Chiến dịch Sa mạc Tây

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến dịch Sa mạc Tây
Một phần của Mặt trận Bắc Phi trong
Chiến tranh thế giới thứ hai
Bundesarchiv Bild 101I-783-0104-38, Nordafrika, italienische Panzer M13-40.jpg
Đoàn xe tăng Ý M13/40 tiến qua sa mạc, tháng 4 năm 1941
.
Thời gian 11 tháng 6, 19404 tháng 2, 1943
(2 năm, 7 tháng, 3 tuần và 3 ngày)
Địa điểm Sa mạc Tây, thuộc Ai CậpLibya
Kết quả Phe Đồng Minh chiến thắng
Tham chiến
 Anh Quốc

 Úc
 New Zealand
 Nam Phi
 Pháp tự do
Ba Lan Ba Lan
 Hy Lạp
Tiệp Khắc Tiệp Khắc

 Vương quốc Ý
 Đức Quốc Xã
Chỉ huy
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Richard O'Connor  Đầu hàng
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Philip Neame  Đầu hàng
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Noel Beresford-Peirse
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Alan Cunningham
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Neil Ritchie
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Claude Auchinleck
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Bernard Montgomery
Úc Leslie Morshead
Vương quốc Ý (1861-1946) Italo Balbo  
Vương quốc Ý (1861-1946) Rodolfo Graziani
Vương quốc Ý (1861-1946) Italo Gariboldi
Vương quốc Ý (1861-1946) Ettore Bastico
Đức Quốc Xã Erwin Rommel
Đức Quốc Xã Georg Stumme  
Đức Quốc Xã Ritter von Thoma  Đầu hàng
.

Chiến dịch Sa mạc Tây hay Chiến tranh Sa mạc diễn ra tại Sa mạc Tây thuộc Ai Cập và Libya là giai đoạn đầu của Mặt trận Bắc Phi thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Chiến dịch bắt đầu vào tháng 9 năm 1940, khi quân đội phát xít Ý đóng tại Libya tiến hành xâm chiếm Ai Cập, nhằm vào các lực lượng Anh và Khối Thịnh vượng chung tại đây. Cuộc tấn công này đã bị chặn đứng, và đến tháng 12 năm đó, người Anh phản công. Đòn phản công ban đầu chỉ là cuộc đột kích trong 5 ngày đã phát triển thành một chiến dịch lớn mang tên Chiến dịch Compass, hủy diệt hoàn toàn Tập đoàn quân số 10 Ý. Benito Mussolini phải tìm kiếm sự giúp đỡ của Adolf Hitler và một lực lượng nhỏ quân Đức đã được phái tới Tripoli theo Chỉ thị số 22 ngày 11 tháng 1, đây là những đơn vị đầu tiên của Quân đoàn châu Phi do tướng Erwin Rommel chỉ huy, trên danh nghĩa là dưới quyền người Ý nhưng thực ra họ bị phụ thuộc và Đức Quốc Xã trở thành đồng minh cấp trên của Ý.

Kết quả thắng bại trong quá trình diễn biến chiến dịch này chủ yếu được định đoạt từ khả năng tiếp tế và vận chuyển của các bên tham chiến. Việc quân Đồng Minh sở hữu căn cứ trên đảo Malta nên có khả năng chặn đánh các đoàn tàu hàng của phe Trục trên Địa Trung Hải đã đóng vai trò quan trọng đến diễn biến chiến sự, giúp ngăn cản nguồn nhiên liệu và tiếp viện mà tư lệnh Đức Erwin Rommel rất cần đến trong những thời điểm hệ trọng. Đến đầu năm 1942, Không lực Lục quân Hoa Kỳ bắt đầu cho xây dựng một lực lượng máy bay ném bom (cuối năm đó bổ sung thêm thành phần tiêm kích) để hỗ trợ cho chiến dịch, gọi là Chiến dịch Ai Cập-Libya.

