Chữ viết tiếng Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
"Tôi nói tiếng Việt Nam" (碎呐㗂越南), bên trên viết bằng Chữ Quốc ngữ, bên dưới viết bằng chữ Nôm (gạch chân) với chữ Hán

Chữ viết tiếng Việt là những bộ chữ viếtngười Việt dùng để viết ngôn ngữ mẹ đẻtiếng Việt, từ quá khứ đến hiện tại. Có hai dạng văn tự chính được dùng để ghi chép tiếng Việt là chữ Hán với chữ Nôm kết hợp, và chữ Quốc ngữ thuộc họ chữ Latinh. Chữ Hán với chữ Nômvăn tự ngữ tố có khả năng biểu nghĩa, là bộ chữ phổ thông tại Việt Nam trước thế kỷ 20. Chữ Quốc ngữ là chữ tượng thanh chỉ có thể biểu âm, bắt đầu được sử dụng chính thức trên thực tế tại Việt Nam từ đầu thế kỷ 20.[1][2]

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 tại Chương I Điều 5 Mục 3 quy định: "Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình." mà không không đề cập tới chữ viết quốc gia.[3] Hiện tại ở Việt Nam và người Việt ở nước ngoài đều sử dụng chữ Quốc ngữ là chính. Chữ Hán và chữ Nôm tuy không còn phổ biến nhưng vẫn được giảng dạy ở bậc đại học chuyên ngành Hán-Nôm, được dùng trong các hoạt động liên quan tới văn hóa truyền thống như viết thư pháp, và vẫn là văn tự chính cho tiếng Việt của cộng đồng người Kinh ở Trung Quốc.

"Nội dung chủ nghĩa anh hùng cách mạng của chúng ta" (4-1966) do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết, dùng hỗn hợp cả chữ Hán-Nôm và chữ Quốc ngữ

Các dạng chữ viết của tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ Hán và chữ Nôm[sửa | sửa mã nguồn]

Với tiếng Việt, chữ Hán (chủ yếu là phồn thể) dùng để viết từ Hán Việtâm Hán Việt như "nhất nhị tam"(一二三), "Đại Việt" (大越), "Việt Nam" (越南); chữ Nôm dùng để viết các từ thuần Việt và các âm thuần Việt như "một hai ba" (𠬠𠄩𠀧)[4]. Và hai loại chữ này được người Việt xưa kết hợp lại để sử dụng như là một dạng chữ viết phổ thông cho tiếng Việt trước thế kỷ 20.

Chữ Hán và chữ Nôm có những khác nhau cơ bản về lịch sử ra đời, mục đích sử dụng và mỗi chữ có bản sắc riêng về văn hóa… Tuy hiện nay ít được sử dụng nhưng vẫn có vai trò quan trọng là biểu nghĩa (tránh sự đồng âm khác nghĩa và hiểu sai nghĩa) cho tiếng Việt[5], đồng thời là văn tự chủ yếu của phần lớn lịch sử Việt Nam và là một phần rất quan trọng của văn hóa truyền thống.

Chữ Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Vai trò của chữ Hán để ghi chép tiếng Việt chủ yếu là ghi lại các yếu tố Hán-Việt có trong văn bản Nôm, ngoài ra, chữ Hán trong một thời kỳ nhất định cũng được sử dụng như văn tự ghi ý cho tiếng Việt, nghĩa là viết 木 (mộc) đọc là "cây", viết 子 (tử) đọc là "con", viết 草 (thảo) đọc là "cỏ"...

Từ đầu công nguyên đến thế kỷ X, Việt Nam chịu sự đô hộ của phong kiến Trung Hoa, chữ Hán và Văn ngôn được giới quan lại cai trị áp đặt sử dụng. Theo Đào Duy Anh thì nước Việt bắt đầu có Hán học khi viên Thái thú Sĩ Nhiếp (137 - 226) đã dạy dân Việt thi thư. Trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm, hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán.

Có ý kiến cho rằng chữ Hán đã hiện diện ở Việt Nam từ trước Công nguyên, dựa trên suy diễn về dấu khắc được coi là chữ trên một con dao găm [6]. Tuy nhiên đó là lúc chữ Hán chưa hình thành, và trên các trống đồng Đông Sơn ở thời kỳ 700 TCN - 100 SCN thì hiện diện "các chữ của người Việt cổ" chưa được minh giải, và chưa có tư liệu xác định vào thời kỳ trước Công nguyên cư dân Việt cổ đã sử dụng chữ.

Từ sau thế kỷ thứ 10, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, nhưng chữ Hán và tiếng Hán Việt vẫn tiếp tục là một phương tiện chính trong việc ghi chép và trước tác. Đến cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20, dưới sự đô hộ của thực dân Pháp thì bị chính quyền thuộc địa thay thế bởi chữ Quốc ngữ (chữ Latinh) để đồng văn tự với tiếng Pháp. Nền khoa bảng Việt Nam dùng chữ Hán chấm dứt ở kỳ thi cuối cùng năm 1919.

