Chọn lọc giới tính

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chọn lọc giới tính tạo ra những khác biệt giữa các giới tính đầy màu sắc đối với loài chim thiên đường Goldie. Con đực ở trên; con cái ở dưới. Tranh vẽ bởi John Gerrard Keulemans (d.1912)
Chọn lọc giới tính là một dạng chọn lọc tự nhiên trong đó một giới tính thích một đặc điểm cụ thể ở một cá thể thuộc giới tính còn lại. Loài công thể hiện sự chọn lọc giới tính ở chỗ công cái tìm kiếm những con công đức có nhiều "mắt" ở lông đuôi hơn. Điều này dẫn tới việc những con công đực có ít mắt sẽ chết đi và những con có nhiều mắt sẽ trở nên phổ biến hơn.

Chọn lọc giới tính là một phương thức chọn lọc tự nhiên trong cá thể của một giới tính lựa chọn bạn tình ở giới tính còn lại để giao phối cùng, và cạnh tranh với các cá thể cùng giới tính khác để có thể tiếp cận với cá thể thuộc giới tính kia. Hai phương thức chọn lọc này có nghĩa là một số cá thể thành công trong việc sinh sản hơn những cá thể khác bên trong một quần thể, dù là do trông hấp dẫn hơn hay là do thích bạn tình hấp dẫn hơn để duy trì nòi giống.[1][2] Ví dụ như trong mùa sinh sản việc chọn lọc giới tính ở loài ếch xảy ra với việc những con đức đầu tiên tụ tập ở rìa nước và cất tiếng gọi bạn tình: kêu ộp ộp. Các con cái sau đó tới và chọn con đực với tiếng kêu trầm nhất và có lãnh thổ tốt nhất. Nói chung, các con đực có lợi từ việc giao phối thường xuyên và tiếp cận một cách độc quyền với một nhóm con cái có khả năng sinh sản. Con cái có một số lượng con cháu giới hạn mà chúngnn có thể có và chúng đã tối đa hóa sự trả lại năng lượng mà chúng đầu tư vào việc sinh sản.

Khái niệm này lần đầu được phát biểu bởi Charles Darwin và Alfred Russel Wallace, những người miêu tả nó như là sự hình thành loài và rằng nhiều sinh vật đã tiến hóa các đặc điểm mà chức năng của chúng có hại cho sự sinh tồn cá biệt của chúng,[3] và rồi được phát triển bởi Ronald Fisher vào đầu thế kỷ XX. Chọn lọc giới tính có thể dẫn tới các con đực điển hình phải nỗ lực cực độ để thể hiện sự phù hợp của chúng để được con cái lựa chọn, tạo ra hiện tượng dị hình giới tính ở những đặc điểm giới tính thú cấp, ví dụ như bộ lông trang trí của loài chim ví dụ như loài chim thiên đường và chim công, hoặc là gạc của loài hươu, hoặc bờm của sư tử, gây ra bởi một cơ chế phản hồi tích cực được biết đến với cái tên Fisherian runaway, trong đó việc truyền lại ham muốn có một đặc tính ở một giới tính thì cũng quan trọng như việc có đặc tính ở trong giới tính còn lại trong việc sản sinh ra hiệu ứng chạy trốn/ Mặc dù giả thuyết sexy son chỉ ra rằng con cái sẽ thích con cháu là con đực, nguyên lý Fisher giải thích lý do tại sao tỷ lệ giới tính luôn là 1:1 mà gần như không có ngoại lệ. Chọn lọc giới tính cũng được tìm thấy ở thực vật và nấm.

Sự duy trì việc sinh sản trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt là một trong những mảnh ghép chính trong sinh học cho dù sinh sản vô tính có thể sinh sản nhanh hơn nhiều vì 50% con cái không phải con đực, bản thân chúng không có khả năng sinh ra con. Nhiều nguyên lý không riêng biệt đã được đề xuất,[4] bao gồm cả tác động tích cực của một dang chọn lọc bổ sung, chọn lọc giới tính, đối với khả năng bền bỉ của một loài.[5]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cecie Starr (2013). Biology: The Unity & Diversity of Life . Cengage Learning. tr. 281. 
  2. ^ Vogt, Yngve (29 tháng 1 năm 2014). “Large testicles are linked to infidelity”. Phys.org. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2014. 
  3. ^ Darwin, Charles; A. R. Wallace (1858). “On the Tendency of Species to form Varieties; and on the Perpetuation of Varieties and Species by Natural Means of Selection” (PDF). Journal of the Proceedings of the Linnean Society of London. Zoology 3: 46–50. doi:10.1111/j.1096-3642.1858.tb02500.x. 
  4. ^ Hartfield, Matthew; P. D. Keightley (2012). “Current hypotheses for the evolution of sex and recombinationn” (PDF). Integrative Zoology 7: 192–209. doi:10.1111/j.1749-4877.2012.00284.x. 
  5. ^ Population benefits of sexual selection explain the existence of males phys.org May 18, 2015 Report on a study by the University of East Anglia

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]