Ngay từ đầu, Chiến dịch Sa mạc Tây đã là một cuộc chiến bao gồm những hoạt động tiến và lùi diễn ra liên tục. Trong vòng 2 năm, các lực lượng phe Trục đã ba lần đẩy lui quân Đồng Minh về Ai Cập, nhưng không giành được thắng lợi mang tính quyết định và cuối cùng Đồng Minh vẫn giành lại được những lãnh thổ bị mất. Trong cuộc tấn công cuối cùng của phe Trục, quân Đồng Minh đã giành chiến thắng quyết định trong Trận El Alamein thứ hai. Từ đó về sau quân Trục không bao giờ có thể hồi phục lại được và bị đánh bật về phía tây, ra khỏi Libya đến tận Tunisia. Đến lúc đó thì "Chiến dịch Sa mạc Tây" cũng hoàn toàn kết thúc. Tập đoàn quân số 8 Anh và quân của Rommel tiếp tục tham gia "Chiến dịch Tunisia" vốn đã bắt đầu từ trước đó vào tháng 11 năm 1942, tại đây phe Trục lại bại trận một lần cuối cùng nữa tại châu Phi.

Kể từ sau thất bại của Anh trong Chiến dịch Balkan, chiến dịch Sa mạc Tây trở nên quan trọng trong chiến lược của người Anh. Còn đối với Adolf Hitler, Mặt trận Xô-Đức lấn át hoàn toàn cuộc chiến tại sa mạc, nên nó chỉ giữ một vài trò thứ yếu. Quân đội phe Trục không bao giờ được cung cấp đủ nguồn lực cũng như phương tiện để đánh bại người Anh, khi mà đối thủ của họ bỏ lỡ nhiều cơ hội để dứt điểm chiến dịch khi chuyển bớt lực lượng đến Hy Lạp và Levant năm 1941, hay đến Viễn Đông năm 1942.

Bối cảnh năm 1940[sửa | sửa mã nguồn]

Libya[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Bắc Phi trước khi chiến dịch bắt đầu

Cyrenaica (Libya) đã trở thành thuộc địa của Ý kể từ khi Quân đội Hoàng gia Ý (Regio Esercito) đánh bại quân đội của Đế quốc Ottoman trong Chiến tranh Ý-Thổ Nhĩ Kỳ (1911–1912). Vùng đất này tây giáp Tunisia thuộc Pháp, đông giáp Ai Cập, nên người Ý đã chuẩn bị phòng ngự cả hai mặt trận, thông qua Tổng hành dinh Tối cao Bắc Phi dưới quyền Toàn quyền Libya, Thống chế không quân Ý Italo Balbo. Tổng hành dinh Tối cao có trong tay Tập đoàn quân số 5 của tướng Italo Gariboldi đóng ở phía tây và Tập đoàn quân số 10 của tướng Mario Berti đóng ở phía đông. Đến giữa năm 1940, mỗi tập đoàn quân có 9 sư đoàn chính quốc với khoảng 13.000 người, 3 sư đoàn Dân quân Tự nguyện cho An ninh Quốc gia (Áo đen) và 2 Sư đoàn Thuộc địa Libya, mỗi sư đoàn có 8.000 quân. Vào cuối những năm 1930, các sư đoàn lục quân Ý đã được tái tổ chức từ 3 trung đoàn giảm xuống còn 2, và lính dự bị được gọi tái ngũ trong năm 1939 cùng với những đợt tuyển lính nghĩa vụ thường lệ.[1]

Xe tankette không có tháp pháo của Ý với cặp súng máy.

