Chủ nghĩa Hegel

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Chủ nghĩa Hegel là triết học của G. W. F. Hegel có thể được tóm tắt bằng mệnh đề rằng " duy lý là có thực",[1] có nghĩa là tất cả thực tại đều có khả năng được thể hiện trong các phạm trù duy lý. Mục tiêu của ông là giảm hiện thực thành một thể thống nhất tổng hợp hơn trong hệ thống của chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối.

Phương pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp của Hegel trong triết học bao gồm sự phát triển bộ ba (Entwicklung) trong mỗi khái niệm và mỗi sự vật. Vì vậy, ông hy vọng, triết học sẽ không mâu thuẫn với kinh nghiệm, nhưng kinh nghiệm sẽ cung cấp dữ liệu cho triết học, đó là lời giải thích cuối cùng đúng. Quá trình này bao gồm ba phần. Ví dụ, nếu chúng ta muốn biết tự do là gì, trước tiên chúng ta lấy ví dụ về hành động không kiềm chế, trong đó người ta không cảm thấy cần phải kìm nén bất kỳ suy nghĩ, cảm giác hoặc xu hướng hành động nào.

Tiếp theo, chúng ta thấy rằng một người từ bỏ quyền tự do này để ủng hộ điều ngược lại của nó: sự kiềm chế, hay, như anh ta coi đó là sự chuyên chế của nền văn minh và luật pháp. Cuối cùng, ở công dân dưới chế độ pháp quyền, chúng ta tìm thấy giai đoạn phát triển thứ ba, đó là tự do theo nghĩa cao hơn và đầy đủ hơn so với cách người không bị kiềm chế chiếm hữu nó - quyền tự do làm, nói và suy nghĩ nhiều điều vượt quá khả năng của sự không kiềm chế.

Trong quá trình bộ ba này, giai đoạn thứ hai thì ngược lại trực tiếp, sự hủy diệt, hoặc ít nhất là sublation, những người đầu tiên. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn đầu tiên trở lại chính nó ở dạng cao hơn, chân thật hơn, phong phú hơn và đầy đủ hơn. Do đó, ba giai đoạn có các phong cách sau:

  • tự nó (An-sich)
  • tự ra khỏi nó (Anderssein)
  • tự nó và cho chính nó (An-und-für-sich).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ G. W. F. Hegel, Elements of the Philosophy of Right (1821), Vorrede: Was vernünftig ist, das ist Wirklich; und was wirklich ist, das ist vernünftig. ["What is rational is real; And what is real is rational."]