Chủ nghĩa đế quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cecil Rhodes và dự án đường sắt Cape-Cairo. Rhodes thích "tô bản đồ nước Anh màu đỏ" và tuyên bố: "tất cả những ngôi sao này... những thế giới bao la vẫn còn ngoài tầm với. Nếu có thể, tôi sẽ thôn tính những hành tinh khác".[1]

Chủ nghĩa đế quốc là "chính sách mở rộng quyền lực và tầm ảnh hưởng của một quốc gia thông qua hoạt động thuộc địa hóa bằng vũ lực hoặc các phương thức khác".[2] Chủ nghĩa đế quốc định hình thế giới đương đại,[3] cho phép công nghệ và những ý tưởng lan rộng một cách nhanh chóng và góp phần lớn vào sự hình thành nên một thế giới toàn cầu hóa. Thuật ngữ chủ nghĩa đế quốc đề cập đến sự thống trị về mặt kinh tế và chính trị của phương Tây (và Nhật Bản), đặc biệt là tại châu Á và châu Phi trong thế kỷ XIX và XX. Ý nghĩa chính xác của nó vẫn tiếp tục được các học giả tranh luận. Một số nhà nghiên cứu, ví dụ như Edward Said, sử dụng thuật ngữ này bao quát hơn để mô tả bất kỳ hệ thống thống trị và lệ thuộc có tổ chức với một trung tâm đế quốc (chính quốc) và phần bên ngoài.[4]

Chủ nghĩa đế quốc được định nghĩa như "một mối quan hệ bất bình đẳng về mặt con người và lãnh thổ, thường là hình thức của đế quốc, căn cứ vào quan niệm về tính ưu việt và thực tiễn của sự thống trị, bao gồm việc mở rộng quyền lực và sự kiểm soát của một quốc gia hoặc dân tộc lên quốc gia hay dân tộc khác." Chủ nghĩa đế quốc đặc biệt chú trọng đến việc quản lý, kiểm soát, điều khiển; mà một nhóm, thường là một cường quốc, áp đặt lên nhóm hay dân tộc khác[5] và thường thông qua các hình thức phân biệt khác nhau căn cứ vào chủng tộc, tôn giáo hay khuôn mẫu văn hóa.

Qua vài thế kỷ, định nghĩa về chủ nghĩa đế quốc vẫn chưa hoàn thiện tạo sự nhầm lẫn và không rõ ràng. Cách giải quyết là có thể chia thành hai loại: chủ nghĩa đế quốc "chính thức" và "không chính thức". "Chủ nghĩa đế quốc chính thức" được định nghĩa là "sự quản lý tự nhiên hay cai trị thực dân hoàn toàn".[5] "Chủ nghĩa đế quốc không chính thức" hàm ý ít trực tiếp hơn, dù vậy vẫn là một kiểu thống trị có thể nhận thấy.[5] Chủ nghĩa thực dân ngày nay là biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc và không thể tồn tại nếu không có chủ nghĩa đế quốc, nhận định này được phần đông chấp nhận. Cả thực dân hóa và chủ nghĩa đế quốc đều được Tom NairnPaul James mô tả là những hình thái thuở đầu của toàn cầu hóa.[6]

Thuật ngữ "chủ nghĩa đế quốc" trở nên phổ biến tại đảo Anh trong thập niên 1870 và được dùng với hàm ý tiêu cực.[7] Tại Anh Quốc, từ này từng được sử dụng chủ yếu để đề cập tới các chính sách của Napoleon III nhằm làm thỏa mãn dư luận Pháp thông qua can thiệp quân sự nước ngoài.[7] Chủ nghĩa đế quốc trong tiếng Anh là "Imperialism" có nguồn gốc từ từ "imperium" trong tiếng Latinh, mang nghĩa cai trị các vùng lãnh thổ rộng lớn.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc chiến của Đế quốc Ottoman ở châu Âu

Chủ nghĩa đế quốc đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử Nhật Bản, Đế quốc Assyria, Đế quốc Trung Quốc, Đế quốc La Mã, Hy Lạp, Đế quốc Đông La Mã, Đế quốc Ba Tư, Đế quốc Ottoman, Ai Cập cổ đại, Đế quốc Anh, Ấn Độ và nhiều đế quốc khác. Xét về phương diện lịch sử có rất nhiều đế quốc của người Hồi giáo được công nhận. Trước kỷ nguyên thực dân châu Âu, vùng châu Phi hạ Sahara từng tồn tại nhiều đế quốc như Đế quốc Ethiopia, Đế quốc Oyo, Đế quốc Ashanti, Đế quốc Luba, Đế quốc Lunda, và Đế quốc Mutapa. châu Mỹ vào thời kỳ tiền Colombo cũng đã có những đế quốc rộng lớn như Đế quốc AztecĐế quốc Inca.

Mặc dù thường được dùng để chỉ việc chính phủ nước ngoài áp đặt sự quản lý bằng vũ lực lên quốc gia khác hay vùng lãnh thổ chinh phạt mà trước đó không có một chính phủ thống nhất, thuật ngữ "chủ nghĩa đế quốc" đôi khi cũng có chức năng mô tả sức ảnh hưởng lỏng lẻo hoặc gián tiếp về kinh tế hay chính trị của nước lớn lên các nước nhỏ hơn.[8]

Chủ nghĩa đế quốc về văn hóa đề cập đến tầm ảnh hưởng của một quốc gia trong phạm vi văn hóa và xã hội, tức là quyền lực mềm của quốc gia đó; nó làm thay đổi thế giới quan về xã hội, văn hóa, đạo đức của đối tượng [quốc gia] chịu ảnh hưởng. Xét ở thời hiện đại, cụ thể đó là việc âm nhạc, truyền hình hay phim ảnh "nước ngoài", v.v... không chỉ trở nên phổ biến với giới trẻ mà hơn thế nữa còn làm thay đổi mức độ kỳ vọng vào cuộc sống và lòng khát khao của họ mong muốn đất nước mình trở nên giống hơn với quốc gia được mô tả. Ví dụ, vở kịch dài kỳ Dallas during the Cold War (Dallas trong Chiến tranh Lạnh) mô tả lối sống giàu sang của người Mỹ đã làm thay đổi sự kỳ vọng của người dân Romani; hay ví dụ gần đây hơn là sức ảnh hưởng của những bộ phim truyền hình Hàn Quốc nhập lậu tại Triều Tiên. Vì nhiều lý do, nhiều quốc gia, chế độ đã chiến đấu chống lại sự ảnh hưởng bằng một số biện pháp như cấm hoặc hạn chế các loại hình văn hóa đại chúng nước ngoài thông qua các biện pháp như kiểm duyệt.

Chủ nghĩa đế quốc bị những người chỉ trích phê phán về mặt đạo đức, bởi vậy thuật ngữ này thường được sử dụng trong công tác tuyên truyền quốc tế với nghĩa xấu ám chỉ chính sách ngoại giao hung hăng và bành trướng.[8]

Thời đại chủ nghĩa đế quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ nguyên chủ nghĩa đế quốc là một quãng thời gian bắt đầu vào khoảng năm 1700 với việc các nước công nghiệp (nhìn chung là châu Âu) tham gia vào quá trình thực dân hóa, tạo tầm ảnh hưởng và thôn tính các vùng lãnh thổ trên khắp thế giới nhằm thâu tóm quyền lực chính trị. Mặc dù thực tiễn đế quốc chủ nghĩa đã tồn tại hàng ngàn năm, thuật ngữ "thời đại chủ nghĩa đế quốc" nhìn chung đề cập đến hoạt động của các cường quốc châu Âu từ đầu thế kỷ XVIII cho tới giữa thế kỷ XX. Có thể kể tới một vài sự kiện như "Ván cờ lớn" tại vùng đất Ba Tư, "Tranh giành châu Phi" và "Chính sách mở cửa" tại Trung Quốc.[9]

Châu Phi bị chia làm bốn khu vực thuộc địa của các nước đế quốc khác nhau, khoảng 1913

Vào thế kỷ XX, các nhà sử học John Gallagher (1919–1980) và Ronald Robinson (1920–1999) đã tạo dựng một khuôn khổ nhằm lý giải chủ nghĩa đế quốc châu Âu. Họ khẳng định chủ nghĩa đế quốc châu Âu có tầm ảnh hưởng và các nước châu Âu bác bỏ quan điểm cho rằng "chủ nghĩa đế quốc" đòi hỏi sự quản lý chính thức, hợp pháp của một chính phủ lên quốc gia khác. "Trong con mắt của họ, các nhà sử học đã bị đế quốc chính thức và những bản đồ thế giới với những vùng màu đỏ làm cho mê hoặc. Tư bản, hoạt động thương mại, di cư quy mô lớn của Anh ra những vùng đất phía ngoài đã hình thành nên Đế quốc Anh. Điểm mấu chốt trong suy nghĩ của họ là quan niệm đế quốc 'phi chính thức nếu có thể và chính thức nếu cần thiết.'"[10] Nhờ các nguồn lực sẵn có do chủ nghĩa đế quốc tạo ra, nền kinh tế thế giới đã tăng trưởng đáng kể và trở nên kết nối hơn nhiều trong những thập kỷ trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, mang đến sự giàu có và thịnh vượng cho nhiều cường quốc đế quốc.[11]

Chủ nghĩa đế quốc châu Âu đa phần tập trung vào phát triển kinh tế bằng việc thu thập tài nguyên từ các thuộc địa kết hợp với nắm giữ quyền lực chính trị bằng các biện pháp chính trị và quân sự. Quá trình thực dân hóa Ấn Độ hồi giữa thế kỷ XVIII là một ví dụ: ở đó, "người Anh khai thác những yếu điểm chính trị của nhà nước Mughal và, trong khi hoạt động quân sự là quan trọng tại những thời điểm khác nhau, sự hợp nhất những thành phần tinh túy trong lĩnh vực hành chính và kinh tế cũng có ý nghĩa cốt yếu" cho việc thiết lập sự quản lý những nguồn tài nguyên, thị trường, và nhân lực của tiếu lục địa.[12] Mặc dù vào thế kỷ XVII và XVIII một số lượng đáng kể các thuộc địa được tạo ra nhằm mục đích cung cấp lợi nhuận kinh tế và chuyển giao những nguồn tài nguyên về chính quốc; thì đến thế kỷ XIX và XX, tại những khu vực như châu Á và châu Phi, quan niệm này không còn hợp lý một cách tất yếu:[13]

Các đế quốc hiện đại không tạo dựng những guồng máy kinh tế giả tạo. Sự bành trướng lần hai của các nước châu Âu là một quá trình lịch sử phức tạp mà ở đó những quyền lực chính trị, xã hội và cảm xúc tại châu Âu và bên ngoài có ảnh hưởng lớn hơn chủ nghĩa đế quốc dự tính. Các thuộc địa riêng lẻ có thể đáp ứng mục tiêu kinh tế; tựu trung không có đế quốc nào có bất kỳ chức năng có thể định rõ, về kinh tế hay gì đó khác. Các đế quốc chỉ đại diện cho một giai đoạn cụ thể trong mối quan hệ không ngừng biến đổi giữa châu Âu và phần còn lại của thế giới: những suy luận loại suy với các hệ thống kinh tế hay hoạt động đầu tư bất động sản đơn giản là tạo sự sai lạc.[14]

Trong thời kỳ này, những thương gia châu Âu có năng lực "rong ruổi ngoài bể khơi và thặng dư [của cải] từ khắp nơi trên thế giới (đôi khi bằng thái độ hòa nhã, đôi khi bạo lực) cho riêng mình và tập hợp chúng tại châu Âu."[15]

Cuộc tấn công của Anh vào Quảng Châu trong chiến tranh nha phiến lần thứ nhất, tháng 5 năm 1841

Người châu Âu đẩy mạnh đáng kể hoạt động bành trướng trong thế kỷ XIX. Các quốc gia châu Âu mở rộng quy mô nhập khẩu từ thuộc địa và những nước khác nhằm thu thập nguyên liệu thô. Các nhà tư bản công nghiệp châu Âu nỗ lực kiếm tìm những nguyên liệu như thuốc nhuộm, vải bông, dầu thực vật và quặng kim loại từ bên ngoài. Đồng thời, quá trình công nghiệp hóa đã nhanh chóng biến châu Âu thành trung tâm sản xuất và tăng trưởng kinh tế, kích thích nhu cầu nguồn lực.[16]

Việc truyền đạt thông tin tiến triển lên nhiều trong thời kỳ người châu Âu bành trướng. Với hai phát minh là đường sắt và điện tín, việc liên lạc giữa các quốc gia trở nên dễ dàng hơn giúp cho chính quốc mở rộng phạm vi quản lý hành chính lên các thuộc địa. Hệ thống đường sắt và đường biển góp phần hỗ trợ vận chuyển một lượng lớn hàng hóa từ thuộc địa đi các nơi khác và ngược lại.[16]

Cùng với những tiến bộ trong liên lạc, người châu Âu cũng đạt sự thăng tiến về kỹ nghệ quân sự. Các nhà hóa học châu Âu đã sáng chế ra chất nổ có thể áp dụng trong chiến đấu và với những đổi mới về máy móc họ có thể sản xuất những loại súng tốt hơn. Đến thập niên 1880, súng máy đã trở thành một vũ khí hiệu quả trên chiến trường. Công nghệ này mang lại lợi thế cho quân đội các nước châu Âu trước địch thủ bởi quân đội của các nước kém phát triển khi đó vẫn còn sử dụng cung tên, kiếm, và khiên da thuộc (ví dụ như người Zulu ở Nam Phi trong Chiến tranh Anglo-Zulu năm 1879).[16]