Tinh thần chiến đấu của binh sĩ được coi là cao, và lục quân đã có nhiều kinh nghiệm hoạt động quân sự trong thời gian gần đó. Hải quân Ý phát triển mạnh dưới chế độ Phát xít, họ đã trả tiền mua những con tàu tốc độ nhanh, cấu trúc tốt và được trang bị mạnh, cùng với một hạm đội tàu ngầm lớn, nhưng hải quân lại thiếu kinh nghiệm và ít được huấn luyện. Không quân đã tiến hành chuẩn bị cho chiến tranh từ năm 1936 nhưng bị ngưng trệ và bị người Anh coi là không có khả năng duy trì tỷ lệ hoạt động cao. Tập đoàn quân số 5 có 8 sư đoàn đóng tại Tripolitania, nửa phía tây của Libya đối diện với Tunisia còn Tập đoàn quân số 10 với 6 sư đoàn bộ binh đóng giữ Cyrenaica ở phía đông. Khi chiến tranh bùng nổ, Tập đoàn quân số 10 triển khai Sư đoàn Libya số 1 Sibelle tại biên giới từ Giarabub đến Sidi Omar; Quân đoàn XXI từ Sidi Omar tới bờ biển, BardiaTobruk. Quân đoàn XXII di chuyển đến tây nam Tobruk để làm lực lượng phản công.[1]

Ai Cập[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng hạng nhẹ của Anh với súng máy trong tháp pháo quay.

Người Anh đã có quân đóng tại Ai Cập kể từ năm 1882, nhưng từ sau khi hiệp ước Anh-Ai Cập được ký kết năm 1936 thì số quân này đã bị giảm đi rất nhiều. Lực lượng tương đối khiêm tốn của Anh và Khối Thịnh vượng chung hiện có ở Ai Cập chủ yếu là ở ven Biển Đỏ và bảo vệ kênh đào Suez, con kênh có vai trò vô cùng quan trọng đối với mối liên lạc giữa nước Anh và các thuộc địa của nó ở Viễn ĐôngẤn Độ Dương. Tháng 6 năm 1939, trung tướng Henry Maitland "Jumbo" Wilson đã đến Cairo để làm Đại tướng Tư lệnh (GOC) các đội quân Anh tại Ai Cập và được giao chỉ huy các lực lượng Anh cùng Khối Thịnh vượng chung phòng thủ tại quốc gia này.

Đến cuối tháng 7, trung tướng Archibald Wavell được bổ nhiệm chức đại tướng địa phương và phái đến Cairo làm Đại tướng Tổng Tư lệnh (GOC-in-C) của Bộ tư lệnh Trung Đông mới thành lập, chịu trách nhiệm toàn bộ vùng Chiến trường Địa Trung Hải và Trung Đông. Bộ tư lệnh này có quyền kiểm soát hoạt động của toàn bộ lực lượng trên bộ ở Ai Cập, Sudan, Palestine, TransjordanSíp.[2] Khi chiến tranh leo thang, quyền hạn của nó lan rộng ra cả các lực lượng trên bộ do Anh chỉ huy tại đông và bắc châu Phi, Aden, Iraq và bờ biển vịnh Ba Tư và Hy Lạp. Cho đến khi Hiệp định đình chiến ngày 22 tháng năm 1940 giữa Pháp và phe Trục được ký, các sư đoàn Pháp tại Tunisia vẫn đối diện với Tập đoàn quân số 5 Ý ở biên giới tây Libya.[3]

Các lực lượng Anh bao gồm Sư đoàn Lưu động (Ai Cập) (thiếu tướng Percy Hobart), một trong hai đội hình thiết giáp huấn luyện của Anh mà vào giữa năm 1939 được đặt tên lại là Sư đoàn Thiết giáp (Ai Cập) (ngày 16 tháng 2 năm 1940, nó trở thành Sư đoàn Thiết giáp số 7). Biên giới Ai Cập–Libya được phòng ngự bởi Lực lượng Tiên phong Ai Cập và đến tháng 6 năm 1940, tổng hành dinh của Sư đoàn Bộ binh số 6 (thiếu tướng Richard O'Connor) đã tiếp quyền chỉ huy tại Sa Mạc Tây, với chỉ thị là đẩy lui quân Ý ra khỏi các đồn bốt tại biên giới và chiếm lĩnh vùng nội địa khi cuộc chiến bắt đầu. Sư đoàn Thiết giáp số 7 (thiếu Lữ đoàn Thiết giáp số 7) tập trung tại Mersa Matruh và điều Cụm Yểm trợ số 7 tiến về phía biên giới để làm lực lượng đảm bảo. Không quân Hoàng gia Anh cũng điều phần lớn máy bay ném bom đến gần biên giới hơn, và đảo Malta được tăng cường để uy hiếp con đường tiếp tế của Ý cho Libya.[4]

