Chủ tịch Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc
Emblem of the United Nations.svg
Biểu tượng Liên Hợp Quốc
Miroslav Lajcak 2014 (11981540724).jpg
Đương nhiệm
 Slovakia Miroslav Lajčák
Bổ nhiệm bởiĐại hội đồng Liên Hợp Quốc
Nhiệm kỳ1 năm
Người đầu tiên giữ chứcBỉ Paul-Henri Spaak
Thành lập1946
WebsiteDanh sách Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc

Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc là chức vụ do các nhóm khu vực đề cử luân phiên do Đại hội đồng Liên hiệp Quốc bầu theo một khóa họp. Chủ tịch là người chủ trì phiên họp đại hội đồng.

Bầu cử[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ các quốc gia có đại diện làm Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, tới phiên họp thứ 59 2014-2015

Phiên họp đầu tiên của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thường diễn ra vào tháng 9 hàng năm, các phiên họp đặc biệt hoặc khẩn cấp đặc biệt đều do chủ tịch Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chủ trì.

Các Chủ tịch được bầu chọn luân phiên theo các nhóm khu vực được phân chia theo địa lý: châu Phi, Đông Âu, châu Á, Mỹ La tinh và Caribbean, Tây Âu và các nước khác.

Vì chức vụ quan trọng trên phạm vi toàn cầu, các quốc gia lớn nhất, mạnh nhất chưa bao giờ giữ nhiệm kỳ chủ tịch, chẳng hạn như: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Pháp, Nhật Bản, Nga, Liên hiệp Anh, Hoa Kỳ. Đặc biệt theo phong tục chức chủ tịch không do các nước ủy viên thường trực Liên Hiệp Quốc nắm giữ.

Quốc gia có 2 lần làm chủ tịch Đại hội đồng là Argentina, còn lại đều có 1 lần. Chức vụ không được tính trong các phiên họp đặc biệt hoặc trường hợp khẩn cấp.

Danh sách chủ tịch[sửa | sửa mã nguồn]