Học thuyết về chủ nghĩa đế quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các tác phẩm học thuật của các tác giả nói tiếng Anh, học thuyết về chủ nghĩa đế quốc thường căn cứ vào kinh nghiệm của người Anh. Thuật ngữ "chủ nghĩa đế quốc" xuất hiện trong tiếng Anh vào cuối thập niên 1870 với nghĩa như hiện tại, nó đến từ những người phản đối các chính sách bị cáo buộc là phô trương và hung hăng của thủ tướng Anh Benjamin Disraeli. Một số người xem chủ nghĩa đế quốc là chính sách của chủ nghĩa lý tưởng và lòng bác ái; số khác thì cáo buộc nó là đặc điểm của lợi ích cá nhân [tư lợi] về chính trị, và một số ngày càng tăng thì gắn nó với tính tham lam của tư bản chủ nghĩa. John A. Hobson, một người theo chủ nghĩa tự do, và Vladimir Lenin, người theo chủ nghĩa Mác, đã thêm cho thuật ngữ này một ý nghĩa kinh tế vĩ mô lý thuyết. Đặc biệt Lenin có ảnh hưởng quan trọng lên những quan niệm của chủ nghĩa Mác sau này về chủ nghĩa đế quốc với tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản. Ở đó, Lenin đã mô tả chủ nghĩa đế quốc là hoạt động bành trướng tự nhiên của chủ nghĩa tư bản phát sinh từ nhu cầu không ngừng mở rộng vốn đầu tư, nguyên vật liệu và nguồn nhân lực của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa theo đó đòi hỏi mở rộng thuộc địa. Quan niệm chủ nghĩa đế quốc như một đặc trưng về cấu trúc của chủ nghĩa tư bản này đã được lặp lại bởi các nhà lý luận Mác-xít về sau. Nhiều lý thuyết gia phái tả cũng nối gót nhấn mạnh đến đặc điểm về cấu trúc và hệ thống của chủ nghĩa đế quốc. Họ mở rộng quãng thời gian gắn liền với thuật ngữ để cho chủ nghĩa đế quốc hiện nay không phải nhắc đến một chính sách hay một khoảng ngắn vào cuối thế kỷ XIX mà là một hệ thống tầm cỡ thế giới kéo dài hàng thế kỷ, thường khởi nguồn từ thời Christopher Columbus hay các cuộc thập tự chinh theo một số mô tả. Khi mà ứng dụng của thuật ngữ đã rộng hơn, ý nghĩa của nó thay đổi theo năm trục riêng biệt nhưng thường song song với nhau: đạo đức, kinh tế, hệ thống, văn hóa, thời gian. Những thay đổi này phản ánh một sự bất ổn gia tăng đi kèm với thực tế các cường quốc, cụ thể là cường quốc phương Tây.[17][18]

Mối tương quan giữa chủ nghĩa tư bản, tầng lớp quý tộc, và chủ nghĩa đế quốc từ lâu đã là đề tài tranh luận giữa các sử gia và lý thuyết gia chính trị; đi đầu trong số đó phải kể đến như J. A. Hobson (1858–1940), Joseph Schumpeter (1883–1950), Thorstein Veblen (1857–1929), và Norman Angell (1872–1967). Hobson lập luận những cải cách xã hội trong nước có thể chữa khỏi căn bệnh quốc tế của chủ nghĩa đế quốc nhờ việc loại bỏ nền tảng kinh tế của nó. Ông cũng đề ra lý thuyết rằng can thiệp nhà nước thông qua thuế có thể thúc đẩy quy mô của hoạt động tiêu thụ, tạo sự thịnh vượng, khuyến khích hòa bình, bao dung và một trật tự thế giới đa cực.[19][20]

Chủ nghĩa đế quốc tại một số quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đế quốc Anh
Hệ quả của Chiến tranh Boer là việc Đế quốc Anh thôn tính hai nước Cộng hòa Boer vào năm 1902

Tham vọng đế quốc của Anh có thể thấy ngay từ thế kỷ XVI. Vào năm 1599 công ty Đông Ấn Anh thành lập và được nữ hoàng Elizabeth trao đặc quyền trong năm tiếp theo.[21] Với sự thành lập của các trạm mậu dịch tại Ấn Độ, người Anh đã có thể duy trì sức mạnh trước các đế quốc khác như Bồ Đào Nha, nước cũng đã thiết lập những trạm mậu dịch tại Ấn Độ từ trước.[21] Vào năm 1767, việc khai thác của công ty Đông Ấn bắt nguồn từ hoạt động chính trị đã gây nên tình trạng bóc lột nền kinh tế địa phương và đẩy công ty này đến bờ vực phá sản.[22] Cho tới năm 1670, Anh đã bộc lộ tham vọng đế quốc lớn lao với các thuộc địa ở Virginia, Bermudas, Honduras, Antigua, Barbados, JamaicaNova Scotia.[22]

Tham vọng đế quốc vô bờ của các nước châu Âu là nguyên nhân dẫn tới những cuộc đụng độ. Anh đã có những sự cạnh tranh với Pháp, ví dụ như trong quá trình thực dân hóa vùng lãnh thổ mà nay được biết tới là Canada. John Cabot đòi vùng Newfoundland cho Anh trong khi người Pháp tạo ra các thuộc địa dọc sông St. Lawrence và tuyên bố đó là "New France" (nước Pháp mới).

Người Anh tiếp tục bành trướng bằng biện pháp thuộc địa hóa các quốc gia như là New Zealand và Australia, đây đều không phải là những vùng đất trống bởi ở đó có những nền văn hóa và cư dân địa phương.[23] Việc sáng lập các quốc gia thịnh vượng chung mà ở đó có sự chia sẻ bản sắc dân tộc đã minh chứng cho các phong trào dân tộc của Anh.[24]

Khói phát ra từ những thùng dầu cháy bên kênh đào Suez trong cuộc tấn công của Anh và Pháp nhằm vào Ai Cập, 5 tháng 11 năm 1956

Đế quốc Anh thứ nhất có nền tảng là chủ nghĩa trọng thương, các thuộc địa liên quan và đất đai chủ yếu ở Bắc Mỹ, vùng Caribe, và Ấn Độ. Sau khi đánh mất các thuộc địa ở Mỹ vào năm 1776, quá trình phát triển của Anh bị đảo lộn. Họ kiếm lại các khoản bù đắp từ Ấn Độ, Australia; và Mỹ Latinh nhờ việc thiết lập một đế quốc kinh tế không chính thức thông qua kiểm soát thương mại và tài chính sau khi các thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trở nên độc lập vào khoảng năm 1820.[25] Tới thập niên 1840, Anh đã cho thông qua chính sách thương mại tự do rất thành công giúp họ thống lĩnh trong hoạt động thương mại của hầu khắp thế giới.[26] Sau khi để mất Đế quốc thứ nhất, người Anh đã chuyển sự chú ý sang châu Á, châu Phi, và Thái Bình Dương. Sau thất bại của Pháp vào năm 1815, nước Anh đã được tận hưởng một thế kỷ thống trị và mở rộng các vùng đất trên toàn cầu mà gần như không gặp phải thách thức. Tinh thần đế quốc chủ nghĩa của Anh được biểu hiện bởi Joseph Chamberlain, Lord Rosebury, và được Cecil Rhodes thực thi tại châu Phi. Mức độ tự trị của những thuộc địa có người da trắng tới định cư tăng lên trong thế kỷ XX.[27]

Vào giai đoạn đỉnh cao của nó, đây là đế quốc lớn nhất trong lịch sử và là cường quốc hàng đầu thế giới trong hơn một thế kỷ. Đến năm 1913, Đế quốc Anh cai trị khoảng 412.224.526 triệu người, chiếm 23% dân số thế giới lúc đó và bao phủ diện tích hơn 35.500.000 km², gần một phần tư tổng diện tích toàn cầu Do vậy, những di sản về văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp của Đế quốc Anh được truyền bá rộng rãi. Vào thời điểm nó đạt tới đỉnh cao của quyền lực, Đế quốc Anh thường được ví với câu nói "đế quốc mặt trời không bao giờ lặn" bởi vì sự mở rộng cương thổ ra toàn địa cầu đồng nghĩa với việc mặt trời luôn chiếu sáng trên ít nhất một trong những vùng lãnh thổ của nó.

Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Bích chương của Pháp về "chiến tranh Madagascar"

"Đế quốc thực dân Pháp thứ nhất" tồn tại đến năm 1814, còn "Đế quốc thực dân thứ hai" khởi đầu với cuộc chinh phạt Algiers vào năm 1830 và kết thúc vào năm 1962 khi Algeri giành độc lập.[28] Lịch sử nước Pháp ghi dấu với nhiều trận chiến lớn và nhỏ, cùng sự trợ giúp lớn lao mà các thuộc địa mang lại cho Pháp trong hai cuộc chiến tranh thế giới.[29]

Vào thế kỷ XVI, hoạt động thuộc địa hóa châu Mỹ của Pháp khởi đầu với sự thành lập của nước Pháp mới. Kế đến là việc nước này thiết lập các trạm mậu dịch ở châu Á và châu Phi trong thế kỷ XVII.

Đến thế kỷ XIX và XX, Pháp đã là đế quốc thực dân lớn thứ hai trên thế giới sau Đế quốc Anh. Tại thời điểm đỉnh cao trong các thập niên 1920 và 1930, diện tích của đế quốc là hơn 4.767.000 dặm2 (12.347.000 km2). Trước thế chiến thứ hai, Pháp kiểm soát gần 1/10 diện tích đất trên Trái Đất cùng 110 triệu cư dân (chiếm 5% dân số thế giới tại thời điểm đó).[30]

Pháp nắm quyền quản lý Algeri từ năm 1830 và bắt đầu tái thiết đế quốc toàn cầu của mình một cách nghiêm chỉnh kể từ sau năm 1850, tập trung chủ yếu ở Bắc Phi, Tây Phi, Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương. Những người cộng hòa ban đầu thù địch với đế quốc, họ chỉ trở nên ủng hộ khi Đức cũng bắt đầu xây dựng đế quốc thực dân của nước này. Khi đã phát triển, đế quốc mới nắm vai trò giao thương, cung ứng nguyên liệu thô, mua các mặt hàng được sản xuất, và cho vay uy tín với mẫu quốc, cũng như truyền bá nền văn minh, ngôn ngữ, và Công giáo. Đế quốc Pháp là nguồn cung nhân lực cốt yếu trong hai cuộc chiến tranh thế giới.[31]

Người Pháp mang tới Kitô giáo và văn hóa Pháp kèm lý lẽ bào chữa về mặt đạo đức đó là nâng tầm thế giới tới trình độ của Pháp. Vào năm 1884 Jules Ferry, người đi đầu dẫn giải về chủ nghĩa thực dân, tuyên bố nước Pháp có sứ mệnh khai hóa: "Những chủng tộc cao cấp có quyền đứng trên những chủng tộc thấp kém hơn, họ có nhiệm vụ khai hóa cho những thành phần thấp kém".[32] Các quyền công dân đầy đủ – ‘’sự đồng hóa’’ – được đem ra, dù trên thực tế đồng hóa luôn luôn là một chân trời xa xôi.[33] Trái ngược với Anh, Pháp chỉ gửi một số lượng nhỏ người di cư tới các thuộc địa, ngoại lệ đáng chú ý duy nhất là Algeri, nơi luôn duy trì một cộng đồng thiểu số người Pháp di cư.

Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Charles de Gaulle và những người Pháp Tự do đã sử dụng các thuộc địa hải ngoại làm căn cứ để từ đó họ chiến đấu vì độc lập của nước Pháp. Tuy nhiên kể từ sau năm 1945 đế quốc bắt đầu bị đe dọa bởi các phong trào chống thực dân. Pháp đã chiến đấu và thất bại trong một cuộc chiến tại Việt Nam vào thập niên 1950, nhưng họ lại thắng cuộc chiến ở Algeri. Dẫu sao, Charles de Gaulle, nhà lãnh đạo Pháp thời điểm đó, đã quyết định trao độc lập cho Algeria vào năm 1962. Những người Pháp di cư và nhiều người ủng hộ tại Algeri đã di dời đến Pháp. Cho đến thập niên 1960, gần như toàn bộ các thuộc địa của Pháp đã giành độc lập, tuy nhiên quốc gia này vẫn giữ được tầm ảnh hưởng ngoại giao và tài chính lớn. Họ đã nhiều lần gửi quân đội tới hỗ trợ các thuộc địa cũ của mình trước đây ở châu Phi để đàn áp các cuộc nổi dậy và đảo chính.[34]

Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Từ quê nhà Scandinavi và Bắc Âu, các bộ lạc Đức đã mở rộng tới khắp vùng Bắc và Tây Âu trong giai đoạn giữa thời cổ đại, Nam Âu cuối thời cổ đại; và vào năm 800 đế quốc Đức đầu tiên, Đế quốc La Mã thần thánh hình thành. Tuy nhiên, đế quốc kế tục của người Đức này không có tính tiếp nối hệ thống từ Đế quốc Tây La Mã và nó hay được mô tả là "không thần thánh, không La Mã, và chẳng phải một đế quốc"[35] bởi một số lượng lớn các nước nhỏ và các công quốc tồn tại trong một liên minh tự trị lỏng lẻo. Mặc dù đến năm 1000 người Đức đã hoàn thành công cuộc chinh phạt Trung tâm, Tây và Nam Âu, chỉ ngoại trừ Iberi của người Hồi giáo; ít có sự hội nhập văn hóa hay bản sắc dân tộc, và "nước Đức" đa phần vẫn là một thuật ngữ về khái niệm đề cập tới một vùng đất vô định hình ở Trung tâm châu Âu.

Đế quốc thực dân Đức.