Tổng hành dinh Sư đoàn Bộ binh số 6, thiếu các đơn vị đầy đủ và được huấn luyện bài bản, đã được đổi tên thành Lực lượng Sa Mạc Tây ngày 17 tháng 6, khi đã đã tiến sát Libya. O'Connor cũng được thăng cấp trung tướng vào tháng 10 khi bộ chỉ huy của ông được tăng cường và mở rộng. Ở Tunisia, Pháp có 8 sư đoàn, chỉ có khả năng hoạt động hạn chế còn ở Syria có 3 sư đoàn được trang bị nghèo nàn và đào tạo kém, với khoảng 40.000 quân và lính biên phòng làm nhiệm vụ chiếm đóng đối phó thường dân. Các lực lượng Ý trên bộ và không quân tại Libya áp đảo mạnh quân Anh về số lượng tại Ai Cập nhưng tinh thần chiến đấu thấp và gặp bất lợi do trang bị kém hơn. Tại Đông Phi thuộc Ý, có thêm 130.000 lính Ý và lính châu Phi với 400 khẩu pháo, 200 xe tăng hạng nhẹ và 20.000 xe tải. Ý tuyên chiến với Đồng Minh vào ngày 11 tháng 6 năm 1940.[5]

Theo Thủ tướng Anh Winston Churchill, Lục quân Hoàng gia Ý có khoảng 215.000 quân tại Libya đối mặt với xấp xỉ 36.000 quân Anh tại Ai Cập, cùng với thêm 27.500 người đang huấn luyện tại Palestine. Người Anh ước tính về bộ binh, phía Ý có 6 sư đoàn "chính quốc" và 2 sư đoàn "dân quân" ở Tripolitania, 2 sư đoàn "chính quốc" và 2 sư đoàn "dân quân" tại Cyrenaica, và còn có 3 sư đoàn "biên giới". Để đối phó với lực lượng này, phía Anh có Sư đoàn Thiết giáp số 7, 2/3 Sư đoàn Bộ binh Ấn Độ số 4, 1/3 Sư đoàn New Zealand (sau trở thành sư đoàn New Zealand số 2), 14 tiểu đoàn Anh, và 2 trung đoàn Pháo binh Hoàng gia.[6]

Điều kiện chiến trường[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến sự diễn ra chủ yếu trên Sa mạc Tây, chiều rộng khoảng 390 km bờ biển từ Mersa Matruh (Ai Cập) đến Gazala (Libya), dọc theo Litoranea Balbo, con đường nhựa duy nhất. Địa mạo Biến Cát nằm sâu 240 km trong nội địa đánh dấu giới hạn phía nam của sa mạc tại nơi rộng nhất của nó là ở Giarabub và Siwa; theo cách nói của người Anh thì Sa mạc Tây trải rộng bao gồm cả miền đông Cyrenaica của Libya. Từ bờ biển mở rộng vào trong nội địa là một vùng đá sa mạc bằng phẳng cao khoảng 150 m trên mực nước biển, chạy sâu 200–300 km đến vùng Biển Cát.[7] Khu vực này có bò cạp, rắn và ruồi, và là nơi sinh sống của một số nhỏ dân du mục Bedouin. Người Bedouin đoàn kết tốt và có khả năng dễ dàng đi theo địa hình; chuyển hướng đi lại qua mặt trời, những ngôi sao, la bàn và "cảm giác sa mạc", họ nhận thức tốt về môi trường dựa vào kinh nghiệm. Khi quân Ý tiến vào Ai Cập trong tháng 9 năm 1940, Cụm Maletti đã bị lạc khi rời Sidi Omar, mất tích và phải dùng máy bay mới tìm ra được họ.[8]