Chữ Nôm[sửa | sửa mã nguồn]

Dù chữ Hán có khả năng biểu ý tốt, nhưng trong tiếng Việt không chỉ có từ Hán Việt mà còn có từ thuần Việt, vậy nên chỉ sử dụng những chữ Hán hiện có lúc bấy giờ cũng không thể nào đáp ứng đủ, và thậm chí được cho là bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của người Việt. Vì vậy chữ Nôm ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán chưa đáp ứng được.

Chữ Nôm là một bộ chữ được xây dựng trên cơ sở áp dụng hệ chữ Hán để ghi chép các từ thuần Việt trong tiếng Việt. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn:

Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn "đồng hóa chữ Hán", tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ chim muông, đồ vật... xuất hiện lẻ tẻ trong văn bản Hán. Những từ tiếng Việt này, này xuất hiện vào thế kỷ đầu của Công Nguyên (đặc biệt rõ nét nhất vào thế kỷ thứ VI).[cần dẫn nguồn]

Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định. Loại chữ Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt. Từ thời Lý thế kỷ thứ XI đến đời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh. Theo sử sách đến nay còn ghi lại được một số tác phẩm đã được viết bằng chữ Nôm như đời Trần có cuốn Thiền Tông Bản Hạnh. Đến thế kỷ XVIII - XIX chữ Nôm đã phát triển tới mức cao, át cả địa vị chữ Hán. Các tác phẩm như hịch Tây Sơn, Khoa thi hương dưới thời Quang Trung (1789) đã có bài thi làm bằng chữ Nôm. Truyện Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu cũng được viết bằng chữ Nôm là những ví dụ.

Chữ Quốc ngữ (chữ Latinh)[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ Quốc ngữ là bộ chữ hiện dùng để ghi tiếng Việt dựa trên các bảng chữ cái Latinh của nhóm ngôn ngữ Rôman (chủ yếu là Tiếng Bồ Đào Nha).

Đơn khai sinh năm 1938 ở Bắc Kỳ có bốn dạng chữ: chữ Quốc ngữ lẫn chữ Nôm cùng dấu triện bằng tiếng Pháp và vài chữ Hán

Việc chế tác chữ Latinh để biểu âm cho tiếng Việt là một công việc tập thể của nhiều linh mục dòng Tên người Châu Âu. Trong công việc này có sự hợp tác tích cực và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam (giúp việc cho các linh mục người Âu). Alexandre De Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ Quốc Ngữ. Đặc biệt là ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn và tổ chức in ấn lần đầu tiên cuốn Từ điển Việt – Bồ – La (trong đó có phần về ngữ pháp tiếng Việt) và cuốn Phép giảng tám ngày. Xét về góc độ ngôn ngữ thì cuốn diễn giảng vắn tắt về tiếng An Nam hay tiếng đàng ngoài (in chung trong từ điển) có thể được xem như công trình đầu tiên khảo cứu về ngữ pháp; còn cuốn Phép giảng tám ngày có thể được coi như tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ, sử dụng lời văn tiếng nói bình dân hàng ngày của người Việt Nam thế kỷ XVII.

Tuy chữ Quốc ngữ của Alexandre De Rhodes năm 1651 trong cuốn Từ điển Việt – Bồ – La đã khá hoàn chỉnh, nhưng cũng phải chờ đến khi nó được xuất bản năm 1772, tức là 121 năm sau, với những cải cách quan trọng của Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) thì chữ Quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống hiện nay.

Sự kiện đánh dấu vị thế chữ Quốc ngữ là khi người Pháp hoàn thành xâm chiếm Nam Kỳ vào cuối thế kỷ XIX. Ngày 22 tháng 2 năm 1869, Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghị định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán trong các công văn ở Nam Kỳ [7]. Nghị định 82 do Thống đốc Nam Kỳ Lafont ký ngày 6/4/1878 cũng đề ra mốc hẹn trong 4 năm (tức năm 1882) thì phải chuyển hẳn sang chữ Quốc ngữ [8]. Sang thế kỷ XX, Chính phủ Đông Pháp mở rộng chính sách dùng chữ Quốc ngữ, giao cho Nha Học chính giảng dạy ở Bắc Kỳ từ năm 1910.[9]

Việc cổ động cho học "chữ Quốc ngữ" ở toàn cõi nước Việt gắn với các phong trào cải cách trong giai đoạn 1890–1910 như Hội Trí Tri, Phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục và ngành báo chí mới hình thành, đã thừa nhận và cổ vũ học "chữ Quốc ngữ", coi là phương tiện thuận lợi cho học hành nâng cao dân trí [10].