Không là một cường quốc biển, chẳng phải một quốc gia dân tộc, Đức ít gia nhập xu hướng chủ nghĩa đế quốc phương Tây cho tới cuối thế kỷ XIX. Sau thất bại của Napoleon, người là nguyên nhân khiến Đế quốc La Mã thần thánh tan rã, Phổ và các nhà nước Đức tiếp tục lánh xa chủ nghĩa đế quốc, họ muốn vận dụng hệ thống châu Âu thông qua hội nghị hệ thống (hòa hợp [quyền lực] châu Âu). Chiến tranh Pháp-Đức kết thúc, Phổ hợp nhất các quốc gia khác tạo thành Đế quốc Đức thứ hai; thủ tướng Otto von Bismarck, người phản đối chính sách thu thập thuộc địa từ lâu, biện luận rằng gánh nặng đến từ việc giành lấy, duy trì và bảo vệ những lãnh thổ như vậy là lớn hơn bất kỳ lợi ích tiềm năng nào. Ông cảm thấy rằng các thuộc địa không giúp bù đắp lại chi phí tương xứng cho việc có được nó, rằng hệ thống quan liêu của Đức sẽ không xử lý tốt và những tranh chấp về thuộc địa sẽ làm nước Đức xao lãng đi lợi ích trung tâm của mình là châu Âu.[36]

Tuy vậy, Đức đã bắt đầu xây dựng một đế quốc thực dân ở châu Phi và Nam Thái Bình Dương vào năm 1883-1884. Các nhà sử học đã tranh luận về lý do chính xác tại sao Đức lại thực hiện bước đi đột ngột và ngắn ngủi này.[37] Bismarck nhận thức rằng dư luận đã bắt đầu yêu cầu vấn đề thuộc địa vì thanh thế của người Đức.[38] Đế quốc thực dân Đức được thành lập một cách êm thuận, khởi đầu với New Guinea thuộc Đức vào năm 1884.[39]

Các thuộc địa của Đức bao gồm các lãnh thổ hiện nay ở Châu Phi: Tanzania, Rwanda, Burundi, Namibia, Cameroon, GhanaTogo; ở Châu Đại Dương: New Guinea, Quần đảo Solomon, Nauru, Quần đảo Marshall, Quần đảo Mariana, Quần đảo CarolineSamoa; và ở Châu Á: Thanh Đảo, Chefoovịnh Jiaozhou.

Theo Hiệp ước Versailles, tất cả các thuộc địa của Đức đã bị mất sau Thế chiến I.

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Binh lính Nhật hành quân tiến vào Cổng Tiền, Bắc Kinh, sau khi đã chiếm được thành phố, tháng 7 năm 1937.

Vào năm 1894, Nhật Bản sát nhập Đài Loan trong chiến tranh Thanh-Nhật. Sau chiến tranh Nga-Nhật năm 1905, Nhật Bản chiếm lấy một phần đảo Sakhalin từ tay Nga. Vào năm 1910, Nhật thôn tính Hàn Quốc. Tới thế chiến thứ nhất, Nhật đã chiếm các lãnh thổ mà Đức thuê tại tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc; cũng như các quần đảo Mariana, CarolineMarshall. Trong năm 1918 Nhật chiếm đóng một phần Viễn Đông Nga và Đông Siberi với tư cách là một thành viên tham gia vào cuộc can thiệp Siberi. Vào năm 1931, Nhật Bản chinh phạt vùng Mãn Châu của Trung Quốc. Trong chiến tranh Trung-Nhật năm 1937, quân đội Nhật đã xâm lăng vùng Hoa Trung; và tới thời điểm đỉnh cao trong chiến tranh Thái Bình Dương, Nhật đã chinh phạt hầu khắp Viễn Đông, bao gồm Hồng Kông, Việt Nam, Campuchia, Myanmar, Philippines, Indonesia, một phần New Guinea và nhiều hòn đảo ở Thái Bình Dương. Nhật bản cũng đã xâm lược Thái Lan gây áp lực buộc nước này gia nhập liên minh Thái-Nhật. Cuối cùng, tham vọng thuộc địa của Nhật chấm dứt sau thất bại của họ trong chiến tranh thế giới thứ hai. Các vùng lãnh thổ từng là thuộc địa của Nhật trước đây được duy trì đặt dưới sự quản lý của Mỹ hoặc chủ sở hữu ban đầu của chúng theo những hiệp ước sau chiến tranh.[40][41][42]

Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đế quốc Nga

Vào thế kỷ 17-18, đế chế Nga đã mở rộng tầm kiểm soát sang khu vực Thái Bình Dương, đẩy biên giới của nó đến sát với Đế quốc Thanh. Điều này đã xảy ra sau một số lượng lớn các cuộc xâm lược những vùng đất phía đông, phía tây, và phía nam của các triều đại Sa hoàng. Chiến tranh Ba Lan-Nga năm 1792 đã dẫn đến việc Ba Lan bị 3 cường quốc Áo - Phổ - Nga phân chia, miền đông Ba Lan bị cai trị bởi Nga như một thuộc địa cho đến tận năm 1918. Các chiến dịch phía Nam liên quan đến một loạt các cuộc Chiến tranh giữa Nga và Ba Tư, bắt đầu với Cuộc viễn chinh Ba Tư năm 1796, dẫn đến việc Nga mua lại Gruzia và dựng lên ở đây một chế độ bảo hộ. Từ năm 1800 đến năm 1864, quân đội Hoàng gia Nga bành trướng về phía Nam trong các cuộc chiến ở vùng Kavkaz với Đế quốc Ottoman, Chiến tranh Murid, và Chiến tranh với người Circassian. Cuộc xung đột với người Circassian đã trục xuất dân tộc này khỏi vùng đất quê hương của họ. Cuộc chinh phục Siberia của Nga đã diễn ra vào thế kỷ 16 và 17, dẫn đến việc tiêu diệt hoặc đồng hóa vô số các bộ lạc bản địa khác nhau của người Nga, bao gồm các bộ lạc của người Daur, Koryaks, Itelmens, MansiChukchi. Quá trình thuộc địa hóa của Nga ở Trung và Đông Âu cũng như Siberia và việc tiêu diệt những cư dân bản địa đã được so sánh với mức độ tàn bạo mà thực dân châu Âu (Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha) đã tiến hành trong công cuộc thuộc địa hóa châu Mỹ, đã gây nên những tác động tiêu cực đối với người Siberi bản địa không khác những người da đỏ bản địa ở châu Mỹ. Việc đồng hóa các bộ tộc bản địa ở Siberi đã được tiến hành triệt để đến mức ngày nay các bộ tộc này chỉ có khoảng 180.000 người.

Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Là quốc gia đầu tiên lật đổ được ách cai trị thực dân để giành độc lập, do đó kể từ khi ra đời, Hoa Kỳ đã luôn phản đối chủ nghĩa đế quốc. Điều này đã thay đổi vào cuối thế kỷ 19 khi Mỹ dần mở rộng tầm ảnh hưởng của mình ở khu vực Mỹ Latinh, cũng như xâm lược PhilippinesCuba. Vào đầu Chiến tranh thế giới II, Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã phản đối chủ nghĩa thực dân châu Âu, đặc biệt ông lên án ách cai trị của Anh ở Ấn Độ. Roosevelt cũng bày tỏ mong muốn rằng Liên Hiệp Quốc sẽ giúp đỡ các dân tộc thuộc địa được giải phóng[43]. Tuy nhiên, những tổng thống kế nhiệm đã không tiếp tục thực hiện chính sách của Franklin D. Roosevelt.

Kể từ sau Thế chiến thứ hai, các đời Tổng thống Mỹ đã nhiều lần can thiệp vào nội bộ các quốc gia khác, thâm chí sắn sàng dùng sức mạnh quân sự để tấn công nước khác. Kể từ năm 1946 đến 2015, quân đội Hoa Kỳ đã trực tiếp tấn công 9 quốc gia (Triều Tiên, Việt Nam, Campuchia, Grenada, Afghanistan, Iraq, Nam Tư, Panama, Cuba), các cuộc chiến này gây ra cái chết của 10 tới 15 triệu người. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng gây ra đảo chính hoặc ngầm can dự vào xung đột tại 28 quốc gia khác, gây ra cái chết của 9 tới 14 triệu người. Tổng cộng Hoa Kỳ đã trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra cái chết của khoảng 20 đến 30 triệu người trong các cuộc chiến tranh và xung đột rải rác trên khắp thế giới kể từ năm 1946 đến 2015[44].

Afghanistan[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm 1980, những cải cách của chính phủ xã hội chủ nghĩa Afghanistan nhằm nâng cao giáo dục và tăng quyền tự do cho phụ nữ được tiến hành một cách thô bạo và vụng về đã làm cho các bộ tộc địa phương ở Afghanistan phản đối mãnh liệt và xem đó là hành động tấn công Đạo Hồi. Mỹ đã cung cấp tài chính, huấn luyện và vũ trang cho lực lượng quân sự của phe đối lập để lật đổ nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Afghanistan (được Liên Xô hậu thuẫn) đang cầm quyền. Sau khi Mikhail Gorbachev rút quân đội Liên Xô khỏi Afghanistan vào năm 1989, cuộc nội chiến tiếp tục ở Afghanistan cho tới năm 1992 khi chính phủ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Afghanistan sụp đổ. Những thủ lĩnh quân sự được Mỹ chống lưng đã chia quốc gia thành nhiều mảnh và gia tăng sản lượng thuốc phiện từ 2.000 tấn lên 3.400 tấn mỗi năm.

Năm 1995, lực lượng Taliban lên nắm quyền ở Afghanistan, đã nhận được sự giúp đỡ của các lực lượng phiến quân Hồi giáo cực đoan như al-Qaeda. Chế độ Taliban cũng như đồng minh của họ tuyên bố chống lại Mỹ và Phương Tây, đồng thời thực hiện chính sách cai trị hà khắc và đàn áp phụ nữ ở trong nước. Sau vụ khủng bố tại Mỹ ngày 11 tháng 9 năm 2001 mà al-Qaeda chịu trách nhiệm, Mỹ đã xâm chiếm Afghanistan với lý do là "tiêu diệt những kẻ khủng bố al-Qaeda, lật đổ chế độ Taliban, và lập nên một nhà nước dân chủ". Việc Mỹ can thiệp quân sự vào Afghanistan trên danh nghĩa tiến hành cuộc Chiến tranh chống khủng bố, mặc dù nhận được sự ủng hộ của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có cả NgaTrung Quốc, vẫn bị một số người lên án và coi là hành vi của chủ nghĩa đế quốc.

Sau khi Hoa Kỳ tấn công Afghanistan và dựng lên chế độ thân Mỹ tại đây, quốc gia này vẫn phải đối mặt với không ít khó khăn. Tuy đất nước tiếp tục được khôi phục và tái xây dựng, cuộc đấu tranh chống sự nghèo đói, cơ sở hạ tầng lạc hậu, số lượng mìn dày đặc và nhiều loại vũ khí chưa nổ khác, cũng như việc trồng cấy và buôn bán bất hợp pháp thuốc phiện đang là vấn đề nghiêm trọng. Afghanistan tiếp tục phải đối phó với cuộc nổi loạn của Taliban, những mối đe doạ tấn công từ một số thành viên al Qaeda còn sót lại, và sự bất ổn, đặc biệt tại miền bắc, đã gây ra tình trạng các lãnh chúa bán độc lập.

Trong 3 năm đầu tiên, Afghanistan đã đạt được mức hồi phục và tăng trưởng kinh tế cao. Giá trị GDP thực, không tính thuốc phiện, đã tăng 29% năm 2002, 16% năm 2003, 8% năm 2004 và 14% năm 2005.[45]. Tuy nhiên, tăng trưởng sau đó trở nên bấp bênh, không ổn định, có năm còn bị giảm[46] Theo thống kê của Quỹ tiền tệ thế giới, GDP bình quân đầu người năm 2016 của nước này chỉ đạt 572 USD/người, đứng thứ 176/186 thế giới[47]

Sản xuất thuốc phiện tăng mạnh, chiếm một phần ba tới hai phần ba GDP quốc gia. Chính quyền Taliban giảm được 95% sản lượng thuốc phiện trong khoảng thời gian 1999-2001, nhưng sau sự sụp đổ của Taliban vào năm 2001, quyền lực của các thủ lĩnh quân sự và trùm ma túy đã quay trở lại. Người anh em của tổng thống Karzai, Ahmed Wali Karzai, là trùm ma túy được CIA hậu thuẫn. Sau cuộc tấn công lớn của Mỹ vào tỉnh Kandahar năm 2011, đại tá Abdul Razziq được phong chức cảnh sát trưởng tỉnh này, việc gia tăng các hoạt động buôn lậu heroin đã đem lại cho ông ta 60 triệu USD mỗi năm.[48] Năm 2010, Afghanistan đứng thứ 175/177 trên thế giới về nạn tham nhũng, 175/186 về chỉ số phát triển con người, và từ năm 2004 tại đây sản xuất 5.300 tấn thuốc phiện mỗi năm.

Một cuộc khảo sát được tiến hành với hơn 2.000 người dân Afghanistan sống tại các vùng do chính phủ Afghanistan kiểm soát vào năm 2015 cho thấy: 77% người người được hỏi ủng hộ sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại nước này; 67% ủng hộ sự hiện diện của lực lượng các nước NATO. Mặc dù đất nước còn phải đối mặt với rất nhiều vấn đề, 80% người được hỏi cho rằng việc Mỹ đem quân vào Afghanistan và lật đổ Taliban năm 2001 là một điều tốt. 53% người được hỏi đổ lỗi cho Taliban hoặc al-Qaeda đã gây nên tình trạng hỗn loạn và bạo lực của đất nước hiện nay trong khi chỉ có 12% đổ lỗi cho Hoa Kỳ. Tuy nhiên, 53% người được hỏi cho rằng các cuộc bầu cử ở Afghanistan hiện nay chỉ là trò gian lận, trong khi chỉ 44% tin rằng bầu cử diễn ra công bằng[49].

