyl tuyến tính. Trước đây phần lớn bị loại bỏ trong các xã hội phát triển kinh tế vì chúng có khả năng phân hủy sinh học kém.[2] Ước tính có khoảng 6 tỷ kg chất tẩy rửa anion được sản xuất hàng năm cho thị trường tẩy rửa gia đình.

Các axit mật, chẳng hạn như axit deoxycholic (DOC), là chất tẩy rửa anion do gan sản xuất để hỗ trợ tiêu hóa và hấp thụ chất béo và dầu.

Ba loại chất tẩy rửa anion: a natri dodecylbenzenesulfonat nhánh, tuyến tính natri dodecylbenzenesulfonat và xà phòng.

Chất tẩy cation[sửa | sửa mã nguồn]

Các chất tẩy cation tương tự như các chất anion, với thành phần ưa nước, nhưng, thay vì nhóm sulfonate anion, các chất hoạt động bề mặt cation có amoni bậc bốn là cực cuối. Trung tâm amoni sulfat được tích điện dương.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ International Union of Pure and Applied Chemistry. "detergent". Toàn văn bản Giản Lược Thuật Ngữ Hoá Học.
  2. ^ a ă Eduard Smulders, Wolfgang Rybinski, Eric Sung, Wilfried Rähse, Josef Steber, Frederike Wiebel, Anette Nordskog, "Laundry Detergents" in Ullmann's Encyclopedia of Industrial Chemistry 2002, Wiley-VCH, Weinheim. doi:10.1002/14356007.a08_315.pub2