Vào mùa xuân và mùa hè, ngày rất nóng còn đêm rất lạnh.[9] Gió Sirocco (Gibleh hay Ghibli) là một loại gió sa mạc nóng bỏng, thổi theo đám cát mịn làm giảm tầm nhìn đi còn vài dặm và phủ lên mắt, phổi, máy móc, thực phẩm và trang bị; những xe có động cơ và máy bay cần bộ lọc dầu đặc biệt mới chạy được, và đất đai khô cằn đồng nghĩa với việc đồ tiếp tế thức ăn phải được vận chuyển từ bên ngoài đến.[10] Các động cơ máy móc của Đức thường bị quá tải nhiệt và tuổi thọ động cơ xe tăng giảm từ 2.300–2.600 km xuống còn 480–1.450 km, và còn tệ hơn nữa do tình trạng thiếu những bộ phận tiêu chuẩn các loại của Đức và Ý.[11]

Tiếp tế[sửa | sửa mã nguồn]

Phe Trục[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Những cuộc đột kích ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Những "lực lượng yểm hộ" ban đầu mà người Anh triển khai dọc biên giới Ai Cập, tuy nhỏ nhưng có khả năng chiến đấu hiệu quả. Nó bao gồm xe tăng hạng nhẹ thuộc Trung đoàn Kỵ binh Hussar số 7, xe thiết giáp của Trung đoàn Kỵ binh Hussar số 11, 2 tiểu đoàn mô tô thuộc Trung đoàn Bộ binh Súng trường số 60 và Lữ đoàn Súng trường, cùng 2 trung đoàn Kỵ Pháo binh Hoàng gia Anh được cơ giới hóa.[12]

Diễn biến Chiến dịch Sa mạc Tây, các năm 1940–1942

Ngày 11 tháng 6 năm 1940, một ngày sau khi Ý tuyên chiến với phe Đồng Minh, các lực lượng Ý tại Libya là lực lượng Anh cùng Khối Thịnh vượng chung ở Ai Cập đã mở một loạt những cuộc đột kích vào nhau. Trong số đó, đáng chú ý có cuộc tấn công của Trung đoàn Kỵ binh Hussar số 11 xảy ra trong vòng 24 tiếng đồng hồ sau khi Ý tuyên chiến. Xe thiết giáp vượt biên giới tiến vào Libya và bắt giữ nhiều người Ý mà dường như còn chưa biết là chiến tranh đã bắt đầu.[12] Ngày 12 tháng 6, thêm 63 người Ý bị bắt làm tù binh tỏng một cuộc đột kích khác.

Ngày 14 tháng 6, các trung đoàn kỵ binh Hussar số 11 và số 7 cùng với một đại đội thuộc Trung đoàn Bộ binh Súng trường số 60 đánh chiếm pháo đài Capuzzo và pháo đài Maddalena đồng thời bắt thêm 220 tù binh Ý. Ngày 16 tháng 6, một cuộc đột kích chiều sâu vào trong lãnh thổ Libya đã phá hủy 12 xe tăng Ý. Ngoài ra, một đoàn xe hộ tống đã bị chặn đánh trên con đường quốc lộ nối giữa Tobruk-Bardia, một phần của tuyến đường Quốc lộ Duyên hải Libya (Via Balbia), trong vụ này có một viên tướng Ý đã bị bắt sống.[13]

Đến ngày 25 tháng 6, Pháp ký hiệp định đình chiến với Ý, chính thức đầu hàng phe Trục. Nhờ đó, binh lính và trang bị của Tập đoàn quân số 5 Ý (đóng tại Tripolitania đối diện quân Pháp ở Tunisia) được điều bớt sang tăng cường cho Tập đoàn quân 10. Tập đoàn quân 5 chỉ còn lại 4 sư đoàn, trong khi Tập đoàn quân 10 được phát triển lên đến 10 sư đoàn. Đến giữa tháng 7, quân Ý đã phát triển lực lượng tại biên giới Ai Cập trở thành một đội quân gồm 2 sư đoàn bộ binh đầy đủ và các thành phần của hai sư đoàn khác nữa.[13]