Bất chấp quân đội của Mỹ và NATO đã đóng quân ở Afghanistan hơn 15 năm nay, Taliban vẫn tiếp tục hiện diện. Taliban nhận được nhiều sự ủng hộ từ người dân ở các bộ tộc, ví dụ như bộ tộc Noorzai ủng hộ Taliban 100%, họ đã quyên góp tiền để Taliban tiếp tục chiến đấu[50]. Ngoài ra, chính phủ Afghanistan cũng cáo buộc Nga đã cung cấp vũ khí cho quân Taliban để tổ chức này hoạt động trên khắp Afghanistan[51], phía Nga phủ nhận và gọi đó là những cáo buộc vô căn cứ nhằm đổ lỗi cho sự thất bại trong việc triệt hạ Taliban[52]. Sức mạnh, động lực, khả năng tài chính và chiến thuật của Taliban được cải thiện trên nhiều mặt. Theo ước tính của Lầu Năm Góc, khoảng 56% lãnh thổ của Afghanistan nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ. Theo một cuộc thăm dò của đài BBC, khoảng 70% diện tích lãnh thổ Afghanistan hiện đang có hoạt động của Taliban, trong đó 4% do Taliban kiểm soát hoàn toàn và 66% lãnh thổ do quân chính phủ kiểm soát nhưng vẫn có sự xuất hiện của phiến quân Taliban. Chính phủ Afghanistan (thân Mỹ) báo cáo rằng họ kiểm soát phần lớn các khu vực, nhưng các cuộc tấn công gần đây của Taliban và các nhóm dân quân Hồi giáo đã vươn tới một số khu vực ở thủ đô Kabul và các vùng lân cận.[53]

Ngoài ra, tình trạng tham nhũng, quản lý kém của Chính phủ Afghanistan cũng gián tiếp làm Taliban mạnh lên. Cảnh sát chính phủ ở nhiều nơi không được trả đủ lương, do đó họ không có tiền để nuôi gia đình. Nhiều người nói rằng họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc bán vũ khí, đạn dược được chính phủ trang bị cho chính họ, người mua thường là dân địa phương, song đôi khi là chiến binh Taliban. Thậm chí một số người còn đào ngũ để gia nhập quân nổi dậy Taliban[54]

Brasil[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1964, tướng Castelo Branco làm đảo chính lập lên chính quyền độc tài quân sự kéo dài suốt 20 năm. CIA đã cung cấp mọi sự hỗ trợ cần thiết để đảm bảo vụ đảo chính thành công, bao gồm tài trợ cho các nhóm sinh viên và lao động đối lập trong biểu tình đường phố, giống như ở UkrainaVenezuela sau này. Lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ đã chờ sẵn để đổ bộ vào Sao Paolo trong trường hợp cần thiết. Giống như các nạn nhân khác trong những cuộc đảo chính được Mỹ hậu thuẫn ở châu Mỹ Latin, tổng thống dân cử Joao Goulart là một chủ đất giàu có, không phải là đảng viên cộng sản, nhưng nỗ lực của ông ta nhằm duy trì vị thế trung lập trong chiến tranh lạnh là không thể chấp nhận được đối với Hoa Kỳ.

Chile[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Salvador Allende, một người có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, trở thành tổng thống vào năm 1970, tổng thống Nixon đã ra lệnh cho CIA lên kế hoạch lật đổ Allende. Để đáp trả lại việc Allende quốc hữu hóa các mỏ đồng và các nhà máy của Mỹ, chính phủ Mỹ đã cắt giảm buôn bán với Chile tạo ra tình trạng khan hiếm và hỗn loạn kinh tế tại quốc gia này (Mỹ là đối tác thương mại hàng đầu của Chile khi đó). CIA và bộ ngoại giao Mỹ đã thực hiện chiến dịch tuyên truyền chống lại Allende ở Chile trong suốt một thập kỷ, tài trợ cho các chính khách bảo thủ, các đảng phái, các công đoàn, các nhóm sinh viên và tất cả các dạng truyền thông, trong khi mở rộng mối quan hệ với quân đội. Nền kinh tế của Chile dưới thời Allende ngày càng lún sâu vào khủng hoảng. Cuối cùng ông ta bị lật đổ bởi cuộc đảo chính quân sự do Augusto Pinochet cầm đầu.

Sau khi tướng Pinochet lên nắm quyền, CIA tiếp tục trả lương cho các sĩ quan người Chile và hợp tác chặt chẽ với cơ quan tình báo Chile (DINA) trong việc chính phủ quân sự giết hại hàng ngàn người và bỏ tù cũng như tra tấn hàng chục ngàn người khác trong suốt 16 năm của chế độ độc tài quân sự Pinochet. Mỹ cũng ủng hộ chiến dịch truy quét những người cộng sản của Pinochet (Chiến dịch Kền kền khoang), chiến dịch mà Pinochet xem là cần thiết để để cứu đất nước thoát khỏi chủ nghĩa cộng sản, đã gây nên cái chết của 3000 người. Nhiều người Chile hiện nay đã đổ trách nhiệm cho Hoa Kỳ trong việc để Pinochet lên nắm quyền và thực thi chính sách độc tài, đồng thời cáo buộc hành động can thiệp của Hoa Kỳ vào Chile là đế quốc. Tuy vậy Chile đã có sự phát triển nhanh về kinh tế trong những năm Pinochet cầm quyền do áp dụng chính sách của Milton Friedman, đến nỗi nhiều người đã ca tụng đó là "Phép màu Chile" [55][56], nhưng các nhà phê bình cho rằng chính sách này cũng đã gây ra những ảnh hưởng tàn phá trong cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1982 đối với Chile.[57][58]

Sau khi thôi chức nguyên thủ vào năm 1990, Pinochet tiếp tục đóng vai trò là Tổng chỉ huy của quân đội Chile cho đến ngày 10/3/1998, khi ông nghỉ hưu và trở thành một thượng nghị sĩ suốt đời và được miễn trách nhiệm hình sự, phù hợp với Hiến pháp năm 1980 do chính ông tạo ra. Tuy nhiên, Pinochet đã bị bắt giữ bởi áp lực quốc tế vào ngày 10 tháng 10 năm 1998 liên quan đến nhiều vi phạm nhân quyền. Tuy nhiên do sức khỏe yếu, ông được ra tù và quản thúc tại gia từ năm 2000, và qua đời năm 2004. Khoảng 300 cáo buộc ở Chilê tố cáo Pinochet vi phạm nhân quyền, trốn thuế và tham ô trong thời gian cai trị của ông ta[59].

Chile về sau đã có sự chuyển giao sang nền dân chủ một cách hòa bình vào cuối thập niên 80, và hiện nay đã trở thành quốc gia phát triển nhất ở Mỹ Latinh. Mặc dù chế độ độc tài của Pinochet bị nhiều người chỉ trích, song cũng không thể phủ nhận những cải tổ kinh tế của ông đã góp phần tạo nên sự phát triển của nền kinh tế vững mạnh của Chile ngày nay [60].

Nicaragua[sửa | sửa mã nguồn]

Anastasio Somosa là nhà độc tài cai trị Nicargua trong suốt 43 năm với sự hỗ trợ của Mỹ, lực lượng Vệ Binh Quốc gia của ông ta tự do thực hiện các tội ác từ thảm sát, tra tấn tới cướp bóc và cưỡng hiếp. Lực lượng Sandinistas được Liên Xô và Cuba chống lưng đã tiến hành chiến tranh du kích chống lại chính quyền của Somosa. Hồ sơ nhân quyền tồi tệ của Nicaragua dưới chế độ cai trị của Somosa cũng dần khiến Chính phủ Mỹ không còn ủng hộ ông ta và cắt viện trợ cho chính quyền của ông ta. Kết cục là Somosa bị lật đổ bởi lực lượng Sandinistas vào năm 1979. Somosa về sau cũng bị Tổng thống Mỹ Carter từ chối cho nhập cảnh vào Hoa Kỳ.

Sau khi Mặt trận Sandinista lên năm quyền, Mỹ đã tích cực viện trợ cho chính phủ mới này để tái thiết lại Nicaragua. Tuy vậy viện trợ ngày càng giảm khi người đứng đầu Sandinista và cũng là lãnh đạo Nicaragua lúc đó là Ortega có ý định biến quốc gia này thành một nhà nước cộng sản như Cuba. Đến thời Tổng thống Reagan thì viện trợ đã bị cắt hẳn vì có bằng chứng cho thấy Sandinista ủng hộ những người nổi loạn FMLN tại El Salvador. Mỹ cũng không chấp nhận việc thêm một chính phủ cánh tả nữa tồn tại ở khu vực Mỹ Latinh, do đó Nhà Trắng đã quyết định tài trợ cho phe đối lập với chính phủ Sandinista. CIA đã tuyển dụng, huấn luyện và hỗ trợ cho lực lượng lính đánh thuê Contra xâm lược Nicaragua nhằm lật đổ chính quyền Sandinista gây nên sự chỉ trích ngày càng tăng bên trong Hoa Kỳ, kể cả tại Nghị viện.

Năm 1986 Tòa án Quốc tế đã tuyên bố Mỹ có tội trong việc tấn công Nicaragua vì đã triển khai lực lượng Contra và phá hoại các cảng biển của Nicaragua. Hoa Kỳ từ chối chấp nhận Tòa án và cho rằng họ không có thẩm quyền đối với những việc quan hệ của quốc gia có chủ quyền. Tòa án yêu cầu Mỹ chấm dứt tấn công và bồi thường chiến tranh cho Nicaragua, nhưng người Mỹ không bao giờ thực hiện. Một số người đánh giá hành động của Mỹ là vi phạm chủ quyền của Nicaragua và coi đó là hành vi mang tính chất đế quốc chủ nghĩa.

Cuba[sửa | sửa mã nguồn]

Mỹ đã hỗ trợ cho chế độ độc tài Batista ở Cuba trong thập niên 1950. Với sự giúp đỡ của Mỹ, kinh tế Cuba có sự phát triển khá cao trong giai đoạn này. Cuba là một trong năm nước phát triển nhất trong khu vực Mỹ Latinh lúc đó, tuy nhiên mức bất bình đẳng giàu nghèo là rất cao, với một phần ba dân số vẫn sống trong nghèo khổ (dù tỉ lệ này vẫn thấp hơn so với nhiều quốc gia Mỹ Latinh khác như Chile, Colombia),[61]. Trong những năm 1950, GDP bình quân đâu người của Cuba gần ngang bằng với Ý[62]. Trong giai đoạn lãnh đạo của Batista, việc ở gần với Hoa Kỳ khiến Cuba trở thành điểm đến quen thuộc đối với giới thượng lưu Mỹ, những chuyến viếng thăm để chơi cờ bạc, đua ngựa và chơi gôn của họ khiến Thủ đô Havana của Cuba được mệnh danh là "Las Vegas của Mỹ Latinh", một "sân chơi dành cho giới tinh hoa của thế giới". Tuy vậy vấn đề tham nhũng, bất bình đẳng, tội phạm, cùng những tệ nạn xã hội như cờ bạc, mại dâm, ma túy tràn lan mà không có biện pháp giải quyết đã khiến cho chế độ Batista chịu sự bất bình ngày càng gia tăng của người dân.

Xã hội Cuba thời Batista có sự phân hóa rất rõ rệt. Trong chế độ Batista, nhiều cơ sở dịch vụ thể hiện sự phân biệt chủng tộc khi có 2 khu dành riêng cho người da đen và da trắng (bể bơi, bãi biển, khách sạn, nghĩa địa...)[63]. Vào những năm 1950, 23,6% dân số Cuba mù chữ. Tại các vùng nông thôn, trên 50% dân số không biết đọc biết viết và 61% trẻ em không có cơ hội tới trường. 87% nhà ở đô thị có điện, nhưng tỷ lệ này ở nông thôn chỉ có 10%. Chỉ có 15% nhà ở nông thôn có hệ thống cấp nước[64] Năm 1958, trên 40% người Cuba thất nghiệp[65] Dân cư Cuba có đặc trưng bởi tình trạng thất nghiệp mạn tính và nghèo đói[66]

Các công ty độc quyền của Hoa Kỳ như Bethlehem Steel Corporation và Speyer nắm quyền kiểm soát tài nguyên quốc gia quý giá của Cuba. Các ngân hàng và toàn bộ hệ thống tài chính của Cuba, tất cả sản xuất điện và phần lớn các ngành công nghiệp đã bị chi phối bởi các công ty Mỹ[67] Các công ty độc quyền của Mỹ sở hữu 25% đất đai của Cuba, gồm những khu vực tốt nhất cho sản xuất[68] 90% xuất khẩu đường thô và thuốc lá của nước này được xuất khẩu sang Mỹ. Năm 1956, các công ty của Mỹ "kiểm soát 90% số điện thoại và dịch vụ điện, khoảng 50% dịch vụ đường sắt, và khoảng 40% trong sản xuất đường thô" theo báo cáo của Bộ Thương mại Mỹ. Lợi nhuận từ các khoản đầu tư này bị các công ty Mỹ thâu tóm, khiến người dân Cuba rất bất mãn[69].

Cựu đại sứ Mỹ Erl Smith nói tại Quốc hội rằng: "Nước Mỹ có ảnh hưởng rất lớn tại Cuba, đại sứ Mỹ là người quan trọng thứ hai ở Cuba, đôi khi quan trọng hơn cả tổng thống Cuba". Để đối phó lại phong trào chống chính phủ ngày càng rộng lớn cũng như để trấn áp các lực lượng đối lập, chế độ Batista đã thực hiện các hành vi bạo lực, tra tấn và hành quyết trên phạm vi rộng lớn; gây nên cái chết của khoảng 20.000 người[70]. Chính phủ Hoa Kỳ đã cung cấp cho Batista máy bay, tàu, xe tăng và các vũ khí tân tiến nhất, chẳng hạn như bom napalm, mà Batista đã sử dụng để chống lại cuộc nổi dậy của dân chúng. Phải đến tháng 3 năm 1958, khi cảm thấy chiến dịch đàn áp của Batista đã đi quá xa, Mỹ lúc này mới ngừng bán vũ khí cho chính quyền của Batista và không lâu sau đó Mỹ đã áp đặt lệnh cấm vận vũ khí đối với chính phủ Batista [71]. Tháng 3/1958, chính phủ Mỹ gợi ý Batista tổ chức bầu cử, Batista nghe theo song người dân Cuba đã thể hiện sự bất mãn với chính phủ của ông ta bằng cách tẩy chay bỏ phiếu. Trên 75% cử tri ở Thủ đô Havana đã tẩy chay bầu cử. Tại một số khu vực như Santiago, tỷ lệ tẩy chay lên tới 98%.[63]

Mất đi sự ủng hộ của Mỹ, chế độ Batista đã sụp đổ sau thắng lợi của Cách mạng Cuba do Fidel Castro lãnh đạo.

