Charlie Puth

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Charlie Puth
Charlie Puth 2016.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Charles Otto Puth Jr.
Sinh 2 tháng 12, 1991 (27 tuổi)
Rumson, New Jersey, Hoa Kỳ
Thể loại
Nghề nghiệp
  • Ca sĩ
  • nhạc sĩ
Nhạc cụ
Năm hoạt động 2009–nay
Hãng đĩa
Hợp tác với Wiz Khalifa, Selena Gomez, Meghan Trainor, Kehlani, James Taylor
Website charlieputh.com

Charles Otto "Charlie" Puth Jr.[1] (sinh ngày 2 tháng 12 năm 1991) là ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất thu âm người Mỹ. Anh nổi tiếng một cách nhanh chóng từ những video phát hành trên trang mạng YouTube. Anh đã ra mắt hai đĩa EP, The Otto Tunes (2010) và Ego (2013), trên danh nghĩa một nghệ sĩ độc lập. Năm 2015, Anh ký hợp đồng với hãng Atlantic Records và phát hành đĩa đơn debut Marvin Gaye, hợp tác với ca sĩ Meghan Trainor. Đĩa đơn đã được chứng nhận 2× Bạch kim ở Úc, dẫn đầu các bảng xếp hạng ở New Zealand, Ireland, và Vương quốc Anh và đạt hạng 7 ở bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Mỹ. Charlie đồng sáng tác, sản xuất và góp giọng trong ca khúc See you again của Wiz Khalifa từ album Furious 7 để tưởng nhớ nam diễn viên quá cố Paul Walker. Ngày 1 tháng 5 năm 2016, anh phát hành đĩa EP Some Type of Love. Album debut của anh Nine Track Mind được cho phép đặt hàng trước vào ngày 20 tháng 8 năm 2015 song song với đĩa đơn "One Call Away", và được chính thức phát hành vào ngày 29 tháng 1 năm 2016. Vào năm 2017, anh phát hành hai đĩa đơn "Attention" và "How long" từ album phòng thu thứ hai Voicenotes được phát hành vào ngày 11 tháng 5 năm 2018. Ngoài ra, trong năm 2018 anh phát hành thêm 2 đĩa đơn thuộc album Voicenotes là "Done for me" hợp tác cùng Kehlani và "The Way I Am". Hiện anh đang sáng tác các ca khúc cho album tiếp theo sắp được ra mắt người hâm mộ vào năm 2019.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Charlie Puth, tên thật là Charles Otto "Charlie" Puth Jr. sinh ra vào ngày 2 tháng 12 năm 1991 ở Rumson, bang New Jersey, Mỹ. Bố anh, Chuck Puth, ông là người theo đạo Công giáo, mang hai dòng máu ĐứcHungaria, còn mẹ anh, Debra Puth là người Do Thái; ngoài ra anh còn có hai đứa em sinh đôi kém anh 3 tuổi là em gái Mikeala Puth, đồng thời là quản lí của anh và Stephen Puth, cậu cũng đam mê âm nhạc như người anh của mình. Vì Charlie lớn lên trong một gia đình có mẹ là một giáo viên thanh nhạc, nên anh được làm quen với âm nhạc từ rất sớm. Được thừa hưởng dòng máu Do Thái đặc biệt, ngay từ bé Charlie đã có khả năng thẩm âm hoàn hảo (nghe được chính xác âm thanh nốt nhạc mà không cần nhìn) và có thể tự beatbox khi mới lên 5. Trong đầu anh từ bé đã luôn luôn có những giai điệu thú vị. Charlie được học đàn khi mới 4 tuổi, học về nhạc jazz khi anh 10 tuổi. Charlie từng tự thu âm một album mừng Giáng sinh mang tên "Have A Merry Charlie Christmas" năm 12 tuổi và đem bán cho hàng xóm, tất nhiên sau đó anh cũng thu được một khoảng kha khá ($600-tương đương 13,800,000 VNĐ). Charlie đam mê piano và âm nhạc tới mức tình yêu nhạc jazz đã đưa anh đi tới New York trong vòng 5 năm, chỉ để tham gia lớp học nhạc yêu thích của anh vào thứ bảy. Charlie học Thanh nhạc và chơi nhạc cổ điển ở Manhattan School of Music, để rồi đạt được học bổng đi học ở Berklee College of Music tại Boston, một trong những ngôi trường Đại học có nền giáo dục thanh nhạc tốt nhất. Charlie rất hay xấu hổ và ngại giao tiếp, vì vậy nên suốt quãng thời gian đi học anh thường xuyên là mục tiêu của việc bắt nạt, tuy nhiên anh cho rằng đó cũng là cách khiến anh trở nên tự lập hơn. Cuối tuần anh thường rảnh rỗi lập mã máy tính. Năm 18 tuổi, Charlie lập một tài khoản YouTube tên là "Charlie's Vlogs" vào ngày 09/09/2009. Kênh của anh có những bài hát được cover, những bài hát chế hài hước và những video đời sống hàng ngày của mình, qua đó anh và fan được gần với nhau hơn. Sở dĩ anh làm vậy là vì anh không có đủ can đảm để hát trước mặt 2 người trở lên. Qua một bài phỏng vấn, anh đã nói: "Tôi yêu YouTube rất nhiều, đó là thứ giúp cho tôi can đảm hơn để hát trước mặt các fan của mình." Ngoài ra, trong khoảng thời gian còn là YouTuber, anh thỉnh thoảng hay biểu diễn tại các địa điểm công cộng ngoài trời. Năm 2011, anh cùng với bạn cùng học Emily Luther tham gia một cuộc thi hát trên YouTube và chiến thắng với ca khúc cover "Someone Like You" của Adele. Lập tức sau đó cả hai được mời tới chương trình The EllenDeGeneres Show của MC Ellen DeGeneres nổi tiếng, và được kí hợp đồng làm việc cho hãng đĩa eleveneleven. Đến năm 2015, Charlie kí kết được hợp đồng với hãng đĩa Atlantic Records dưới danh nghĩa một nhạc sĩ, nhà sản xuất âm nhạc; vậy nên từ lúc ấy, mọi video ban đầu của anh bị xoá sạch, chỉ để lại 2 video. Trước khi ra mắt các sản phẩm mới của mình, anh có viết nhạc cho Jason Derulo.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Title Details Peak chart positions
US
[2]
US
Heat