Ngày 28 tháng 6, Thống chế Balbo bị giết chết trong một tai nạn nhầm lẫn khi đang đổ bộ tại Tobruk. Máy bay của ông đã bị hỏa lực phòng không của quân Ý bắn nhầm do hạ cánh ngay sau một cuộc không kích của Anh. Thay thế chức vụ tổng tư lệnh và toàn quyền của Balbo là thống chế Rodolfo Graziani.

Các sĩ quan thuộc Trung đoàn Kỵ binh Hussar số 11 lấy dù tạo bóng râm để nghỉ ngơi trong khi đang tuần tra biên giới Libya, ngày 26 tháng 7 năm 1940, bên cạnh chiếc xe bọc thép Morris CS9.

Ngày 5 tháng 8, chiến sự nổ ra tại khu vực nằm giữa sân bay Sidi Azeiz và pháo đài Capuzzo, tuy lớn nhưng bất phân thắng bại. 30 xe tăng hạng trung M11/39 Ý đã chạm trán với Trung đoàn Kỵ binh Hussar số 8 khi họ cố gắng thiết lập lại quyền kiểm soát của Ý khu vực này. Tướng Wavell kết luận rằng ông còn chưa đủ điều kiện để ngăn chặn người Ý.

Tình trạng hao mòn và hỏng hóc của các xe cộ thiết giáp thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 7 Anh lúc này đang gia tăng đến mức khủng hoảng, đòi hỏi cần phải có những phân xưởng sửa chữa. Đứng trước tình hình chỉ có trung bình một nửa số xe tăng có thể sẵn sàng chiến đấu và nhận ra rằng một lực lượng hữu hiệu của mình đã kiệt sức mà chẳng có mục đích chiến lược nào, Wavell liền hạn chế việc mở rộng chiến sự và bàn giao việc phòng thủ biên giới cho Cụm Yểm trợ số 7 của lữ đoàn trưởng William Gott và Trung đoàn Kỵ binh Hussar số 11 của trung tá John Combe. Các đơn vị này sẽ trở thành một tấm bình phong làm từ nhiều tiền đồn nhằm cảnh báo bất cứ nỗ lực tiếp cận nào của Ý.[14]

Tính đến ngày 13 tháng 8, theo những diễn biến trong giai đoạn chiến sự ban đầu, bảng thống kê tương quan nghiêng về phía có lợi cho phía Anh. Họ kiểm soát sa mạc và áp đảo được quân Ý. Những thất bại ban đầu đã khiến cho người Ý mất tinh thần, và họ cảm thấy như không có chỗ nào là an toàn, thậm chí là cả ở những tuyến phòng thủ nằm tĩnh sâu bên trong lãnh thổ của Ý kiểm soát. Có thể trừ ra một số ít các đơn vị như Đại đội Ô tô Sahara (La Compania Auto-Avio-Sahariana), thì quân Ý không hề được an toàn trên sa mạc trống trải, nơi mà nói chung họ bị tách rời ra khỏi đơn vị của mình. Trong vòng 2 tháng chiến đấu trên sa mạc, quân Ý mất khoảng 3.000 người trong khi tổn thất của Anh không đến 100.[13][15][Gc 1]