Khi Castro lên nắm quyền ở Cuba, vào giai đoạn đầu Mỹ đã không tỏ thái độ chống lại ông ta. Tuy nhiên thái độ của Mỹ thay đổi khi Castro đưa một loạt các nhân vật có tư tưởng cánh tả hoặc ủng hộ chủ nghĩa xã hội như Osvaldo Dorticós, Che Guevara lên nắm giữ các vị trí quan trọng trong bộ máy chính phủ Cuba. Các quan chức cấp cao Mỹ tin rằng Fidel Castro đang muốn biến Cuba thành một nhà nước cộng sản chủ nghĩa và điều này được coi là một mối nguy hại lớn đối với an ninh của nước Mỹ (hòn đảo Cuba chỉ cách lãnh thổ Mỹ vài trăm km). Một số luật mới của Castro cũng khiến Mỹ khó chịu, khi nhiều đất đai vốn do các công ty Mỹ kiểm soát, nay được chính phủ phân chia cho nông dân Cuba. Chính phủ Mỹ phản ứng bằng cách tuyên bố sẽ không cung cấp công nghệ và kỹ thuật viên, đồng thời cắt giảm nhập mía đường của Cuba. Castro từ chối khuất phục Mỹ và thông qua các chính sách còn quyết liệt hơn đối với Mỹ. Vào mùa hè năm 1960, Castro quốc hữu hóa các tài sản của Mỹ trị giá 850 triệu USD, đồng thời đàm phán một thỏa thuận để Liên Xô và các nước Đông Âu mua lượng đường mà Mỹ từ chối nhập khẩu. Để đáp trả, chính phủ Mỹ đã áp đặt lệnh trừng phạt kinh tế đối với Cuba, đồng thời gia tăng các hoạt động chống lại chính quyền Castro[63].

Tù binh bị quân đội Cuba bắt giữ trong Sự kiện Vịnh Con Lợn

Trong những năm tiếp theo, CIA tiến hành chiến dịch quy mô chống lại Cuba, đào tạo các phần tử lưu vong người Cuba tại Florida, Trung Mỹ và nước Cộng hòa Dominica để ám sát và lật đổ chính quyền Castro. Theo Đại sứ Anh tại Hoa Kỳ, David Ormsby-Gore, tình báo Anh cho Mỹ biết rằng đa số người dân Cuba ủng hộ Fidel Castro và sẽ khó mà xảy ra hiện tượng đào ngũ hoặc khởi nghĩa hàng loạt nếu Mỹ xâm lược, điều này cũng đã được chuyển tới CIA nhưng Mỹ bỏ qua điều này CIA rất tự tin là họ đủ khả năng lật đổ chính phủ Cuba, vì đã có kinh nghiệm thành công trước đây như Cuộc đảo chính ở Guatemala 1954.

Hàng loạt các chiến dịch chống Cuba được tình báo Mỹ (CIA) hậu thuẫn bao gồm cả Sự kiện Vịnh Con Lợn (Mỹ cho máy bay ném bom Cuba và yểm trợ một đạo quân gồm 1.300 lính Cuba lưu vong đổ bộ lên Vịnh Con Heo nhằm mục đích lật đổ Fidel Castro, giao tranh đã khiến 100 lính Cuba lưu vong, 4 lính Mỹ và hơn 2.000 dân thường Cuba thiệt mạng); nhiều kế hoạch ám sát Fidel Castro và các quan chức khác; vụ đặt bom năm 1960 (3 người Mỹ bị giết và 2 bị bắt) và các vụ đánh bom khủng bố nhằm vào khách du lịch năm 1997; vụ đánh bom tàu của Pháp tại cảng Havana (ít nhất 75 người chết); vụ tấn công sinh học bằng virus bệnh cúm khiến nửa triệu con lợn chết; và vụ đánh bom máy bay Cuba (78 người chết) của Luis Posada CarrilesOrlando Bosch. Hai hung thủ này vẫn tự do tại Mỹ, trong đó Bosch đã được chính tay tổng thống Geogre Bush ký lệnh ân xá.

Ghana[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1950 và 1960, đã từng có một tổng thống cánh tả nổi bật ở Ghana: Kwame Nkrumah. Ông là thủ tướng dưới thời người Anh cai trị từ năm 1952 đến 1960, khi Ghana độc lập thì ông trở thành tổng thống. Đó là một người xã hội chủ nghĩa, với tư tưởng chống đế quốc, vào năm 1965 ông viết một cuốn sách lấy tên là "Chủ nghĩa thực dân mới: Giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc".

Nkrumah chủ trương thúc đẩy nền văn hóa châu Phi, kêu gọi mở các thư viện quốc tế và nỗ lực hợp tác nghiên cứu về lịch sử và văn hóa. Ông đã tiêu diệt các định kiến về "sự ưu việt tối cao về văn hóa" được áp đặt bởi các sách giáo khoa thời thực dân Anh[72]. Năm 1962, Nkrumah cho khai trương Viện Nghiên cứu Châu Phi.

Một chiến dịch chống hủ tục buộc phụ nữ khoả thân ở phía bắc của đất nước nhận được sự quan tâm đặc biệt từ Nkrumah, ông cũng cho thành lập Liên đoàn Phụ nữ Ghana, nâng cao chương trình nghị sự của chính phủ về dinh dưỡng, nuôi dạy trẻ em và quần áo[73]. Các luật được thông qua vào năm 1959 và 1960 đã chỉ định các vị trí đặc biệt trong quốc hội do phụ nữ nắm giữ, một số phụ nữ được thăng chức lên lãnh đạo. Phụ nữ được vào các trường đại học nhiều hơn, được tham gia nhiều ngành nghề hơn, bao gồm y học và luật pháp, và cũng được tham gia quân đội và không quân. Một số phụ nữ bình dân nhận được sự hỗ trợ từ Phong trào Hợp tác[74].

Năm 1962, Nkrumah đề ra chính sách phổ cập giáo dục, tất cả trẻ em phải được đi học, cũng như đạt được "một nền tảng đọc viết thường xuyên bằng cả tiếng Anh và tiếng bản xứ"[75]. Năm 1961, Nkrumah cho xây Viện tư tưởng Kwame Nkrumah để đào tạo công chức Ghana cũng như thúc đẩy chủ nghĩa liên Phi[76] Năm 1964, Nkrumah đưa ra Kế hoạch Phát triển Bảy năm để Tái thiết và Phát triển Quốc gia, đã xác định giáo dục là một nguồn phát triển chính và kêu gọi mở rộng các trường kỹ thuật.

Nkrumah đề ra chính sách công nghiệp hóa với mục tiêu phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc thực thi kém khiến kế hoạch bị thất bại, đồng thời giá ca cao trên thị trường thế giới sụt giảm đã khiến nền kinh tế Ghana dần rơi vào khủng hoảng. Nợ quốc gia tăng lên tới 1 tỉ USD vào năm 1966. Tuy vậy, một số công trình cũng đem lại lợi ích lâu dài cho đất nước, như là đập sông Volta và bến cảng ở Tema.[77].

Ghana có truyền thống xung đột giữa các bộ tộc, và vấn đề này tiếp diễn trong chính phủ Nkrumah, ông liên tục bị các nhóm đối lập (một số có liên hệ với nước ngoài) có ý định ám sát. Sau vụ ám sát nhắm vào Nkrumah vào tháng 8 năm 1962, 500 chính trị gia đối lập đã bị bắt không qua xét xử với lí do là để "ngăn chặn đảo chính". Trong cuốn sách "Military Rule and the Politics of Demilitarization", tác giả Hutchful cáo buộc rằng Nkrumah đã "thực hiện chính sách cai trị độc tài, đàn áp các nhóm đối lập chính trị trong nước"[78]. Luật sư Ghana- Samuel Adjie Sarfo cho rằng Đạo luật Ngăn chặn (các bất ổn an ninh) cho phép Nkrumah có quyền hành quá lớn, theo đó “Nkrumah đã tạo ra luật của chính mình. Ông ta có thể bỏ tù mười năm bất cứ ai mà không thông qua xét xử. Ông ta có thể bổ nhiệm và sa thải các thẩm phán theo ý muốn. Ông ta đã xóa bỏ một cách triệt để nền dân chủ đa nguyên và biến mình trở thành một tổng thống trọn đời với những quyền hạn không bao giờ bị ngăn cấm để điều hành đất nước như tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân ông ta” [79].

Cuối cùng Nkrumah bị lật đổ trong cuộc đảo chính năm 1966 mà nhiều quan điểm cho rằng tình báo Mỹ (CIA) đã đứng sau hậu thuẫn. CIA đã phủ nhận mọi liên quan nhưng báo chí Anh đưa tin có 40 sĩ quan CIA hoạt động tại đại sứ quán Mỹ đã "cung cấp hào phóng cho các kẻ thù bí mật của tổng thống Nkrumah" và công việc của họ "đã được thưởng công đầy đủ". Cựu sĩ quan CIA John Stockwell tiết lộ thêm về vai trò quyết định của CIA trong vụ đảo chính với cuốn sách "In Search of Enemies". Theo các tài liệu tình báo do Văn phòng sử học Hoa Kỳ công bố sau này, CIA cho rằng "Nkrumah đã làm những việc khiến lợi ích của chúng ta [chính phủ Mỹ] suy yếu nhiều hơn so với bất kỳ người Châu Phi da đen nào khác."[80]

Hiện nay, Nkrumah được nhiều người ghi danh như một anh hùng. Năm 2000, Nkrumah được bình chọn là "Người đàn ông Thiên niên kỷ của châu Phi" bởi những người nghe đài BBC World Service, được BBC mô tả là "Anh hùng giành độc lập dân tộc", và "biểu tượng quốc tế về sự tự do và là lãnh đạo của quốc gia châu Phi da đen đầu tiên từ sau thời thuộc địa"[81] Vào tháng 9 năm 2009, Tổng thống Ghana John Atta Mills tuyên bố ngày 21 tháng 9 năm 2009 (kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Kwame Nkrumah) sẽ trở thành Ngày sáng lập, một ngày lễ theo luật định ở Ghana để kỷ niệm các di sản của Kwame Nkrumah[82]. Người dân Ghana ngày nay có cái nhìn trái chiều về Nkrumah, có những ý kiến cho rằng ông là người hùng dân tộc, có những ý kiến khác lại chỉ trích sự cầm quyền độc đoán của Nkrumah trong những năm làm Tổng thống [83]

Zaire[sửa | sửa mã nguồn]

Patrice Lumumba, chủ tịch đương nhiệm của phong trào Liên Phi Quốc gia Congo, đã tham gia vào quá trình giành độc lập của Congo và trở thành thủ tướng dân cử đầu tiên của Congo năm 1960. Ông ấy bị lật đổ trong cuộc đảo chính được CIA hậu thuẫn của Joseph-Desire Mobutu, vốn là chỉ huy quân đội. Mobutu giao Lumumba cho phe ly khai và lính đánh thuê được Bỉ hậu thuẫn. Lumumba đã chiến đấu ở tỉnh Katanga và bị bắn trong một vụ đọ súng với lính đánh thuê Bỉ.

Mobutu xóa bỏ bầu cử và tự phong mình làm tổng thống năm 1965, cai trị với chế độ độc tài trong suốt 30 năm. Mobutu giết hại các đối thủ chính trị bằng cách treo cổ công khai, tra tấn tới chết và biển thủ khoảng 5 tỷ USD. Nhưng Mỹ tiếp tục ủng hộ Mobutu, ngay cả khi tổng thống Jimmy Carter công khai giữ khoảng cách, Zaire vẫn nhận được 50% tổng số viện trợ quân sự của Mỹ cho khu vực châu Phi cận Sahara. Chỉ cho tới những năm 1990 thì viện trợ của Mỹ mới bắt đầu giảm đi, cho tới khi Mobutu bị Laurent Kabila lật đổ năm 1997 và chết sau đó.

Iran[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1953, CIA và cơ quan tình báo Anh MI6 lật đổ chính quyền dân cử của Mohammed Mossadegh. Trước đó, Iran quốc hữu hóa công nghiệp dầu mỏ bằng bỏ phiếu công khai tại Quốc hội, chấm dứt sự độc quyền khai thác dầu của Anh tại Iran.

Để trả đũa, quân Anh phong tỏa đường biển và cấm vận kinh tế quốc tế. Sau khi tổng thống Eisenhower lên nắm quyền năm 1953, CIA đồng ý với yêu cầu can thiệp của Anh. Một số hoạt động đảo chính ban đầu thất bại khiến vua Shah và gia đình phải trốn sang Italy, CIA chi hàng triệu USD để mua chuộc các quan chức và trả cho các băng đảng để gây bạo loạn trên đường phố Tehran. Mossadegh cuối cùng cũng bị lật đổ và vua Shah trở về nắm quyền. Với sự ủng hộ mạnh mẽ từ phía Anh và Mỹ, triều đình Shah trao cho phương Tây các ngành công nghiệp Iran và đàn áp phe đối lập trong tầng lớp tăng lữ Hồi giáo Shia và những người ủng hộ dân chủ. Chế độ của Shah bị nhân dân căm ghét: Quần chúng nhận thức rằng Shah chịu ảnh hưởng lớn - nếu không nói là con rối - của thế lực phi Hồi giáo phương Tây (Hoa Kỳ)[84][85], rằng văn hóa hưởng thụ Hoa Kỳ đang làm ô uế đất nước Iran; rằng chế độ của Shah quá thối nát,và ngông cuồng[86][87]. tất cả dẫn tới cuộc cách mạng Iran năm 1979.