Theo tư liệu trong "Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ (25/5/1938)" do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức ngày 25/5/2008,[10][11] thì Hội ra đời ngày 25/5/1938, đến ngày 29/7/1938, Thống sứ Bắc Kỳ người Pháp công nhận sự hợp pháp của Hội. Đó là dấu mốc chắc chắn cho vị thế "chữ Quốc ngữ".

Ngày nay do chữ Quốc ngữ là chữ ký tự Latinh, đồng văn tự với phần lớn ngôn ngữ trên thế giới, việc giao tiếp ngôn ngữ trên internet trở nên dễ dàng hơn so với các bộ chữ tượng hình như chữ Nômchữ Hán. Tuy nhiên chữ Quốc Ngữ có nhược điểm là vì thuộc dạng ký tự biểu âm, nên không có khả năng biểu nghĩa rõ ràng như chữ Hán và chữ Nôm, do vậy lại gây ra sự đồng âm khác nghĩa và hiểu sai nghĩa của từ vựng trong tiếng Việt (nếu các từ đứng độc lập, đặc biệt là tên người hay tên địa danh).[5]

Cùng với đó là việc không thể quy chuẩn cách viết các từ ngoại lai và tên riêng nước ngoài trong tiếng Việt là nên theo viết theo âm đọc (như tivi, in-tơ-nét, ma-két-tinh, Ma Rốc, Ả Rập Xê Út) hay theo từ gốc (như TV, internet, marketing, Maroc, Arab Saudi). Gần đây thì các từ ngoại lai mới được sử dụng trong tiếng Việt đang theo  xu hướng chung là thay vì viết theo âm tiếng Việt thì sẽ viết theo kiểu nguyên bản nhiều hơn, nhưng phần lớn các báo hay sách lại không viết thêm cách đọc theo âm tiếng Việt (dù chỉ cần một lần trong cặp ngoặc đơn cũng không có), điều này dẫn đến vấn đề là khiến nguời Việt thường phát âm sai các từ ngoại lai (do thường quen đọc theo âm của chữ Quốc ngữ). Cũng như việc đọc tên người hay địa danh nước ngoài, vì tuỳ từng ngôn ngữ dùng chữ Latinh (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Hà Lan,...) sẽ có cách phát âm là khác nhau dù ký tự giống nhau, và các hệ thống chuyển tự Latinh (pinyin, romaji, romaja) cũng chỉ biểu diễn cách đọc mang tính tương đối, nên nguời Việt cũng hay phát âm sai tên người nước ngoài. Ví dụ như: tay vợt Andy Murray hay bị truyền thông Việt đọc phần họ là "Mu-ray"[12], thực ra phát âm đúng phải là "Ma-ri" (/ˈmʌɹi/)[13]; họ Choi ở Hàn Quốc đọc đúng phải là "Chuê"; khi mới sang Việt Nam, huấn luyện viên Park Hang-seo hay bị truyền thông Việt đọc tên là "Pắc Hang Xeo"[14][15] như đọc chữ Quốc ngữ, và phải mất một thời gian sau tên ông mới được đọc lại là "Pắc Hang-so" hay "Pắc Hang-sơ" cho đúng với âm của tiếng Hàn.[16]

Giả thuyết về chữ viết tiếng Việt thời cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Trong sách Thanh Hoá quan phong (清化觀風) do Vương Duy Trinh (王維楨) biên soạn năm Thành Thái (成泰) thứ 15 (Tây lịch năm 1903) có chép lại "một khúc ca" "tiếng châu" bằng "chữ châu" được chú âm đọc và dịch sang tiếng Việt bằng chữ Nôm kèm theo danh sách 35 "Man mẫu tự" (蠻母字, nghĩa là chữ cái của người Man) cũng được chú âm đọc bằng chữ Nôm. Sách nói về "chữ châu" như sau (nguyên văn bằng chữ Nôm, đoạn trích dưới đây đã được phiên âm sang chữ quốc ngữ):

Một số người đã cho thứ chữ châu được nói đến trong Thanh Hoá quan phong là chữ Việt cổ. Kỳ thực chữ châu trong Thanh Hóa quan phong là một trong tám dạng chữ viết của người Thái, cải biên từ chữ Phạn, lưu hành ở vùng núi Thanh Hóa, Nghệ An.[17]

Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, một người tên là Đỗ Văn Xuyền tự nhận là tìm ra và giải mã được "chữ Việt cổ" [18], nêu trong cuốn sách Cuộc hành trình đi tìm chữ Việt cổ ra mắt tháng 1/2013 [19]. Theo đó, Trung tâm UNESCO Nghiên cứu Bảo tồn Chữ Việt Cổ đã giới thiệu là [20]:

“Ngay từ trước Công nguyên, người Việt đã có chữ tượng thanh - loại chữ ghép chữ cái thành từ”. Điều này được thể hiện trên các di chỉ khảo cổ đồ gốm, đồ đồng của thời kỳ Đông Sơn như: lưỡi cày, đặc biệt là trống đồng… cùng các hình vẽ, chữ viết trên đá cổ Sa Pa, Xín Mần, Pá Màng… theo một hệ thống nhất quán, tất cả đều thể hiện đó là những chữ viết cổ từ thời kỳ tiền văn tự, phát triển và hoàn thiện dần thành bộ chữ Khoa Đẩu [21]. Đây là loại chữ lưu truyền từ thời Vua Hùng, có hình dáng như những con nòng nọc [Ghi chú 1].

