Chủ nghĩa vô thần quốc gia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bản đồ thế giới cho thấy các quốc gia trước đây hoặc hiện đang thực hành Chủ nghĩa vô thần quốc gia.
  Các quốc gia trước đây đã áp dụng Chủ nghĩa vô thần quốc gia
  Các quốc gia hiện đang áp dụng Chủ nghĩa vô thần quốc gia

Chủ nghĩa vô thần quốc gia (tiếng Anh: State atheism) là sự kết hợp của chủ nghĩa vô thần tích cực hoặc không phải chủ nghĩa thần học vào các chế độ chính trị, đặc biệt là liên quan đến các hệ thống của Liên Xô. Ngược lại, một mục đích nhà nước thế tục là trung lập chính thức trong các vấn đề tôn giáo, không hỗ trợ tôn giáo cũng như không tôn giáo. Chủ nghĩa vô thần quốc gia có thể đề cập đến một chính phủ chống giáo sĩ, mà phản đối sức mạnh thể chế tôn giáo và ảnh hưởng về mọi mặt của đời sống xã hộichính trị, trong đó có sự tham gia của tôn giáo trong đời sống hàng ngày của người dân. Đa số các quốc gia theo Marx-Lenin theo chính sách tương tự từ năm 1917. Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga (1917 – 1991) và Liên Xô (1922 – 1991) rộng rãi hơn, đã có một lịch sử lâu dài của Chủ nghĩa vô thần quốc gia, theo đó những người tìm kiếm thành công xã hội thường phải xưng tội vô thần và tránh xa những ngôi nhà thờ phượng; xu hướng này đã trở thành chiến binh đặc biệt trong thời kỳ Stalin giữa năm 1929 đến 1939. Liên Xô cố gắng ngăn chặn biểu hiện tôn giáo công khai trên phạm vi ảnh hưởng rộng lớn của nó, bao gồm cả những nơi như Trung Á. Hiện tại, chỉ Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều TiênViệt Nam chính thức là vô thần.

Nhân quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử nhân quyền

Điều 18 của Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền được thiết kế để bảo vệ quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo. Năm 1993, ủy ban nhân quyền của Liên Hiệp Quốc tuyên bố rằng điều 18 của Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị "bảo vệ các tín ngưỡng thần kinh, phi thần và vô thần, cũng như quyền không tuyên xưng bất kỳ tôn giáo hay tín ngưỡng nào. "Ủy ban tiếp tục tuyên bố rằng "tự do có hoặc chấp nhận tôn giáo hay tín ngưỡng nhất thiết đòi hỏi tự do lựa chọn tôn giáo hay tín ngưỡng, bao gồm quyền thay thế tôn giáo hoặc tín ngưỡng hiện tại của người khác hoặc chấp nhận quan điểm vô thần." Các bên ký kết với công ước này bị ngăn cấm từ việc sử dụng các mối đe dọa về thể lực hoặc trừng phạt hình phạt để buộc các tín hữu hoặc những người không phải tín hữu" phải niệm lại niềm tin của họ hoặc chuyển đổi. Mặc dù vậy, đến năm 2009, các tôn giáo thiểu số vẫn bị bức hại ở nhiều nơi trên thế giới.

Theodore Roosevelt lên án Thảm sát Kishinev năm 1903, thiết lập một lịch sử của các tổng thống Mỹ bình luận về tự do tôn giáo nội bộ của các quốc gia nước ngoài. Trong địa chỉ Liên minh năm 1941 của Franklin D. Roosevelt, ông đã vạch ra Bốn Tự do, bao gồm Tự do thờ phượng, đó sẽ là nền tảng cho Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền và những nỗ lực ngoại giao tương lai của Hoa Kỳ. Jimmy Carter yêu cầu Đặng Tiểu Bình cải thiện tự do tôn giáo ở Trung QuốcRonald Reagan nói với nhân viên Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Moskva để giúp người Do Thái quấy rối bởi chính quyền Xô viết. Bill Clinton thành lập Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ năm 1998, để sử dụng ngoại giao để thúc đẩy tự do tôn giáo ở các quốc gia đàn áp.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]