Guatemala[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến dịch lật đổ một chính quyền ở Iran 1953, CIA tiến hành chiến dịch khác để lật đổ chính quyền dân cử của Jacobo ArbenzGuatemala năm 1954. CIA đã tuyển dụng và đào tạo một đơn vị lính đánh thuê nhỏ dưới sự chỉ huy của một người Guatemala lưu vong tên là Castillo Armas để chiếm đóng Guatemala, với 30 máy bay Mỹ không mang phù hiệu để hỗ trợ đường không. Đại sứ Mỹ Peurifoy chuẩn bị danh sách những người Guatemala cần xử tử, Armas được chỉ định làm tổng thống. Triều đại thân Mỹ sau đó đã dẫn đến cuộc nội chiến kéo dài 40 năm, có ít nhất 200.000 người đã bị giết, phần lớn là thường dân. Đỉnh điểm của cuộc chiến là chiến dịch diệt chủng ở Ixil của tổng thống Rios Montt, ông ta bị tuyên án tù chung thân vào năm 2013 vì vụ diệt chủng đó nhưng sau đó Tòa án Tối cao Guatemala đã vô hiệu hóa bản án về mặt kỹ thuật.

Tài liệu giải mật của CIA cho thấy chính quyền Ronald Reagan đã được cảnh báo về các hoạt động diệt chủng của lực lượng quân sự Guatemala khi chấp thuận viện trợ quân sự cho quân đội này vào năm 1981, bao gồm các xe quân sự, linh kiện máy bay trực thăng và cố vấn quân sự.

Iraq[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1958, sau khi vương triều phong kiến do Anh hậu thuẫn bị tướng Abdul Qasim lật đổ, CIA đã thuê người thanh niên Iraq 22 tuổi có tên Saddam Hussein để ám sát vị tổng thống mới. Hussein thất bại và phải trốn sang Lebanon, CIA thuê cho ông ta một căn hộ ở Beirut và sau đó chuyển ông ta tới Cairo làm việc cho cơ quan tình báo Ai Cập.

Qasim bị giết trong cuộc đảo chính của những người theo đảng Baath do CIA hậu thuẫn, giống như ở Guatemala và Indonesia, CIA đưa cho chính phủ mới danh sách gồm ít nhất 4.000 đảng viên Cộng sản cần thủ tiêu. Nhưng khi đã nắm được quyền lực thì chính phủ của đảng Baath không cam chịu bị chi phối bởi phương Tây, họ quốc hữu hóa ngành công nghiệp dầu mỏ của Iraq, áp dụng chính sách ngoại giao Arab, xây dựng hệ thống giáo dục và y tế tốt nhất trong thế giới Arab.

Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell giơ ra chiếc lọ chứa thứ mà ông gọi là vũ khí hủy diệt hàng loạt của Iraq tại trụ sở Liên Hợp quốc ngày 5/2/2003, tạo cớ cho Hoa Kỳ tấn công Iraq sau đó 1 tháng. Thực ra, đây chỉ là một thứ bột vô hại

Năm 1979, Hussein trở thành tổng thống, ông tiếp tục các cải cách xã hội và trấn áp các đối thủ chính trị của đảng Baath. Được Mỹ và cả Liên Xô cổ vũ, ông ta tiến hành chiến tranh chống Iran. Trong cuộc chiến này, quân đội Iraq đã rất nhiều lần thực hiện các vụ tấn công bằng vũ khí hóa học, trong đó có cả những vụ tấn công nhằm vào dân thường, chẳng hạn như ở thị trấn Sardasht [88]. Hầu hết những cuộc tấn công này đều được tiến hành theo mệnh lệnh của Saddam. Tuy vậy cả Mỹ và Liên Xô đều không có phản ứng gì đối với những cáo buộc về việc quân đội Iraq sử dụng vũ khí hóa học.

Sau khi Iraq xâm lược Kuwait, một quốc gia đồng minh của phương Tây ở Trung Đông vào năm 1991 thì Mỹ đổi lập trường từ ủng hộ chuyển sang chống lại Hussein với cáo buộc ông ta là nhà độc tài và lật đổ ông ta sau khi Mỹ xâm lược Iraq vào năm 2003 với cáo buộc Iraq sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt (những vũ khí này đã không thể được tìm thấy sau đó do Hussein đã phá hủy hầu hết kho vũ khí hủy diệt hàng loạt vào năm 1998) [89].

Năm 2015, Thủ tướng Anh Tony Blair trong cuộc phỏng vấn với CNN đã thừa nhận các báo cáo về việc sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt tại Iraq là sai sự thật. Tuy nhiên ông này tỏ ra không hề tiếc nuối khi đã đem quân lật đổ Saddam, và cho rằng Saddam "là một nhà độc tài tàn bạo, kẻ đã gây nên cái chết của khoảng 250.000 người"[90]. George W. Bush cho biết mình cảm thấy "thất vọng" về thông tin tình báo bị sai lệch, nhưng ông cũng cho rằng việc lật đổ Saddam là điều cần thiết: "Tôi hoàn toàn nhận thức được rằng cơ quan tình báo CIA đã sai, và tôi cũng thất vọng như mọi người. Nhưng những điều không thể phủ nhận được là Saddam Hussein đã từng xâm lược một đất nước, ông ta đã từng sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt, ông ta có khả năng sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt, ông ta bắn vào phi công của chúng ta. Ông ta là một nhà tài trợ cho chủ nghĩa khủng bố. Tiêu diệt Saddam Hussein là điều đúng đắn cho nền hòa bình thế giới và an ninh của đất nước chúng ta" [91].

Người dân Iraq chào đón lính Mỹ tiến quân vào Baghdad để lật đổ Hussein

Khi Hussein bị lật đổ, nhiều người dân Iraq đã đổ ra đường ăn mừng và còn cùng nhau kéo sập bức tượng khổng lồ của ông ta [92] Khi Saddam Hussein bị treo cổ, nhiều kẻ thù của Saddam đã nổ súng chào mừng. Năm 2006, một cuộc thăm dò ý kiến cho thấy 52% số người Iraq được hỏi tin rằng đất nước Iraq đang đi đúng hướng và 61% cho rằng việc lật đổ Saddam Hussein là một điều đúng đắn [93].

Tuy nhiên, sự hỗn loạn kể từ sau cuộc chiến Iraq, những xung đột sắc tộc kéo dài đã khiến nhiều người Iraq phản đối Saddam xem xét lại quan điểm của họ về cái gọi là "sự tàn nhẫn" nhưng giúp duy trì một xã hội ổn định suốt 35 năm nắm quyền của Saddam. Hiện nay, ngày càng nhiều người Iraq tỏ ý tiếc nuối về sự ra đi của Saddam và nhìn lại kỷ nguyên của ông này với sự luyến tiếc. Ngày càng nhiều người Iraq tới thăm mộ ông để tỏ lòng kính trọng ông, nhiều người đã coi ông là một chiến sĩ "Tử vì đạo"[94]

Sau khi Saddam Hussein bị lật đổ, Iraq hoàn toàn thiếu vắng một nhà lãnh đạo cứng rắn và biết đoàn kết các bộ tộc, chính phủ thân Mỹ thì tham nhũng trong khi lính Mỹ hiện diện khắp nơi khiến người dân nước này rất bất mãn. Do vậy, các mâu thuẫn ngày càng tích tụ và âm mưu ly khai của các nhóm sắc tộc ở Iraq nhanh chóng bùng phát. Các phe phái địa phương ở Iraq nổi loạn khắp nơi. Đất nước Iraq chìm trong chiến tranh suốt từ nằm 2003 tới nay. Tính tới năm 2018, đã có khoảng 600.000 người Iraq thiệt mạng và hàng triệu người khác phải ly tán trong 15 năm chiến tranh tại quốc gia này[95]

Theo ý kiến của Phó Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Thị Bình, Saddam Hussein là người rất ủng hộ phong trào giành độc lập ở châu Á, châu Phi khỏi ách cai trị của thực dân phương Tây. Ông có thái độ giao tiếp thân mật, gần gũi chứ không hung hăng như truyền thông phương Tây thường mô tả, và lý do để Mỹ-Anh tấn công Iraq thực chất chỉ là "những lời nói dối xấu xa". Bà này cũng nhắc tới việc Saddam từng ủng hộ to lớn cho Việt Nam trong giai đoạn nước này còn gặp rất nhiều khó khăn[96]:

Chuyến đi Iraq năm 1975 để lại cho tôi một kỷ niệm sâu sắc. Lúc đó, Saddam Hussein mới là Phó Tổng thống, nhưng được dư luận coi là "người hùng" ở Iraq. Khi nghe chúng tôi trình bày yêu cầu bức xúc của Việt Nam, ông trả lời ngay: "Chúng tôi đã quyết định tặng Việt Nam 400 ngàn tấn dầu và cho vay 1,5 triệu tấn với lãi suất ưu đãi". Chúng tôi rất xúc động trước tấm lòng của các bạn Iraq. Sau này khi Iraq bị cấm vận, phải đổi dầu để lấy lương thực, các bạn vẫn dành cho Việt Nam những hợp đồng trao đổi thương mại rất thuận lợi trong lúc chúng ta còn nhiều khó khăn về kinh tế.
Năm 2002, tôi đến Iraq lần cuối để giải quyết món nợ kéo dài hơn 20 năm còn chưa trả xong. Theo ý kiến của các đồng chí ở Chính phủ, chúng ta đề nghị chuyển số tiền nợ thành số vốn đầu tư vào một dự án kinh tế ở Việt Nam. Khi tôi gặp ông Saddam Hussein trình bày ý kiến này thì ông cười, nói ngay: "Các bạn Việt Nam không nên bận tâm. Tôi biết các bạn còn khó khăn, ta xem như số nợ này đã trả." Thật xúc động khi biết rằng trong thời điểm đó Iraq bị Mỹ cấm vận, khó khăn chồng chất về các mặt.
Tình hình Iraq đến nay diễn biến ra sao, chúng ta đều biết. Tổng thống Hoa Kỳ G. Bush phát động chiến tranh đánh Iraq với lý do Saddam Hussein có quan hệ với lực lượng khủng bố Al-Queda và tàng trữ vũ khí hủy diệt. Thực tế đã chứng minh đó là những lời nói dối xấu xa, những cái cớ giả mạo Hoa Kỳ đã dựng lên để thực hiện mưu đồ ích kỷ của họ. Saddam Hussein có sai lầm gì trong đối nội, đối ngoại, có tội lỗi gì với nhân dân của ông, lịch sử của Iraq sẽ phán xét. Nhưng đối với Việt Nam, tôi nghĩ chúng ta biết ơn sự giúp đỡ quý báu của ông trong những năm Việt Nam vừa ra khỏi chiến tranh".

Những người phản đối cho rằng hành động can thiệp quân sự của Mỹ thực chất là 1 cuộc chiến vì dầu mỏ, trong đó Mỹ-Anh muốn dựng lên 1 chính phủ thân phương Tây để mở cửa cho các công ty Mỹ và Anh vào khai thác nguồn tài nguyên dầu khí phong phú của Iraq. Dù không tìm thấy vũ khí hủy diệt hàng loạt, cũng không có người Mỹ-Anh nào phải chịu trách nhiệm hay bị “xử lý” vì những thông tin sai và vô căn cứ cả, tất cả đều "vô can". Những quan điểm này cho rằng: Chủ quyền của Iraq đã bị xâm phạm, Tổng thống nước này bị lật đổ và xử tử, còn người dân Iraq thì phải hứng chịu bao khổ đau do chiến tranh gây ra.[97]. Những ý kiến phản đối này cũng cho rằng việc Mỹ đem quân lật đổ chính quyền Saddam Hussein là hành vi xâm lược mang tính chất của chủ nghĩa đế quốc.

Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Global Research, cựu nhân viên Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (NSA), Edward Snowden, đã tiết lộ rằng tình báo Anh, tình báo Mỹ và tình báo Israel (Mossad) đã làm việc với nhau để tạo ra ISIL. Các tài liệu mật bị rò rỉ tiết lộ rằng nhà lãnh đạo ISIL, giáo sĩ Abu Bakr Al-Baghdadi, đã được huấn luyện quân sự trong suốt một năm dưới sự đào tạo của Mossad, bên cạnh các khóa học về thần học và nghệ thuật phát biểu[98][99][100][101]. Người đứng đầu Viện nghiên cứu vì hòa bình và thịnh vượng Ron Paul, ông Daniel McAdams giải thích rằng: "Thực ra, "phe ôn hòa" (trong cuộc nội chiến Syria) đã được trợ giúp bởi người Mỹ từ lâu, họ đã chiến đấu bên cạnh những người có liên hệ với Al-Qaeda, và sau này là với những chiến binh của ISIS."[102]

Lãnh tụ tối cao Iran, Ali Khamenei cáo buộc rằng Mỹ, Israel và Anh đứng đằng sau tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant tự xưng; ông cho rằng các nước này đã tạo ra Al-Qaeda và Da'esh (tức ISIL) nhằm tạo ra sự chia rẽ và sử dụng chúng trong cuộc chiến chống lại các nước Hồi giáo, nhưng rốt cục các tổ chức này lại quay sang chống lại Mỹ[103].