Tuy nhiên, cái gọi là "chữ Việt cổ" của ông Đỗ Văn Xuyền thực chất cũng chính là chữ Thái đã được nhắc đến trong Thanh Hoá quan phong, Đỗ Văn Xuyền đã cố gò ép để loại chữ Thái này có thể dùng để ghi tiếng Việt được[22][23].

Các dạng chữ đề xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Từ 2 thế kỉ gần nhất đến nay đã và đang có rất nhiều ý tưởng chữ viết tiếng Việt đến từ các cá nhân và các nhóm hoạt động xã hội, tuy nhiên chưa có bộ chữ nào được công nhận chính thức. Dưới đây là một số ý tưởng nổi bật.

Quốc Âm Tân Tự[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng chữ "Quốc Âm Tân Tự" của cư sĩ họ Nguyễn

Quốc Âm Tân Tự (chữ Hán: 國音), nghĩa mặt chữ là "chữ quốc âm mới", là một đề xuất chữ viết tiếng Việt vào giữa thế kỷ 19. Tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ hai bản viết tay cổ (mỗi bản có bốn tờ) của cùng một văn bản có tên là Quốc Âm Tân Tự (國音新字) viết về loại chữ này. Trong văn bản Quốc Âm Tân Tự không có thông tin cho biết ngày tháng năm cụ thể tác phẩm này được viết ra. Căn cứ vào việc trong lời tựa của tác phẩm chữ “華” (hoa) trong tên gọi “中華” (Trung Hoa) đã được tị huý bằng cách bỏ không viết nét cuối của chữ này (nét sổ) thì có thể đoán rằng văn bản này được viết dưới thời vua Thiệu Trị (Mẹ vua Thiệu Trị tên là “Hồ Thị Hoa” 胡氏華). Cuối lời tựa của văn bản có dòng chữ “五星聚斗南城居士阮子書” (Ngũ Tinh Tụ Đẩu Nam thành cư sĩ Nguyễn tử thư). Qua dòng chữ này có thể biết rằng tác giả của Quốc Âm Tân Tự là một cư sĩ mang họ Nguyễn (阮) ở thành Nam Định (南定) có biệt hiệu là Ngũ Tinh Tụ Đẩu (五星聚斗).[24]

Quốc Âm Tân Tự là loại chữ viết biểu âm chế tác từ các nét của chữ Hán và chữ Nôm (tương tự như HiraganaKatakana của tiếng Nhật hay Chú âm Phù hiệu của tiếng Quan thoại Đài Loan) dựa theo âm đọc của tiếng Việt, có 22 “cán tự” 幹字 và 110 “chi tự” 枝字 ("cán" nghĩa là thân cây, "chi" nghĩa là cành cây). Cán tự được dùng để ghi phụ âm đầu, chi tự dùng để ghi vần. Mỗi cán tự đều được đặt tên bằng một từ mang vần “ông” có phụ âm đầu là phụ âm đầu mà cán tự đó biểu thị, ví dụ như cán tự biểu thị phụ âm “đ” được đặt tên là “đông” (tương tự như hiện nay người Việt gọi phụ âm "đ" là âm "đờ"). Quốc Âm Tân Tự không phân biệt “d” và “gi” như chữ Quốc ngữ (có thể do tác giả dưa theo giọng miền Bắc khi "d" và "gi" phát âm gần như giống nhau). Có một cán tự được dùng để ghi phụ âm đầu /ʔ/, cán tự này được đặt tên là “ông”.[25]

Tác giả của Quốc Âm Tân Tự đã dùng bốn nét bút là ngang (一), sổ (丨), chấm (丶), phẩy (丿) (nét phẩy còn có biến thể là “㇏”) để tạo nên các cán tự và chi tự. Không phải chữ đơn nào cũng có đủ bốn nét bút kể, có những chữ đơn chỉ có chứa hai hoặc ba nét bút nhưng dù một chữ đơn có bao nhiêu nét bút thì tổng số nét, không phân biệt loại nét bút, trong chữ đơn đó đều là bốn.[26]