[3]
Nine Track Mind
  • Release date: ngày 6 tháng 11 năm 2015[4]
  • Label: Artist Partner Group
  • Formats: CD, digital download
6
Voicenotes -Release date: ngày 11 tháng 5 năm 2018

Label: Artist Partner Group

Đĩa mở rộng[sửa | sửa mã nguồn]

Title Details Peak chart positions
US
[2]
US
Heat

[3]
Some Type of Love
  • Released: ngày 1 tháng 5 năm 2015[5]
  • Label: Artist Partner Group
  • Formats: Digital download
37 3

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Hát chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tên bài hát Năm Vị trí cao nhất trên các bảng xếp hạng Chứng nhận Album
US
[6]
AUS
[7]
AUT
[8]
BEL
(Vl)

[9]
IRE
[10]
NZ
[11]
SWE
[12]
SWI
[13]
UK
[14]
"Marvin Gaye"
(hợp tác với Meghan Trainor)
2015 25 4 36 5 1 1 30 19 1 Some Type of LoveNine Track Mind
"Nothing but Trouble"[17]
(with Lil Wayne)
[18] 808 SoundtrackNine Track Mind
"One Call Away" 75 3 73
  • RMNZ: Bạch kim
Nine Track Mind
We Don't Talk Anymore (với Selena Gomez) 2016 78 Nine Track Mind
Dangerously 2017 Nine Track Mind
"—" denotes a single that did not chart or was not released in that territory.

Hát phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Title Year Peak chart positions Certifications Album
US
[6]
AUS
[7]
AUT
[8]
BEL
(Vl)

[9]
DEN
[19]
GER
[20]
NZ
[11]
SWE
[12]
SWI
[13]
UK
[14]
"See You Again"
(Wiz Khalifa hợp tác với Charlie Puth)
2015 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Furious 7: Original Motion Picture Soundtrack

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách video âm nhac, năm phát hành và đạo diễn
Tên Năm Nghệ sĩ Đạo diễn Chú thích
As lead artist
"Marvin Gaye" 2015 Charlie Puth và Meghan Trainor Marc Klasfeld [26]
"Nothing But Trouble" Charlie Puth và Lil Wayne Ryan Staake [27]
"One Call Away" Charlie Puth Mark Staubach [28]
"Dangerously" 2017 Charlie Puth Aya Tanimura [29]
"Attention" 2017 Charlie Puth Emil Nave
"How Long" 2017 Charlie Puth
Hợp tác
"See You Again" 2015 Wiz Khalifa hợp tác với Charlie Puth Marc Klasfeld [30]
"We don't talk anymore" 2016 Charlie Puth và Mirella Cardoso Phil Pinto [31]