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Những ý kiến ủng hộ[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù bị nhiều người chỉ trích, tuy nhiên chủ nghĩa đế quốc Mỹ cũng nhận được những ý kiến ủng hộ. Sử gia William Appleman Williams cho rằng chủ nghĩa đế quốc Mỹ đem lại "tinh thần về công lý, thịnh vượng và an ninh"[104]. Max Boot bênh vực chủ nghĩa đế quốc Mỹ với lý do rằng: "chủ nghĩa đế quốc Mỹ là lực lượng hiệu quả nhất thế kỷ qua. Nó đã đánh bại cộng sản và phát xít, và đã can thiệp để đánh bại chế độ diệt chủng Taliban và Serbia[105]". Bản thân Boot cũng thừa nhận điều này, cho rằng nó đã "khởi phát từ 1803"[106][107]. Sử gia người Anh Niall Ferguson cho rằng những gì tích cực mà người Mỹ làm nhiều hơn những điều tiêu cực họ để lại[108][cần số trang]. Theo Victor David Hanson, Hoa Kỳ "không có ý định bá quyền mà xây dựng một hệ thống có lợi cho tất cả các bên"[109]. Ngay bản thân thủ lĩnh độc lập Philippines Emilio Aguinaldo cũng công nhận dù Hoa Kỳ đã để lại sự tàn phá tan hoang ở Philippines, nhưng họ cũng gián tiếp giúp người Philippines thoát khỏi sự cai trị của thực dân Tây Ban Nha[110]. Có người cho là là chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ dù cũng theo đuổi sự bá quyền, song chỉ là tạm thời. Sử gia Samuel Flagg Bemis cho rằng Chiến tranh Tây Ban Nha–Mỹ chỉ là chủ nghĩa bành trướng tạm thời, là "một dấu mốc lịch sử Hoa Kỳ", không giống như sự bành trướng lãnh thổ thế kỷ 19 của Hoa Kỳ[111]. Những người ôn hoà quốc tế cho rằng Hoa Kỳ, dù đang thống trị ảnh hưởng quốc tế, nhưng không phải là một đế chế theo cách hiểu của thế kỷ 19, và được học giả John Ikenberry nhìn nhận tương tự[112]. Joseph Nye cho rằng Hoa Kỳ tìm cách xây dựng một đế chế văn hóa hơn là chính trị, quân sự bởi ảnh hưởng văn hóa như âm nhạc, phim ảnh, kinh tế, cũng như sự di cư liên tục vào Hoa Kỳ trong những năm qua[113]. Nhưng rất khó để biết chắc chắn liệu Hoa Kỳ sẽ vẫn duy trì uy thế của nó mà không có ưu thế quân sự và kinh tế.

Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ nghĩa Đế quốc Xô viết được sử dụng bởi những người đối lập chỉ trích Liên Xô và những người thuộc các dân tộc thiểu số theo tư tưởng ly khai ở Liên Xô để nhắc về chính sách chính trị của nhà nước này trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh[114]. Nhiều người chỉ trích Liên Xô về sự can thiệp vào chính trị nội bộ của những quốc gia độc lập có chủ quyền, song bị chi phối và bị ảnh hưởng bởi Liên Xô thuộc Khối Warszawa cũng như tại các nơi khác như Afghanistan, bao gồm Sự kiện năm 1956 ở HungaryMùa xuân Praha, các nhà nước đó thường được coi là các quốc gia vệ tinh (một số người còn coi đó là các nhà nước chư hầu) của Liên Xô. Cũng như Mỹ, Anh hoặc Pháp, Liên Xô duy trì một hệ thống căn cứ quân sự ở nước ngoài để bảo vệ lãnh thổ và ảnh hưởng của mình.

Mặc dù Liên Xô coi mình là thế lực phi đế quốc và là một nhà nước dân chủ nhân dân, những nhóm chỉ trích chính quyền Liên Xô lại cáo buộc nó là một nhà nước theo chủ nghĩa đế quốc trá hình[115] Do sự giống nhau về lãnh thổ với Đế quốc Nga trước đây, các nhóm sắc tộc theo chủ nghĩa ly khai ở Nga coi Liên Xô là nhà nước kế vị của Đế quốc Nga với tham vọng tiếp tục bành trướng lãnh thổ cho dân tộc Nga[116][117]. Một số thậm chí cáo buộc Liên Xô chỉ là một nhà nước đế quốc thực dân kiểu cũ[118], trong khi những người theo chủ nghĩa Mao cáo buộc Liên Xô thực chất là một đế chế trá hình trong hình thức quốc gia xã hội chủ nghĩa. Một vấn đề nữa là văn hóa, như ý đồ Nga hóa và Xô viết hóa hệ thống chính trị, giáo dục và xã hội ở các nước khác[119].

Nhà nước Liên Xô được nhìn nhận là một nhà nước tập quyền. Trung tâm của nó, Nga, cũng không hoàn toàn là một nhà nước thuộc địa do sự phân tầng kinh tế khác nhau đa dạng cũng như những đặc điểm kinh tế giữa các vùng trong khu vực cũng được xem xét kỹ lưỡng, chẳng hạn như những hành động khai thác tài nguyên ở Ba Lancác nước Baltic hậu Chiến tranh thế giới thứ hai. Một đặc điểm rõ ràng là tư tưởng mở rộng sự ảnh hưởng của xã hội chủ nghĩa của Liên Xô bằng các khoản viện trợ quốc tế nhằm làm tăng ảnh hưởng tại các nước nhận viện trợ[120]. Các khoản viện trợ cho các nước nghèo làm hao mòn kinh tế và tài nguyên khiến Liên Xô cũng phải gánh hậu quả. Sau khi Liên Xô tan rã, Nga, nước kế thừa Liên Xô, phải chịu nợ lên tới 103 tỷ dollar, trong khi chính họ đã cấp cho các nước khác những khoản vay hoặc viện trợ lên tới 140 tỷ dollar.

Ngược lại, những người ủng hộ Liên Xô bác bỏ những quan điểm này. Họ dẫn chứng rằng Liên Xô đã giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc ở Á – Phi – Mĩ Latinh trong cuộc đấu tranh giành độc lập, chống lại chủ nghĩa thực dân của các nước Châu Âu, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của Mĩ và phương Tây, ủng hộ các phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Những năm 1960, trong cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc được Liên Xô ủng hộ, đã có khoảng 100 quốc gia giành được độc lập dân tộc, một số nước không ngừng ủng hộ mạnh mẽ phong trào Xã hội chủ nghĩa, chọn đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa với những mức độ khác nhau[121].

Khi các nước hậu thuộc địa đầu tiên bắt đầu giành được độc lập ở châu Phi, Trung Đông, châu Á và Mỹ Latinh, Liên Xô đã hỗ trợ vật chất to lớn đối với các quốc gia này. Ai Cập của Gamal Abdel Nasser, Indonesia của Sukarno, và Ấn Độ của Jawaharlal Nehru đều được hưởng lợi từ chính sách này. Đến năm 1965, viện trợ của Liên Xô cho các nước mới giành độc lập đã vượt qua 9 tỷ USD, gồm cả hỗ trợ kinh tế lẫn quân sự. Dù không trở thành một phần của hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhà máy thép đầu tiên của Ấn Độ đã được xây dựng như là quà tặng của Liên Xô. Người Việt Nam đã đánh bại thực dân Pháp và sự can thiệp của Mỹ nhờ khoản viện trợ vũ khí từ Liên Xô. Khi Vương quốc Anh, PhápIsrael xâm lược Ai Cập vào năm 1956, Liên Xô đã hỗ trợ nước này đẩy lui các thế lực thực dân cũ. Nhiều nước châu Phi và Mỹ La tinh cũng được hỗ trợ tương tự. Hàng triệu sinh viên từ các nước nghèo được Liên Xô giáo dục miễn phí về kỹ thuật, nông nghiệp và các ngành khác. Sức mạnh của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa có thể coi là một cực tiến bộ trong hơn 70 năm, không chỉ chống lại các cuộc chiến tranh đế quốc mà còn là nguồn cảm hứng và cơ sở hậu thuẫn cho chủ nghĩa xã hội và phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh[122] Tại hội nghị ở Havana, Liên Minh các quốc gia châu Phi do Oliver Tambo dẫn đầu đã nhận xét về những lời chỉ trích Liên Xô từ các nước phương Tây: "Liên bang Xô viết, Cuba, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã giúp cho nhiều đất nước ở đây tồn tại đến ngày hôm nay, trở thành các quốc gia độc lập. Đó là một "tội ác" chống lại các nước đế quốc (phương Tây). Chúng tôi hiểu điều đó"[122].

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nước Tần chinh phục sáu vương quốc khác và thiết lập quốc gia Trung Hoa thống nhất đầu tiên, Trung Quốc bước vào thời kỳ Đế Quốc lâu dài nhất trong lịch sử thế giới, từ Tần trải dài đến Đại Thanh, Trung Quốc sở hữu công nghệ, nền văn minh kinh tế vượt trội hơn hẳn thế giới lúc bấy giờ. Là trung tâm văn hóa, chính trị quyền lực của khu vực Đông Á và có ảnh hưởng đối với các vùng đất, vuơng quốc xung quanh. Trung Quốc dưới các triều đại khác nhau đều khơi mào các cuộc chiến tranh xâm lược các nước khác (Điệ Vit, Triều Tiên, Nhật Bản,...), cho đến thời kỳ Đảng Cộng sản nắm quyền dù tiền sử là nạn nhân Chủ nghĩa Đế quốc Thực dân thế kỷ 19-20, nhưng xét thấy hiện tại Trung Quốc có các hành động, chiến lược thể hiện quyền lực, mở rộng tầm ảnh hưởng ra thế giới.