Năm bầu Chủ tịch[1] Thành viên LHQ Nhóm Phiên họp
1946 Paul-Henri Spaak  Bỉ Tây Âu lần thứ nhất
1947 Osvaldo Aranha  Brazil Mỹ Latin lần thứ 2
đặc biệt lần thứ 1
1948 José Arce  Argentina Mỹ Latin đặc biệt lần thứ 2
1948 Herbert Vere Evatt  Úc Khối Thịnh vượng chung lần thứ 3
1949 Carlos P. Romulo  Philippines Đông Âu và châu Á lần thứ 4
1950 Nasrollah Entezam  Iran Đông Âu và châu Á lần thứ 5
1951 Luis Padilla Nervo  Mexico Mỹ Latin lần thứ 6
1952 Lester B. Pearson  Canada Khối Thịnh vượng chung lần thứ 7
1953 Vijaya Lakshmi Pandit Ấn Độ Ấn Độ Khối Thịnh vượng chung lần thứ 8, Chủ tịch là phụ nữ đầu tiên
1954 Eelco van Kleffens  Hà Lan Tây Âu lần thứ 9
1955 José Maza Fernández  Chile Mỹ Latin lần thứ 10
1956 Rudecindo Ortega  Chile Mỹ Latin khẩn cấp đặc biệt lần thứ 1
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 2
1956 Wan Waithayakon  Thái Lan Đông Âu và châu Á lần thứ 11
1957 Leslie Munro  New Zealand Khối Thịnh vượng chung lần thứ 12
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 3
1958 Charles Malik  Lebanon Trung Đông lần thứ 13
1959 Víctor Andrés Belaúnde  Peru Mỹ Latin lần thứ 14
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 4
1960 Frederick Boland  Ireland Tây Âu lần thứ 15
đặc biệt lần thứ 3
1961 Mongi Slim  Tunisia Trung Đông lần thứ 16
1962 Muhammad Zafarullah Khan  Pakistan Khối Thịnh vượng chung lần thứ 17
đặc biệt lần thứ 4
1963 Carlos Sosa Rodríguez  Venezuela Mỹ Latin lần thứ 18
1964 Alex Quaison-Sackey  Ghana Khối Thịnh vượng chung lần thứ 19
1965 Amintore Fanfani  Ý Tây Âu lần thứ 20
1966 Abdul Rahman Pazhwak  Afghanistan Châu Á lần thứ 21
đặc biệt lần thứ 5
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 5
1967 Corneliu Mănescu  Romania Đông Âu lần thứ 22
1968 Emilio Arenales Catalán  Guatemala Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 23
1969 Angie Brooks  Liberia Châu Phi lần thứ 24
1970 Edvard Hambro  Na Uy Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 25
1971 Adam Malik  Indonesia Châu Á lần thứ 26
1972 Stanisław Trepczyński  Ba Lan Đông Âu lần thứ 27
1973 Leopoldo Benites  Ecuador Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 28
đặc biệt lần thứ 6
1974 Abdelaziz Bouteflika  Algérie Châu Phi lần thứ 29
đặc biệt lần thứ 7
1975 Gaston Thorn  Luxembourg Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 30
1976 Hamilton Shirley Amerasinghe  Sri Lanka Châu Á lần thứ 31
1977 Lazar Mojsov  Nam Tư Đông Âu lần thứ 32
đặc biệt lần thứ 8
đặc biệt lần thứ 9
đặc biệt lần thứ 10
1978 Indalecio Liévano  Colombia Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 33
1979 Salim Ahmed Salim  Cộng hòa Thống nhất Tanzania Châu Phi lần thứ 34
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 6
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 7
đặc biệt lần thứ 11
1980 Rüdiger von Wechmar  Cộng hòa Liên bang Đức Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 35
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 8
1981 Ismat T. Kittani  Iraq Châu Á lần thứ 36
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 7—tiếp diễn
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 9
đặc biệt lần thứ 12
1982 Imre Hollai  Hungary Đông Âu lần thứ 37
1983 Jorge Illueca  Panama Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 38
1984 Paul J. F. Lusaka  Zambia Châu Phi lần thứ 39
1985 Jaime de Piniés  Tây Ban Nha Tây Âu và còn lại lần thứ 40
đặc biệt lần thứ 13
1986 Humayun Rashid Choudhury  Bangladesh Châu Á lần thứ 41
đặc biệt lần thứ 14
1987 Peter Florin  Cộng hòa Dân chủ Đức Đông Âu lần thứ 42
đặc biệt lần thứ 15
1988 Dante Caputo  Argentina Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 43
1989 Joseph Nanven Garba  Nigeria Châu Phi lần thứ 44
đặc biệt lần thứ 16
đặc biệt lần thứ 17
đặc biệt lần thứ 18
1990 Guido de Marco  Malta Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 45
1991 Samir Shihabi  Ả Rập Xê Út Châu Á lần thứ 46
1992 Stoyan Ganev  Bulgaria Đông Âu lần thứ 47
1993 Rudy Insanally  Guyana Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 48
1994 Amara Essy  Bờ Biển Ngà Châu Phi lần thứ 49
1995 Diogo de Freitas do Amaral Bồ Đào Nha Bồ Đào Nha Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 50
1996 Razali Ismail  Malaysia Châu Á lần thứ 51
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 10
đặc biệt lần thứ 19
1997 Hennadiy Udovenko  Ukraina Đông Âu lần thứ 52
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 10—tiếp diễn
đặc biệt lần thứ 20
1998 Didier Opertti  Uruguay Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 53
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 10—tiếp diễn
đặc biệt lần thứ 21
1999 Theo-Ben Gurirab  Namibia Châu Phi lần thứ 54
đặc biệt lần thứ 22
đặc biệt lần thứ 23
đặc biệt lần thứ 24
2000 Harri Holkeri Phần Lan Phần Lan Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 55
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 10-tiếp diễn
đặc biệt lần thứ 25
đặc biệt lần thứ 26
2001 Han Seung-soo  Hàn Quốc Châu Á lần thứ 56
2002 Jan Kavan  Cộng hòa Séc Đông Âu lần thứ 57
2003 Julian Hunte  Saint Lucia Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 58
2004 Jean Ping  Gabon Châu Phi lần thứ 59
2005 Jan Eliasson Thụy Điển Thụy Điển Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 60
2006 Haya Rashed Al-Khalifa  Bahrain Châu Á lần thứ 61
2007 Srgjan Kerim  Cộng hòa Macedonia Đông Âu lần thứ 62
2008 Miguel d'Escoto Brockmann  Nicaragua Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 63
2009 Ali Treki  Libya Châu Phi lần thứ 64
2010 Joseph Deiss  Switzerland Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 65
2011 Nassir Al-Nasser[2]  Qatar Châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 66
2012 Vuk Jeremić  Serbia Đông Âu lần thứ 67
2013 John William Ashe  Antigua and Barbuda Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 68
2014 Sam Kutesa  Uganda Châu Phi lần thứ 69
2015 Mogens Lykketoft  Denmark Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 70
2016 Peter Thomson  Fiji Châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 71
2017 Miroslav Lajčák  Slovakia Đông Âu lần thứ 72