Các giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Đề mục Đề cử cho Kết quả Chú thích
2015 Teen Choice Awards Choice Music: R&B/Hip-Hop Song "See You Again" Đoạt giải [32]
Choice Music: Collaboration Đề cử
Choice Music: TV or Movie Song Đoạt giải
MTV Europe Awards Best Song Đề cử [33]
Best Collaboration Đề cử
American Music Awards Song of the Year Đề cử [34]
Collaboration of the Year Đề cử
Hollywood Music in Media Awards Song – Feature Film Đoạt giải [35]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Manila (ngày 10 tháng 5 năm 2015). “Charlie Puth — Ethnicity of Celebs | What Nationality Background Ancestry Race”. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2015. 
  2. ^ a ă “Top 200 Albums: Billboard”. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2015. 
  3. ^ a ă “Charlie Puth – Chart history: Heatseekers Albums”. Billboard. Prometheus Global Media. 
  4. ^ “Nine Track Mind by Charlie Puth”. iTunes. 
  5. ^ “Some Type of Love - EP on iTunes”. iTunes. 
  6. ^ a ă “Meghan Trainor – Chart history: The Hot 100”. Billboard. Prometheus Global Media. 
  7. ^ a ă Hung, Steffen. “Discography Charlie Puth”. Australian Charts Portal. Hung Medien (Steffen Hung). 
  8. ^ a ă Hung, Steffen. “Discographie Charlie Puth”. Austrian Charts Portal. Hung Medien (Steffen Hung). 
  9. ^ a ă Hung, Steffen. “Discografie Charlie Puth”. Belgium (Flanders) Charts Portal. Hung Medien (Steffen Hung). 
  10. ^ “Discografie Charlie Puth”. Irish Singles Charts Portal. 
  11. ^ a ă Hung, Steffen. “Discography Charlie Puth”. New Zealand Charts Portal. Hung Medien (Steffen Hung). 
  12. ^ a ă Hung, Steffen. “Discography Charlie Puth”. Swedish Charts Portal. Hung Medien (Steffen Hung). 
  13. ^ a ă Hung, Steffen. “Discographie Charlie Puth”. Swiss Charts Portal. Hung Medien (Steffen Hung). 
  14. ^ a ă Peak positions in the United Kingdom:
  15. ^ Ryan, Gavin (ngày 8 tháng 8 năm 2015). “ARIA Singles: One Direction 'Drag Me Down' Is No 1”. Noise11. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2015. 
  16. ^ “New Zealand single certifications – Charlie Puth and Meghan Trainor – Marvin Gaye”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2015. 
  17. ^ “Charlie Puth post on Instagram”. Instagram. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015. [liên kết hỏng]
  18. ^ “Lil Wayne Album & Song Chart History: Bubbling Under Hot 100”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  19. ^ Hung, Steffen. “Discography Charlie Puth”. Danish Charts Portal. Hung Medien (Steffen Hung). 
  20. ^ Hung, Steffen. “Discographie Charlie Puth”. German Charts Portal. Hung Medien (Steffen Hung). [liên kết hỏng]
  21. ^ “Gold & Platinum: Wiz Khalifa”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015. [liên kết hỏng]
  22. ^ “ARIA Australian Top 50 Singles Chart”. Australian Recording Industry Association. Ngày 29 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015. [liên kết hỏng]
  23. ^ “Gold-/Platin-Datenbank”. Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2015. [liên kết hỏng]
  24. ^ “New Zealand single certifications – Wiz Khalifa feat. Charlie Puth – See You Again”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2015. 
  25. ^ “Certified Awards” (enter "Charlie Puth" into the "Keywords" box, then select "Search"). British Phonographic Industry. 
  26. ^ “Charlie Puth: Marvin Gaye”. MTV. Viacom Media Networks. 
  27. ^ “Charlie Puth: Nothing But Trouble”. MTV. Viacom Media Networks. 
  28. ^ “Charlie Puth: One Call Away”. MTV. Viacom Media Networks. 
  29. ^ “Charlie Puth - Dangerously [Official Video]”. 
  30. ^ Tardio, Andres (ngày 15 tháng 4 năm 2015). “Wiz Khalifa Opens Up About Writing Emotional Paul Walker Tribute ‘See You Again’”. MTV. Viacom Media Networks. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2015. 
  31. ^ https://www.youtube.com/watch?v=3AtDnEC4zak
  32. ^ “Wave 2 Nominees”. Teen Choice. Fox. Ngày 7 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  33. ^ “MTV EMAs 2015 Nominations List: Taylor Swift Leads As Ed Sheeran And Ruby Rose Set To Host”. 95-106 Capital FM. This is Global Limited. Ngày 5 tháng 10 năm 2015. 
  34. ^ “2015 American Music Awards: Taylor Swift Leads Nominations”. Prometheus Global Media. Billboard. Ngày 13 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 
  35. ^ “HHollywood Music in Media Awards: 'Hunting Ground,' 'Furious 7,' '50 Shades of Grey' Claim Top Prizes”. The Hollywood Reporter. Ngày 12 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]