Tây Ban Nha[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thế kỷ thứ 15 và 16, đế chế Tây Ban Nha là quốc gia tiên phong cho phong trào thám hiểm thế giới và chủ nghĩa bành trướng thuộc địa của châu Âu cũng như tiên phong trong việc mở các lộ trình giao thương qua đại dương, với việc thông thương phát triển nở rộ qua Đại Tây Dương giữa Tây Ban Nha với Mỹ và qua Thái Bình Dương giữa Châu Á - Thái Bình dương với México qua Philippines. Những người Tây Ban Nha đi khai phá thuộc địa đã dùng vũ lực để tiêu diệt những nền văn minh bản địa như Aztec, Inca, Maya và tuyên bố chủ quyền với một dải đất bao la ở BắcNam Mỹ. Trong một khoảng thời gian, đế chế Tây Ban Nha thống trị các đại dương nhờ hạm đội tàu giàu kinh nghiệm, một sức mạnh bậc nhất toàn cầu, và họ thống trị những chiến trường ở châu Âu với một lực lượng bộ binh dày dạn và thiện chiến có tên là tercios. Tây Ban Nha trải qua thời kỳ vàng son về văn hóa trong thế kỷ 16 và 17. Tuy nhiên, đến thế kỷ 18-19, Tây Ban Nha suy yếu bởi sự nổi lên của Đế chế Anh, hầu hết các thuộc địa của họ ở Nam Mỹ đã vùng dậy giành độc lập.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ S. Gertrude Millin, Rhodes, London: 1933, p.138.
  2. ^ “Imperialism”. Oxford Dictionaries. Oxford University Press. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2016. 
  3. ^ Mary Gallaher, et al. Key concepts in political geography (Sage, 2009).
  4. ^ Edward W. Said. Culture and Imperialism. Vintage Publishers, 1994. P. 9.
  5. ^ a ă â Howe, Stephen. Empire: A Very Short Introduction. Oxford: Oxford UP, 2002. Print.
  6. ^ James, Paul; Nairn, Tom (2006). Globalization and Violence, Vol. 1: Globalizing Empires, Old and New. London: Sage Publications. tr. xxiv. 
  7. ^ a ă Magnusson, Lars (1991). Teorier om imperialism (bằng tiếng Thụy Điển). Södertälje. tr. 19. ISBN 91-550-3830-1. 
  8. ^ a ă "Imperialism." 'International Encyclopedia of the Social Sciences, 2nd edition.
  9. ^ “The United States and its Territories: 1870–1925 The Age of Imperialism”. University of Michigan. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011. 
  10. ^ Louis, Wm. Roger. (1976) Imperialism page 4.
  11. ^ Christopher, A.J. (1985). “Patterns of British Overseas Investment in Land”. Transactions of the Institute of British Geographers. New Series 10 (4): 452–466. doi:10.2307/621891. 
  12. ^ Joe Painter (1995). Politics, Geography and Political Geography: A Critical Perspective. E. Arnold. tr. 114. 
  13. ^ Painter, J. & Jeffrey, A., (2009). Political Geography 2nd ed., Sage. pg. 183–184
  14. ^ Painter, J. & Jeffrey, A., (2009). Political Geography 2nd ed., Sage. pg.184
  15. ^ Harvey, D., (2006). Spaces of Global Capitalism: A Theory of Uneven Geographical Development, Verso. pg. 91
  16. ^ a ă â Adas, Michael; Peter N. Stearns (2008). Turbulent Passage A Global History of the Twentieth Century . Pearson Education, Inc. tr. 54–58. ISBN 0-205-64571-2. 
  17. ^ Mark F. Proudman, "Words for Scholars: The Semantics of 'Imperialism'", Journal of the Historical Society, Sept. 2008, Vol. 8 Issue 3, p395-433
  18. ^ D. K. Fieldhouse, "Imperialism": A Historiographical Revision," South African Journal Of Economic History, (1992) 7#1 pp 45-72
  19. ^ P. J. Cain, "Capitalism, Aristocracy and Empire: Some 'Classical' Theories of Imperialism Revisited," Journal of Imperial and Commonwealth History, (2007) 35#1 pp 25-47
  20. ^ G.K. Peatling, "Globalism, Hegemonism and British Power: J. A. Hobson and Alfred Zimmern Reconsidered," History (2004) 89#295 pp 381-398
  21. ^ a ă Painter, J. & Jeffrey, A., (2009). Political Geography 2nd ed., Sage. pg. 174
  22. ^ a ă "British Empire"British Empire | historical state, United Kingdom | Encyclopædia Britannica Online
  23. ^ Painter, J. & Jeffrey, A., (2009). Political Geography 2nd ed., Sage. pg. 175
  24. ^ Painter, J. & Jeffrey, A., (2009). Political Geography 2nd ed., Sage. pg. 147
  25. ^ Piers Brendon, The Decline and Fall of the British Empire, 1781–1997 (2008) p 61
  26. ^ Lawrence James, The Rise and Fall of the British Empire (1997) pp 169-83
  27. ^ James, The Rise and Fall of the British Empire (1997) pp 307-18
  28. ^ Robert Aldrich, Greater France: A History of French Overseas Expansion (1996)
  29. ^ Anthony Clayton, The Wars of French Decolonization (1995)
  30. ^ Martin Thomas, The French Empire Between the Wars: Imperialism, Politics and Society (2007) covers 1919–1939
  31. ^ Winfried Baumgart, Imperialism: The Idea and Reality of British and French Colonial Expansion, 1880–1914 (1982)
  32. ^ Emmanuelle Jouannet (2012). The Liberal-Welfarist Law of Nations: A History of International Law. Cambridge UP. tr. 142. 
  33. ^ Raymond Betts, ‘'Assimilation and Association in French Colonial Theory, 1890–1914 (2005)
  34. ^ Tony Chafer, ‘’The End of Empire in French West Africa: France’s Successful Decolonization?’’ (2002)
  35. ^ attributed to Voltaire
  36. ^ Thomas Pakenham, ‘’The Scramble for Africa: White Man’s Conquest of the Dark Continent from 1876 to 1912 (1992) ch 12
  37. ^ Paul M. Kennedy, The Rise of the Anglo-German Antagonism, 1860–1914 (1988) ch 10
  38. ^ Hans-Ulrich Wehler, "Bismarck's Imperialism 1862–1890," Past & Present, (1970) 48: 119–55 online
  39. ^ Hartmut Pogge von Strandmann, "Domestic Origins of Germany's Colonial Expansion under Bismarck" Past & Present (1969) 42:140–159 online; Crankshaw, pp. 395–7
  40. ^ Joseph A. Mauriello. “Japan and The Second World War: The Aftermath of Imperialism” (PDF). Lehigh University. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2013. 
  41. ^ “Japanese Imperialism 1894–1945”. National University of Singapore. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2013. 
  42. ^ “The Japanese Empire 1942”. The History Place. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2013. 
  43. ^ D. Ryan; V. Pungong (2000). The United States and Decolonization: Power and Freedom. Palgrave Macmillan UK. tr. 64–65. ISBN 978-0-333-97795-8. 
  44. ^ US Has Killed More Than 20 Million People in 37 “Victim Nations” Since World War II, James A. Lucas, Global Research, August 05, 2018
  45. ^ Macroeconomics & Economic Growth in South Asia, The World Bank.
  46. ^ Afghanistan GDP Annual Growth Rate, TRADING ECONOMICS
  47. ^ Report for Selected Countries and Subjects, IMF
  48. ^ “35 Countries Where the U.S. Has Supported Fascists, Drug Lords and Terrorists”. Alternet. Truy cập 29 tháng 9 năm 2015. 
  49. ^ “Afghan Futures: A National Public Opinion Survey” (PDF). 29 tháng 1 năm 2015. tr. 4. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |Trích dẫn= (gợi ý |trích dẫn=) (trợ giúp)
  50. ^ http://www.sggp.org.vn/taliban-lay-tien-tu-dau-218945.html
  51. ^ Russia accused of supplying Taliban as power shifts create strange bedfellows
  52. ^ https://www.vietnamplus.vn/nga-phu-nhan-viec-cung-cap-vu-khi-cho-luc-luong-taliban/493997.vnp
  53. ^ Taliban threaten 70% of Afghanistan, BBC finds
  54. ^ https://laodong.vn/the-gioi/canh-sat-afghanistan-ban-vu-khi-cho-taliban-vi-muu-sinh-264377.bld
  55. ^ Angell, Alan (1991). The Cambridge History of Latin America, Vol. VI, 1930 to the Present. Ed. Leslie Bethell. Cambridge; New York: Cambridge University Press. tr. 368. ISBN 978-0-521-26652-9. 
  56. ^ “On the "Miracle of Chile" and Pinochet”. 23 tháng 4 năm 2012. 
  57. ^ Angell, Alan (1991). The Cambridge History of Latin America, Vol. VI, 1930 to the Present. Ed. Leslie Bethell. Cambridge; New York: Cambridge University Press. tr. 318. ISBN 978-0-521-26652-9. 
  58. ^ Leight, Jessica (3 tháng 1 năm 2005). “Chile: No todo es como parece”. COHA. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  59. ^ Chang, Jack; Yulkowski, Lisa (13 tháng 12 năm 2006). “Vocal minority praises Pinochet at his funeral”. Bradenton Herald. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2009. 
  60. ^ Thomas M. Leonard. Encyclopedia Of The Developing World. Routledge. ISBN 1-57958-388-1 p. 322
  61. ^ “The Cuban revolution at 50: Heroic myth and prosaic failure”. The Economist. 30 tháng 12 năm 2008. 
  62. ^ Servando Gonzalez. The Secret Fidel Castro. 
  63. ^ a ă â Fidel Castro - Chân dung một huyền thoại, Vietnamnet, 20/02/2008
  64. ^ Gjelten, Tom (2008). Bacardi and the Long Fight for Cuba: The Biography of a Cause. Viking. tr. 170–. ISBN 978-0-670-01978-6. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2017. 
  65. ^ Brenner, Philip (2008). A Contemporary Cuba Reader: Reinventing the Revolution. Rowman & Littlefield. tr. 8–. ISBN 978-0-7425-5507-5. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2017. 
  66. ^ Cuba Before the Revolution, Samuel Farber, Jacobin
  67. ^ Speech of Senator John F. Kennedy, Cincinnati, Ohio, Democratic Dinner, October 6, 1960, John F. Kennedy
  68. ^ Monzote, Reinaldo Funes (3 tháng 3 năm 2016). “Sugar Cane and Agricultural Transformations in Cuba” (bằng tiếng Anh). 
  69. ^ Johnson, Leland L. (1 tháng 1 năm 1965). “U.S. Business Interests in Cuba and the Rise of Castro”. World Politics 17 (3): 440–459. JSTOR 2009288. doi:10.2307/2009288. 
  70. ^ 35 Countries Where the U.S. Has Supported Fascists, Drug Lords and Terrorists, Nicolas J.S. Davies, AlterNet
  71. ^ Louis A. Pérez. Cuba and the United States. 
  72. ^ George P. Hagan, "Nkrumah's Cultural Policy", in Arhin (1992), The Life and Work of Kwame Nkrumah.
  73. ^ Takiwah Manuh, "Women and their Organizations during the Convention Peoples' Party Period", in Arhin (1992), The Life and Work of Kwame Nkrumah
  74. ^ Takiwah Manuh, "Women and their Organizations during the Convention Peoples' Party Period", in Arhin (1992), The Life and Work of Kwame Nkrumah.
  75. ^ E. A. Hazel, "Education in Ghana, 1951 – 1966", in Arhin (1992), The Life and Work of Kwame Nkrumah.
  76. ^ “National Reconciliation Commission Report”. 2004. tr. 251Bản mẫu:Inconsistent citations 
  77. ^ “Political and Economic History of Ghana”. sjsu.edu. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2012. 
  78. ^ Hutchful, "Military Rule and the Politics of Demilitarization" (1973), pp. 34–37. "At both the local and national level, tight groups or party favorites commanded access to market stalls, publicly financed housing, GNTC supplies and Government contracts. The effect of this was the encouragement of massive corruption in which the President and top party men participated. Both ordinary party businessmen and non-party businessmen could secure needed resources only at a price. This transition of the CPP from an open politico-economic machine, dispensing economic favours in return for support, to the instrument of an avaricious elite concerned only with maximizing its privileges and defending at all cost its monopoloy of power, was particularly responsible for alienating the rank and file of the party who had associated with CPP with their modest economic demands."
  79. ^ The Brutal Dictatorship of Kwame Nkrumah II
  80. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2016. 
  81. ^ "Kwame Nkrumah's Vision of Africa" Lưu trữ 25 July 2013 tại Wayback Machine., BBC World Service, 14 September 2000.
  82. ^ “Nkrumah's birthday declared a holiday”. modernghana.com. 4 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2013. 
  83. ^ https://www.myjoyonline.com/opinion/2017/august-23rd/nkrumah-is-not-founder-of-ghana-he-was-a-good-and-bad-leader.php
  84. ^ Brumberg, Reinventing Khomeini (2001).
  85. ^ Shirley, Know Thine Enemy (1997), p. 207.
  86. ^ Mackay, Iranians (1998), các trang 236, 260.
  87. ^ Harney, The Priest (1998), các trang 37, 47, 67, 128, 155, 167.
  88. ^ Daraghai, Borzou. “1987 Chemical Strike Still Haunts Iran”. Los Angeles Times. 
  89. ^ Lynch, Colum (27 tháng 7 năm 2000). “Ex-U.N. Inspector Ritter to Tour Iraq, Make Documentary”. The Washington Post: A18. Bản gốc (– Scholar search) lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2006. 
  90. ^ "War in Iraq: Not a Humanitarian Intervention". Human Rights Watch. 2004-01-25. Retrieved 2017-05-31. "Having devoted extensive time and effort to documenting [Saddam's] atrocities, we estimate that in the last twenty-five years of Ba'ath Party rule the Iraqi government murdered or 'disappeared' some quarter of a million Iraqis, if not more".
  91. ^ Bush Said to Authorize Prewar Iraq Intelligence Leak
  92. ^ Anton Antonowicz, "Toppling Saddam's Statue Is The Final Triumph For These Oppressed People", The Mirror, 10 April 2003.
  93. ^ “The Iraqi Public on the U.S. Presence and the Future of Iraq” (PDF). World Public Opinion. 27 tháng 9 năm 2006. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008. 
  94. ^ “VietNamNet”. VietNamNet. Truy cập 12 tháng 8 năm 2016. 
  95. ^ https://www.washingtonpost.com/news/politics/wp/2018/03/20/15-years-after-it-began-the-death-toll-from-the-iraq-war-is-still-murky/?noredirect=on&utm_term=.01d504d019b9
  96. ^ Gia đình, bạn bè và đất nước, Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội, 2012, tr 195-196
  97. ^ “Hậu chiến tranh Iraq: Lời tự thú của Mỹ-Anh”. Báo Đất Việt. Truy cập 9 tháng 8 năm 2016. 
  98. ^ “ISIS Leader Abu Bakr Al Baghdadi Trained by Israeli Mossad, NSA Documents Reveal”. Global Research. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 
  99. ^ “Gulf Daily News » World News » Baghdadi 'Mossad trained'. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 
  100. ^ “Former CIA Agent: "The ISIS Leader Abu Bakr Al Baghdadi Was Trained by the Israeli Mossad" - The Moroccan Times”. The Moroccan Times. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 
  101. ^ “To Iran, ISIS is one more American plot”. TIME.com. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 
  102. ^ “Obama's Syrian 'Moderates' Sign Non-Aggression Pact with ISIS”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 
  103. ^ https://plus.google.com/108808445881064805013 (15 tháng 10 năm 2014). “Tin thời sự, Iran cáo buộc Mỹ và Anh đã tạo ra IS Tin tức 24h Vntimes”. Tin trong ngày VNTimes. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 
  104. ^ William Appleman Williams, "Empire as a Way of Life: An Essay on the Causes and Character of America's Present Predicament Along with a Few Thoughts About an Alternative" (New York: Simon & Schuster, 1996), S1.
  105. ^ Max Boot. “American Imperialism? No Need to Run Away from Label”. Op-Ed. Council on Foreign Relations. 
  106. ^ American Imperialism? No Need to Run Away From the Label USA Today May 6, 2003
  107. ^ “Max Boot, "Neither New nor Nefarious: The Liberal Empire Strikes Back," November 2003”. mtholyoke.edu. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2008. 
  108. ^ Ferguson, Niall (2 tháng 6 năm 2005). Colossus: The Rise and Fall of the American Empire. Penguin. ISBN 0-14-101700-7. 
  109. ^ Hanson, Victor Davis (tháng 11 năm 2002). “A Funny Sort of Empire”. National Review. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2009. 
  110. ^ Aguinaldo, Emilio (tháng 9 năm 1899). “Aguinaldo's Case Against the United States” (PDF). North American Review. 
  111. ^ Miller, Stuart Creighton (1982). "Benevolent Assimilation" The American Conquest of the Philippines, 1899–1903. Yale University Press. ISBN 0-300-02697-8.  p. 3.
  112. ^ Ikenberry, G. John (March–April 2004). “Illusions of Empire: Defining the New American Order”. Foreign Affairs. 
  113. ^ Cf. Nye, Joseph Jr. (2005). Soft Power: The Means to Success in World Politics. Public Affairs. 208 pp.
  114. ^ "The borders of the Russian World extend significantly farther than borders of Russian Federation. I fulfill a historic mission in the name of Russian nation, super-ethnos, unified by the Orthodox christianity. Just as in Caucasus, I'm fighting in Ukraine against separatism – this time not Chechen, but Ukrainian one. Because there is Russia, Great Russia, Russian Empire. And now Ukrainian separatists in Kiev are fighting against Russian Empire.", Alexander Borodai, in: Skobov, Aleksandr (ngày 21 tháng 7 năm 2014). “Реконструкция ада” [Reconstruction of Hell]. Grani.ru. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2014. 
  115. ^ Beissinger, Mark R. 2006 "Soviet Empire as 'Family Resemblance,'" Slavic Review, 65 (2) 294-303; Dave, Bhavna. 2007 Kazakhstan: Ethnicity, language and power. Abingdon, New York: Routledge.
  116. ^ Paul Goble (ngày 11 tháng 11 năm 2014). “Russians Dream of ‘Soviet Empire Without Communists,’ Commentators Say”. Interpreter Magazine. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2014. 
  117. ^ Alexander Dugin, Foundations of Geopolitics
  118. ^ Caroe, O. (1953). “Soviet Colonialism in Central Asia”. Foreign Affairs 32 (1): 135–144. JSTOR 20031013. 
  119. ^ Natalia Tsvetkova. Failure of American and Soviet Cultural Imperialism in German Universities, 1945-1990. Boston, Leiden: Brill, 2013
  120. ^ Dmitri Trenin, “Post-Imperium: A Eurasian Story,” Carnegie Endowment for International Peace, 2011. p. 144-145
  121. ^ Cách mạng Tháng Mười và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, Báo điện tử Quân đội nhân dân, 22/10/2017
  122. ^ a ă https://www.telesurtv.net/english/analysis/How-the-Russian-Revolution-Inspired-Assisted-National-Liberation-Struggles-20171023-0012.html

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]