Chủ tịch Quốc hội Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Chủ tịch Quốc hội)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Emblem of Vietnam.svg
Đương nhiệm
Nguyễn Thị Kim Ngân

từ 31 tháng 03, 2016
Chức danh Chủ tịch Quốc hội
Thành viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội
Hội đồng bầu cử Quốc gia
Báo cáo tới Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội.
Đề cử bởi Ủy ban thường vụ Quốc hội
Bổ nhiệm bởi Quốc hội
Nhiệm kỳ 5 năm, theo nhiệm kỳ Quốc hội
(Không giới hạn số lần tái cử)
Người đầu tiên giữ chức Nguyễn Văn Tố
Thành lập 2 tháng 3 năm 1946
Trụ sở Nhà Quốc hội
Quảng trường Ba Đình, Hà Nội
Website http://quochoi.vn/
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Emblem of Vietnam.svg

Chính trị và chính phủ
Việt Nam


Các nước khác

Chủ tịch Quốc hội Việt Nam là người đứng đầu Ủy ban Thường vụ Quốc hội - cơ quan thường trực của Quốc hội Việt Nam. Quốc hội bầu ra Chủ tịch Quốc hội trong số các đại biểu Quốc hội và có cùng nhiệm kỳ với Quốc hội cùng khóa. Chủ tịch Quốc hội không thể đồng thời là thành viên Chính phủ, làm việc theo chế độ chuyên trách. Chủ tịch Quốc hội mỗi khóa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới.

Nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch Quốc hội[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Chủ tọa các phiên họp của Quốc hội, bảo đảm thi hành Quy chế đại biểu Quốc hội, Nội quy kỳ họp Quốc hội; ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội;
  2. Lãnh đạo công tác của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự kiến chương trình làm việc, chỉ đạo việc chuẩn bị, triệu tập và chủ tọa các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; ký pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
  3. Triệu tập và chủ tọa hội nghị Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội bàn chương trình hoạt động của Quốc hội, của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội; tham dự phiên họp của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội khi xét thấy cần thiết;
  4. Giữ mối quan hệ với các Đại biểu Quốc hội;
  5. Chỉ đạo việc thực hiện kinh phí hoạt động của Quốc hội;
  6. Chỉ đạo và tổ chức việc thực hiện công tác đối ngoại của Quốc hội; thay mặt Quốc hội trong quan hệ đối ngoại của Quốc hội; lãnh đạo hoạt động của Đoàn Quốc hội Việt Nam trong các tổ chức liên nghị viện thế giới và khu vực.

Mối quan hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Để đáp ứng khả năng lãnh đạo cấp cao trong tổ chức Đảng, không bị chồng chéo quyền lực về mặt Đảng, cho tới nay, các vị Chủ tịch Quốc hội thường phải là Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong số các đại biểu Quốc hội. Chủ tịch Quốc hội cũng thường đồng thời là Chủ tịch của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Các ứng viên Chủ tịch Quốc hội này phải đạt các tiêu chuẩn như tốt nghiệp Thạc sỹ trở lên; lý luận chính trị cử nhân hoặc cao cấp; quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp; ngoại ngữ cử nhân hoặc trình độ B trở lên; tuyệt đối trung thành với tổ quốc, với nhân dân, lợi ích của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đã kinh qua và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở một trong các chức vụ lãnh đạo chủ chốt cấp trung ương (Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng), các chức vụ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh (bí thư tỉnh ủy, thành ủy; chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố) hoặc trưởng ban các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương; từng chủ trì cấp Quân khu nếu công tác trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo quy định của Đảng, độ tuổi trước khi bổ nhiệm chức vụ Chủ tịch Quốc hội: không quá 65 tuổi (trường hợp đặc biệt quá 65 tuổi do Ban Chấp hành Trung ương quyết định). Cụ thể các tiêu chuẩn nêu ở mục dưới đây.

Tiêu chuẩn của Đảng Cộng sản Việt Nam cho ứng viên chức danh Chủ tịch Quốc hội[sửa | sửa mã nguồn]

Theo "Quy định Tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý" số 90-QĐ/TW ngày 4 tháng 8 năm 2017của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam , Chủ tịch Quốc hội phải là người:

"Bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn chung của Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đồng thời cần có những phẩm chất, năng lực: Có uy tín cao, là hạt nhân đoàn kết trong Trung ương, Bộ Chính trị và trong toàn Đảng. Quyết liệt trong lãnh đạo, điều hành theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phân công. Có năng lực nổi trội, toàn diện trong các lĩnh vực công tác, nhất là trong việc chỉ đạo thể chế hóa đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng về xây dựng pháp luật, giám sát thực thi pháp luật và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, bảo đảm dân chủ, công bằng, công khai, minh bạch, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân và bảo đảm mọi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Có khả năng hiểu biết sâu sắc hệ thống pháp luật của Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế. Có năng lực điều hành chất lượng, hiệu quả các phiên họp Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đã kinh qua và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở chức danh phó chủ tịch quốc hội, phó thủ tướng chính phủ; bí thư tỉnh ủy, thành ủy hoặc trưởng ban, bộ, ngành Trung ương; tham gia Bộ Chính trị trọn một nhiệm kỳ trở lên (trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương quyết định)[1]."