Quốc Âm Tân Tự sử dụng cách phân chia thanh điệu truyền thống, thanh điệu được chia thành bốn loại là “bình” 平, “thướng” 上, “khứ” 去, “nhập” 入. Mỗi loại lại được chia ra thành hai bậc “âm” 陰 và “dương” 陽.[27] Tổng cộng có tám thanh là:[27]

  • “Âm bình” 陰平: là thanh ngang theo cách gọi ngày nay.
  • “Dương bình” 陽平: là thanh huyền theo cách gọi ngày nay.
  • “Âm thướng” 陰上: là thanh hỏi theo cách gọi ngày nay.
  • “Dương thướng” 陽上: là thanh ngã theo cách gọi ngày nay.
  • “Âm khứ” 陰去: là thanh sắc ở các từ mà khi viết bằng chữ quốc ngữ không kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.
  • “Dương khứ” 陽去: là thanh nặng ở các từ mà khi viết bằng chữ quốc ngữ không kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.
  • “Âm nhập” 陰入: là thanh sắc ở các từ mà khi viết bằng chữ quốc ngữ kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.
  • “Dương nhập” 陽入: là thanh nặng ở các từ mà khi viết bằng chữ quốc ngữ kết thúc bằng một trong bốn chữ “c”, “ch”, “p”, “t”.

Các thanh thuộc bậc âm được ghi bằng một dấu nhỏ hình nửa vòng tròn, các thanh thuộc bậc dương được ghi bằng một dấu nhỏ hình vòng tròn. Để biểu thị thanh bình, dấu thanh được đặt bên cạnh “chân trái” của chữ, với thanh thướng dấu thanh được đặt bên canh “vai trái” của chữ, với thanh khứ dấu thanh được đặt bên cạnh “vai phải” của chữ, với thanh nhập dấu thanh được đặt bên cạnh “chân phải” của chữ.[27]

Quốc Âm Tân Tự có thể viết dọc hoặc viết ngang như chữ Hán và chữ Nôm, và là một bộ chữ biểu âm do chính người Việt tạo ra (khi mà chữ Nôm là chữ biểu nghĩa do người Việt tạo ra, còn chữ Quốc ngữ là chữ biểu âm lại do người nước ngoài tạo ra). Đáng tiếc là khi Quốc Âm Tân Tự ra đời nó đã không có thời gian đủ dài để được hoàn chỉnh và phổ biến ra dân chúng như Kana ở Nhật Bản, bởi tình hình chính trị và xã hội của Việt Nam khi đó quá phức tạp do sự cai trị dần suy yếu của nhà Nguyễn và cuộc xâm lược của Pháp bắt đầu diễn ra.

Quốc ngữ phiên âm tự[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống "Kí hiệu phát âm"
Bảng chữ PA phiên bản cải tiến
Một trang sách viết bằng chữ PA kiểu rời theo hướng dọc, thuần dùng trong văn bản (không có chữ Hán)
Một trang truyện viết bằng chữ PA viết rời theo hướng dọc, hỗn dụng với chữ Hán trong các đoạn văn trần thuật (chữ Hán đóng vai trò là chữ ghi ý, chữ PA bổ sung phụ âm cuối cho mỗi chữ Hán được dùng với âm tiếng Việt)

Quốc ngữ phiên âm tự, Kí hiệu phát âm, Việt ngữ chú giải phiên âm tự hay Chữ chú âm tiếng Việt, một số nơi gọi tắt là chữ PA (Phonetic Annotation), là những tên gọi khác nhau của bộ chữ do một kỹ sư phần mềm người Đức gốc Việt sáng tạo vào khoảng năm 2013 và được những người dùng trong cộng đồng cải tiến, chỉnh sửa nhiều lần. Tên gọi của bộ chữ vẫn chưa được thống nhất.

Bộ chữ được công bố và sử dụng trên trang web chunom.org. Hệ thống này ban đầu được tạo ra để chú thích âm đọc cho các chữ Hán-Nôm trên trang web. Vì mục đích ban đầu chỉ là để kí hiệu phát âm, tác giả hoàn toàn không tính tới việc nó sẽ được dùng để soạn thảo văn bản hay được dùng hỗn dụng với một hệ thống chữ viết khác nên hệ thống này vẫn chỉ là một hệ thống kí hiệu, chưa đủ khả năng để được sử dụng với đầy đủ chức năng của một bộ chữ viết. Giữa năm 2019, một người dùng trang web đã đề xuất một phiên bản mới của hệ thống này để nó phù hợp hơn khi được sử dụng như một bộ chữ viết. Phiên bản mới này vẫn còn được dùng đến hiện tại.