Nhóm khu vực[sửa | sửa mã nguồn]

Trước 1966[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1966 các nhóm khu vực đề cử được chia thành 5 nhóm gồm:

  • Khối thịnh vượng chung (COS)
  • Đông Âu và châu Á (EAS)
  • Mỹ Latin (LAS)
  • Trung Đông (MES)
  • Tây Âu (WES)

Sau 1966[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1966 các nhóm khu vực đề cử được chia thành 5 nhóm gồm:

Đông Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm Đông Âu năm 2012, với số lần quốc gia từng là thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, với các cựu quốc gia của chính thể

Nhóm khu vực Đông Âu được thành lập năm 1961 là một trong 5 nhóm khu vực biểu quyết tại Liên Hiệp Quốc. Nhóm bao gồm các quốc gia Đông Âu và các nước thuộc Caucasus, tạo thành Khối phía Đông. châu Âu được chia làm 2 nhóm Đông Âu và nhóm Tây Âu và các quốc gia khác.

Các thành viên cũ
Các thành viên hiện tại

Tây Âu và các quốc gia khác[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên nhóm Tây Âu và các quốc gia khác

Nhóm Tây Âu và các quốc gia khác còn được gọi WEOG. Nhóm được thành lập năm 1961. Hầu hết các quốc gia trong nhóm đều thuộc Tây Âu, các quốc gia khác ở các khu vực địa lý khác nhau trên thế giới. Israel là quốc gia châu Á nhưng lại là thành viên của nhóm Tây Âu do các quốc gia Ả Rập phản đối việc tham gia nhóm. Canada, Úc, New Zealand, là các quốc gia gắn liền lịch sử chính trị và văn hóa với các nước Tây Âu nên được xếp vào nhóm. Thổ Nhĩ Kỳ tham gia cả hai nhóm châu Á và Tây Âu nhưng với mục đích bầu cử thì thuộc Tây Âu. Trong nhóm Hoa Kỳ là quốc gia quan sát (không tham gia bỏ phiếu nhưng có quyền đề cử).

Thành viên của nhóm hiện tại gồm 28 quốc gia, cộng 1 quan sát. Quan sát viên là Hoa Kỳ tự nguyện không tham gia với tư cách thành viên, tham dự các phiên họp với tư cách quan sát viên. Tuy nhiên cũng có thể được coi là 1 thành viên vì việc đề cử ứng viên cho cuộc bầu cử tại Liên Hiệp Quốc.

Thành viên thường trực của châu Âu

Thành viên thường trực ngoài châu Âu
Quan sát viên

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]