Tiêu chuẩn của Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư[sửa | sửa mã nguồn]

"Bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn của Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, đồng thời cần có thêm các tiêu chuẩn: Thật sự tiêu biểu, mẫu mực của Ban Chấp hành Trung ương về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo, quản lý, ý thức tổ chức kỷ luật; không bị chi phối bởi sự can thiệp, sức ép bên ngoài và lợi ích nhóm. Hiểu biết sâu rộng tình hình đất nước, khu vực và thế giới; nhạy cảm về chính trị, nhạy bén về kinh tế, am hiểu sâu sắc về xã hội. Có ý thức, trách nhiệm cao, tham gia đóng góp, hoạch định đường lối, chính sách và phát hiện, đề xuất những vấn đề thực tiễn đặt ra để Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thảo luận, quyết định. Đã tham gia Ban Chấp hành Trung ương trọn một nhiệm kỳ trở lên; đã kinh qua và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở các chức vụ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh (bí thư tỉnh ủy, thành ủy; chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố) hoặc trưởng ban các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương. Trường hợp Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư công tác trong Quân đội thì phải kinh qua chủ trì cấp Quân khu."

Tiêu chuẩn của Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương[sửa | sửa mã nguồn]

"Bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn chung, đồng thời cần có thêm các tiêu chuẩn:

Tiêu biểu của Đảng về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác. Có ý thức, trách nhiệm, kiến thức toàn diện để tham gia thảo luận, đóng góp, hoạch định đường lối, chính sách và sự lãnh đạo tập thể của Ban Chấp hành Trung ương. Có năng lực tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách, nhiệm vụ của Đảng, chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới ở lĩnh vực, địa bàn công tác được phân công. Có năng lực dự báo, xử lý, ứng phó kịp thời, hiệu quả những tình huống đột xuất, bất ngờ và khả năng làm việc độc lập. Có tố chất, năng lực lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược; có hoài bão, khát vọng đổi mới vì dân, vì nước. Đã kinh qua và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở các chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp dưới trực tiếp và tương đương.

Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương phải là những cán bộ trẻ; cơ bản đáp ứng được tiêu chuẩn của Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; qua thực tiễn công tác thể hiện có năng lực, triển vọng phát triển về khả năng lãnh đạo, quản lý; được quy hoạch chức danh Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và lãnh đạo chủ chốt tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương, ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương nhiệm kỳ tới và các nhiệm kỳ tiếp theo."

Tiêu chuẩn chung[sửa | sửa mã nguồn]

"1.1- Về chính trị tư tưởng: Tuyệt đối trung thành với lợi ích của Đảng, của quốc gia - dân tộc và nhân dân; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu lý tưởng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có lập trường, quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng để bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước và phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị. Có tinh thần yêu nước nồng nàn, sâu sắc; luôn đặt lợi ích của Đảng, quốc gia - dân tộc, nhân dân trên lợi ích của ngành, địa phương, cơ quan và cá nhân; sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Tuyệt đối chấp hành sự phân công của tổ chức, yên tâm công tác. Giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn theo đúng nguyên tắc, quy định của Đảng.

1.2- Về đạo đức, lối sống: Mẫu mực về phẩm chất đạo đức; sống trung thực, khiêm tốn, chân thành, trong sáng, giản dị, bao dung; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Tuyệt đối không tham vọng quyền lực, có nhiệt huyết và trách nhiệm cao với công việc; là trung tâm đoàn kết, gương mẫu về mọi mặt. Không tham nhũng, cơ hội, vụ lợi và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chỉ đạo quyết liệt chống tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, cửa quyền và lợi ích nhóm; tuyệt đối không để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; công khai, minh bạch, khách quan, dân chủ trong công tác cán bộ.

1.3- Về trình độ: Tốt nghiệp Đại học trở lên; lý luận chính trị cử nhân hoặc cao cấp; quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp; ngoại ngữ cử nhân hoặc trình độ B trở lên; trình độ tin học phù hợp.