Bộ chữ này thuộc loại biểu âm, tuy nhiên chưa được phân vào loại nào theo phương thức kí âm. Nó không phải là 1 alphabet vì mỗi kí tự trong bảng không phải là một nguyên âm hay phụ âm. Nó không hẳn là 1 abugida vì mỗi kí tự ghi phụ âm tự thân nó không tạo thành một âm tiết. Nhìn chung, bộ chữ này có thể được chia thành:

  • 23 phụ âm đầu: được ghi bằng các bộ nét hoặc bộ thủ chữ Hán có phụ âm đầu tương ứng trong cách đọc. Ví dụ: 巴 (ba) = b-, 工(công) = c-, k-; 廴 (dẫn) = d- (z-);...
  • 22 nguyên âm (gồm 8 tổ hợp bán nguyên âm đầu + nguyên âm): được ghi bằng các nét sổ, móc...dựa trên mối liên hệ về ngữ âm học của từng nguyên âm. Bán nguyên âm đầu /w/ được kí hiệu bằng một nét gạch ngang phần đầu của nguyên âm tương ứng trong tổ hợp
  • 2 bán nguyên âm cuối: フ=/w/ (tương dương "o" và "u") và レ=/j/ (tương dương "i" và "y")
  • 8 phụ âm cuối: cũng ược ghi bằng các bộ nét hoặc bộ thủ chữ Hán được viết bớt nét hoặc chỉnh sửa hình dạng có phụ âm đầu tương ứng trong cách đọc. Ví dụ: 勹(bao)=-p, 亇(cá)=-c, 尔(nhĩ)=-nh... Việc chỉnh sửa hình dạng bộ nét chữ Hán là để không bị nhầm lẫn trong văn bản có dùng chung với chữ Hán.

Bộ chữ này cũng sử dụng hệ thống các dấu phụ để ghi thanh điệu. Phiên bản cải tiến đã hạn chế bớt một số dấu phụ và thay vào đó tích hợp ghi thanh điệu vào phụ âm đầu. Để làm được điều này, người cải tiến đã sử dụng cách chia thanh điệu truyền thống. Cụ thể: tương ứng với hai bậc âm, dương của mỗi loại sẽ là hai loại phụ âm đầu: phụ âm đầu bậc dương và phụ âm đầu bậc âm. Các dấu phụ đảm nhận vai trò phân biệt các loại thanh có ở mỗi bậc. Các từ có thanh nhập (có phụ âm cuối nếu được ghi bằng chữ Latinh là “c”, “ch”, “p” hoặc “t”) có thể không cần ghi dấu phụ.

Chữ này có hai cách viết: viết kiểu vuông và viết kiểu rời:

  • Kiểu vuông là cách viết mà ở đó các ký tự hợp lại thành một chữ đơn lập, tương đương một từ đơn hay một tiếng của tiếng Việt, tức là bao gồm đầy đủ các âm tố là phụ âm đầu + nguyên âm + phụ âm cuối + thanh điệu trong một khối vuông. Cách viết này giống như các bộ thủ ghép lại thành chữ Hán Nôm truyền thống, hay các chamo ghép lại thành một từ đơn trong Hangul của tiếng Hàn. Khi viết kiểu vuông, tổ hợp phụ âm đầu + nguyên âm sẽ nằm ở trên, phụ âm cuối nếu có sẽ nằm ở dưới; bán nguyên âm cuối フ sẽ đổi thành ㄤ và レ đổi thành 衣 (ở một số phiên bản, nếu từ được viết không có phụ âm cuối thì vị trí phụ âm cuối trong kí tự sẽ là 云).
  • Kiểu rời là cách viết được sử dụng từ khi bộ chữ còn là hệ thống kí hiệu phát âm: tổ hợp phụ âm đầu + nguyên âm sẽ được ghi trong một cặp, còn phụ âm cuối hoặc bán nguyên âm cuối sẽ viết rời, một từ nếu có phụ âm cuối hoặc bán nguyên âm cuối do vậy sẽ được diễn đạt bằng 2 kí tự (2 ô vuông).

Những cách viết này tận dụng việc lắp ghép ký tự thành từ đơn trong không gian vuông cố định như các chữ Hán và chữ Nôm hay như Kana và Hangul, giúp nó vừa có thể viết dọc kiểu truyền thống vừa có thể viết ngang kiểu hiện đại, đồng thời có thể xếp thẳng đều và đẹp, tăng tính thẩm mỹ (điều mà chữ Quốc ngữ không thể làm được vì kích thước ký tự latinh và số lượng ký tự của mỗi từ đơn là khác nhau, nên nếu muốn viết dọc thì buộc phải xoay chữ, không thì sẽ lệch hàng dọc và xấu). Hiện nay chủ yếu dùng kiểu rời, do sự tiện lợi của nó trong việc thiết kế font chữ và khả năng dùng kết hợp với chữ Hán và chữ Nôm đóng vai trò là văn tự biểu ý để bổ nghĩa và tránh đồng âm khác nghĩa (giống như cách phối hợp của KanaKanji trong tiếng Nhật).