1.4- Về năng lực và uy tín: Có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược; phương pháp làm việc khoa học; nhạy bén chính trị; có năng lực cụ thể hóa và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có năng lực tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận; có khả năng phân tích và dự báo tốt. Nắm chắc tình hình chung và hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực, địa bàn, địa phương, cơ quan, đơn vị được phân công. Kịp thời phát hiện những mâu thuẫn, thách thức, thời cơ, vận hội, vấn đề mới, vấn đề khó, hạn chế, yếu kém trong thực tiễn; chủ động đề xuất những nhiệm vụ giải pháp có tính khả thi và hiệu quả. Năng động, sáng tạo, cần cù, chịu khó, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có quyết tâm chính trị cao, dám đương đầu với khó khăn, thách thức; nói đi đôi với làm; gắn bó mật thiết với nhân dân và vì nhân dân phục vụ. Là hạt nhân quy tụ và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị; được cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân tin tưởng, tín nhiệm cao.

1.5- Sức khỏe, độ tuổi và kinh nghiệm; Đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ; bảo đảm tuổi bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử theo quy định của Đảng. Đã kinh qua và hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của chức danh lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp dưới trực tiếp; có nhiều kinh nghiệm thực tiễn."

Danh sách Chủ tịch Quốc hội Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là danh sách Chủ tịch Quốc hội Việt Nam từ 1946 đến nay. Khung màu xám chỉ người giữ vị trí Quyền Chủ tịch Quốc hội

STT Tên Chân dung Nhiệm kỳ Thời gian tại nhiệm Chức vụ Đảng phái
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1976)
1 Nguyễn Văn Tố Nguyen Van To.jpg 2 tháng 3 năm 1946 - 8 tháng 11 năm 1946 0 năm, 251 ngày Trưởng ban Thường trực Nghị viện nhân dân khóa I không đảng phái
2 Bùi Bằng Đoàn Buibangdoan.jpg 8 tháng 11 năm 1946 - 13 tháng 4 năm 1955 8 năm, 156 ngày Trưởng ban Thường trực Nghị viện nhân dân khóa I không đảng phái
- Tôn Đức Thắng Tonducthang.jpg 1 tháng 8 năm 1948 - 20 tháng 9 năm 1955 7 năm, 50 ngày Quyền Trưởng ban Thường trực Nghị viện nhân dân khóa I [2] Đảng Cộng sản Đông Dương (đến 1951)
Đảng Lao động Việt Nam (từ 1951)
3 Tôn Đức Thắng Tonducthang.jpg 20 tháng 9 năm 1955 - 15 tháng 7 năm 1960 4 năm, 299 ngày Trưởng ban Thường trực Nghị viện nhân dân khóa I Đảng Lao động Việt Nam
4 Trường Chinh TruongChinh1955.jpg 15 tháng 7 năm 1960 - 2 tháng 7 năm 1976 15 năm, 353 ngày Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa II, III, IV, V Đảng Lao động Việt Nam
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1976-nay)
1 Trường Chinh TruongChinh1955.jpg 2 tháng 7 năm 1976 - 4 tháng 7 năm 1981 5 năm, 2 ngày Chủ tịch Quốc hội khóa VI Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Nguyễn Hữu Thọ NguyenHuuTho.jpg 4 tháng 7 năm 1981 - 18 tháng 6 năm 1987 5 năm, 349 ngày Chủ tịch Quốc hội khóa VII Đảng Cộng sản Việt Nam
3 Lê Quang Đạo Trung tướng Lê Quang Đạo.jpg 18 tháng 6 năm 1987 - 23 tháng 9 năm 1992 5 năm, 97 ngày Chủ tịch Quốc hội khóa VIII Đảng Cộng sản Việt Nam
4 Nông Đức Mạnh Nong Duc Manh 2010.jpg 23 tháng 9 năm 1992 - 27 tháng 6 năm 2001 8 năm, 277 ngày Chủ tịch Quốc hội khóa IX, X Đảng Cộng sản Việt Nam
5 Nguyễn Văn An Nguyen Van An.jpg 27 tháng 6 năm 2001 - 26 tháng 6 năm 2006 4 năm, 364 ngày Chủ tịch Quốc hội khóa X, XI Đảng Cộng sản Việt Nam
6 Nguyễn Phú Trọng Nguyễn Phú Trọng 092916 (cropped).jpg 26 tháng 6 năm 2006 - 23 tháng 7 năm 2011 5 năm, 27 ngày Chủ tịch Quốc hội khóa XI, XII Đảng Cộng sản Việt Nam
7 Nguyễn Sinh Hùng Nguyen Sinh Hung.jpg 23 tháng 7 năm 2011 - 31 tháng 3 năm 2016 4 năm, 252 ngày Chủ tịch Quốc hội khóa XIII Đảng Cộng sản Việt Nam
8 Nguyễn Thị Kim Ngân 70x70px 31 tháng 3 năm 2016 - hiện tại 2 năm, 174 ngày Chủ tịch Quốc hội khóa XIII, XIV Đảng Cộng sản Việt Nam

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Tiêu chuẩn riêng đối với chức danh Chủ tịch Quốc hội”. 
  2. ^ Giữ chức Quyền Trưởng ban từ tháng 8 năm 1948 để tiếp nhiệm thay cụ Bùi Bằng Đoàn chữa bệnh.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]