Đối với việc dùng bộ chữ PA này để viết các từ ngoại lai trong tiếng Việt, nó cũng sẽ tập trung biểu âm tiếng Việt nhiều hơn so với chữ Quốc ngữ, do chữ Quốc ngữ cũng là chữ Latinh và xu hướng hiện nay là các từ ngoại lai và tên người nước ngoài trong tiếng Việt thay vì viết theo âm tiếng Việt thì thuờng được viết theo kiểu nguyên bản (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Hà Lan,...) hay chuyển tự Latinh (pinyin, romaji, romaja,...) mà không kèm chú thích cách đọc, khiến người Việt thường đọc sai. Ví dụ đơn giản như từ video (/ˈvɪdiəʊ/) - "vi-đi-ô" mà người Việt thường hay đọc sai là "vi-deo" ("vi-zeo") theo chữ Quốc ngữ, nếu viết theo chữ PA thì nó sẽ thường được viết bằng những ký tự thể hiện ba âm tiết đúng là "vi", "đi" và "ô" một cách thường xuyên và mọi người sẽ dễ đọc đúng hoặc gần đúng hơn. Đây là cách làm phổ biến mà các ngôn ngữ không sử dụng chữ Latinh như tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng Thái,... thường dùng để viết và đọc từ ngoại lai và tên riêng nước ngoài: viết theo âm đọc của ngôn ngữ đang sử dụng hàng ngày thay vì viết dựa theo hệ thống chuyển tự Latinh.

Đề xuất dạy chữ Hán trong trường phổ thông[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm qua giới hàn lâm trong lĩnh vực Hán Nôm đã đưa ra ý tưởng về "dạy chữ Hán trong trường phổ thông Việt Nam". Nó thể hiện nhiều nhất ở Hội thảo "Vai trò của Hán Nôm trong văn hóa đương đại" tháng 8/2016 [28], và điển hình là bài viết của PGS. TS Đoàn Lê Giang từ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh [29][30]. Ý tưởng về sự cần thiết này dựa trên 3 lý do:

  • Hiện nay trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong sách báo,... thì tiếng Việt đang bị "dùng sai một cách khủng khiếp". Khoảng già nửa đến 80% từ vựng tiếng Việt là từ gốc Hán (tùy cách ước lượng), với lượng từ đồng âm khá cao, nhưng bị dùng sai tràn lan, ví dụ dùng "khiếm nhã" như là "trang nhã", "yếu điểm"[31] là "điểm yếu",...
  • Người Việt đang "vong bản ngay trên đất nước mình", thể hiện là hầu như không ai biết văn ngôn và chữ Nôm, không đọc được những gì tổ tiên đã viết trên các đình, chùa, bia, miếu,...
  • Các nước Đông Á "không có nước nào dám đoạn tuyệt với chữ Hán", nhờ đó giữ vững được truyền thống và bản sắc văn hóa, đồng thời phát triển được khoa học kỹ thuật và kinh tế, như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,... và cho rằng "Thiếu chữ Hán làm nước ta nghèo nàn, lạc hậu".

Tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từng dạy ngoại ngữ tiếng Trung ở trường phổ thông cấp 2 và 3 vào thời kỳ 1957-1959, nhưng sau đó đã dừng.[32]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bãi đá cổ Nậm Dẩn, cùng với bãi đá cổ Sa Pa, bãi đá Tả Phìn (Lào Cai), đều ở vùng ranh giới của vương quốc Đại Lý với nước Việt hồi năm 950-1100. Phân bố, sự tương tự phong cách tạo hình và mô típ đề tài của các hình ở các bãi đá gợi ý về liên quan đến thời kỳ lịch sử đó.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bồ Đào Nha và chữ Quốc ngữ (chú thích số 3 trong bài)
  2. ^ Hội thảo khoa học quốc gia: "Chữ Quốc ngữ: Sự hình thành, phát triển và đóng góp vào văn hóa Việt Nam"
  3. ^ “Toàn văn Hiến pháp sửa đổi - VnExpress”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 3 tháng 6 năm 2014. 
  4. ^ Có những âm vừa là Hán Việt, vừa là thuần Việt (tức đồng âm khác nghĩa) tuỳ từng trường hợp. Ví dụ như ba - 波 trong phong ba - 風波 ("sóng gió") hay vi ba - 微波 là âm Hán Việt và nó có nghĩa là "sóng".
  5. ^ a ă “Những tên phố Hà Nội phải “luận” chữ Hán mới hiểu nghĩa”. Báo Lao Động. 7 tháng 1 năm 2018. 
  6. ^ Trần Nghĩa. Di sản Hán Nôm Việt Nam. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2017.
  7. ^ Hoàng Xuân Việt. Bạch thư chữ Quốc ngữ. San Jose, CA: Hội văn hóa Việt, 2006. tr 374-375
  8. ^ Lê Ngọc Trụ. "Chữ Quốc ngữ từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX". Tuyển tập Ngôn ngữ văn tự Việt Nam Số 1. Dòng Việt, 1993. Tr. 30-47
  9. ^ Franco-Vietnamese schools
  10. ^ a ă 70 năm thành lập Hội truyền bá quốc ngữ. ĐH Văn hóa Hà Nội, 25/05/2008. Truy cập 20/07/2016.
  11. ^ 70 năm thành lập Hội truyền bá quốc ngữ. Nhân Dân Online, 25/05/2008. Truy cập 20/07/2016.
  12. ^ “An-đi Mu-ray và Xê-rê-na Uy-li-am vô địch đơn nam và nữ”. Báo Nhân Dân. 6 tháng 1 năm 2013. 
  13. ^ “Murray”. Wiktionary. 
  14. ^ “HLV Pắc Hang Xeo chính thức làm HLV trưởng đội tuyển bóng đá Việt Nam”. Báo Nhân Dân. 11 tháng 10 năm 2017. 
  15. ^ “Park Hang Seo là ai, từ "hàng thải" xứ Hàn thành "anh hùng" đất Việt”. Tri thức. 
  16. ^ “Tên của HLV Park Hang-seo phát âm như thế nào là chuẩn?”. An Ninh Thủ Đô. 31 tháng 1 năm 2018. 
  17. ^ Phan Anh Dũng, "Về chữ Thái trong tác phẩm Thanh Hoá quan phong", Tạp chí Hán Nôm, số 2(99), năm 2010, bản lưu trên trang web Viện nghiên cứu Hán Nôm. Truy cập ngày 07 tháng 07 năm 2013.
  18. ^ Phạm Ngọc Dương, "Người 50 năm giải mã chữ của tổ tiên người Việt", VTC News. Truy cập ngày 07 tháng 07 năm 2013.
  19. ^ Văn Lang thời Hùng Vương đã từng có chữ viết riêng?. Đại học Văn Hoá Hà Nội, 2013. Truy cập 19/12/2016.
  20. ^ Giải mã Chữ Việt Cổ. Trung tâm UNESCO Nghiên cứu Bảo tồn Chữ Việt Cổ, 08/05/2013. Truy cập 19/12/2016.
  21. ^ Scott Rutherford. Vietnam, 2003, p230 "Although the lowland Vietnamese, the Kinh, lost their original written script after 1,000 years of Chinese domination, the Muong have nonetheless retained theirs. Known as khoa dau van, it is similar to Thai and Lao, which have Sanskrit..."
  22. ^ An Chi, "Chữ 'Việt cổ' của ông Đỗ Văn Xuyền", Năng lượng Mới. Truy cập ngày 07 tháng 07 năm 2013
  23. ^ An Chi, "Chữ "Việt cổ" của ông Đỗ Văn Xuyền (tiếp)", Năng lượng Mới. Truy cập ngày 07 tháng 07 năm 2013.
  24. ^ Nguyễn Quang Hồng. Khái luận văn tự học chữ Nôm. Nhà xuất bản Giáo dục. Năm 2008. Trang 476–478.
  25. ^ Nguyễn Quang Hồng. Khái luận văn tự học chữ Nôm. Nhà xuất bản Giáo dục. Năm 2008. Trang 478–481.
  26. ^ Nguyễn Quang Hồng. Khái luận văn tự học chữ Nôm. Nhà xuất bản Giáo dục. Năm 2008. Trang 478–480.
  27. ^ a ă â Nguyễn Quang Hồng. Khái luận văn tự học chữ Nôm. Nhà xuất bản Giáo dục. Năm 2008. Trang 483.
  28. ^ Nguyễn Thu Hà (ngày 29 tháng 8 năm 2016). “Hội thảo Quốc gia "Vai trò của Hán Nôm trong văn hoá đương đại". Viện nghiên cứu Hán Nôm. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2016. . Viện Hán Nôm, 29/08/2016. Truy cập 02/10/2016.
  29. ^ Tại sao nên đưa chữ Hán quay trở lại trường phổ thông?. vietnamnet, 30/08/2016. Truy cập 02/10/2016.
  30. ^ Vì sao cần dạy chữ Hán thay tiếng Anh ở trường phổ thông?. Vtc News, 02/09/2016. Truy cập 02/10/2016.
  31. ^ "yếu điểm" (要点) có nghĩa là "điểm quan trọng, điểm cần thiết" ("yếu" ở đây nghĩa là "trọng yếu", "thiết yếu")
  32. ^ Vũ Thế Khôi (2009). “Ai ‘bức tử’ chữ Hán-Nôm?”. Ngôn ngữ & Đời sống (Hội Ngôn ngữ học Việt Nam) (164): 40–43. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]