Trong suốt thời gian còn lại của tháng 8 và những ngày đầu tháng 9, sa mạc trở nên yên tĩnh một cách không hề thoái mái. Sự yên tĩnh này chỉ bị phá vỡ bởi những cuộc chạm trán bất ngờ của quân tuần tra và những trận không chiến lẻ tẻ khi cả hai bên thăm dò ý định của bên kia. Trong khi một mạng lưới gián điệp ghê gớm tại Ai Cập (Servizio Informazioni Militare) bảo vệ bí mật của phe Ý, thì người Anh chọn những cách khác để có được thông tin. Đơn vị tình báo Cụm Sa mạc Tầm xa được thiết lập dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Ralph A. Bagnold, và chẳng mấy chốc những cuộc chuyển quân của Ý ở xa phía sau phòng tuyến đã được báo cáo về cho phía Anh qua đường radio Skywave.[15]

Người Ý tấn công[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ý xâm chiếm Ai Cập
Cuộc tiến quân của Graziani và cuộc tấn công của Wavell – 13 tháng 9 năm 1940 – 7 tháng 2 năm 1941. Những vòng tròn nhỏ màu đỏ là các doanh trại người Ý dừng lại đóng quân.

Benito Mussolini rất mong muốn được nối liền khu vực Bắc Phi thuộc Ý (Africa Settentrionale Italiana) với Đông Phi thuộc Ý (Africa Orientale Italiana) và hy vọng có thể chiếm được kênh đào Suez cũng như những mỏ dầu Ả Rập. Ngày 8 tháng 8 năm 1940, ông ta đã ra lệnh cho quân đội Ý xâm chiếm Ai Cập.

Ngày 9 tháng 9, các lực lượng Ý dưới quyền tổng chỉ huy của thống chế Rodolfo Graziani đã xuất phát từ căn cứ tại Cyrenaica tấn công Ai Cập. Họ đã chiếm được Sollum, đèo HalfayaSidi Barrani. Nhưng đến ngày 16 tháng 9, Graziani ngừng tiến quân với lý do đưa ra là gặp vấn đề về tiếp tế. Mặc dù Mussolini hối thúc Graziani tiếp tục tấn công, quân Ý vẫn đào hào xung quanh Sidi Barrani và lập nhiều doanh trại kiên cố.

Nơi Graziani dừng lại cách các vị trí phòng thủ của Anh tại Mersa Matruh 130 km về phía tây. Ông ta đã lên kế hoạch mở lại chiến dịch sau khi quân đội đã được tái tiếp tế. Do Mussolini không ngừng hối thúc Graziani, nên cuộc tiến công của Ý vào Mersa Matruh được dự kiến sẽ bắt đầu vào giữa tháng 12.

Trước tình hình này, Ai Cập chấm dứt quan hệ với Đức và Ý.[17] Ngày 19 tháng 10, máy bay Ý đã ném bom xuống Ma'adi, một khu ngoại ô của Cairo, nơi có nhiều người châu Âu sinh sống.[18]

Người Anh tấn công[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chiến dịch Compass

Ngày 9 tháng 12 năm 1940, Lực lượng Sa mạc Tây (bao gồm các bộ phận của Sư đoàn Bộ binh số 4 Ấn Độ và Sư đoàn Thiết giáp số 7 của Anh) đã mở Chiến dịch Compass, một cuộc phản công mà người Ý hoàn toàn không phòng bị. Đến ngày 10 tháng 12, các lực lượng quân Anh và Ấn Độ đã bắt được hơn 20.000 tù binh Ý. Hôm sau, họ tấn công Sollum với sự yểm trợ của tàu chiến thuộc Hạm đội Địa Trung Hải. Sidi Barrani thất thủ trong ngày hôm đó.

Một chiếc xe bọc thép Rolls-Royce đời 1924 đã được sửa tháp pháo tại khu vực Bardia thuộc Sa mạc Tây, năm 1940.

Sau đó, Wavell đã khiến O'Connor phải bất ngờ khi chuyển Sư đoàn Bộ binh 4 nhiều kinh nghiệm trận mạc của Ấn Độ sang Mặt trận Trung Đông và thay thế nó bằng Sư đoàn số 6 Úc mới đến. Quân Úc sau đó dồn dập tấn công chiếm được BardiaTobruk, bắt giữ 67.000 tù binh, hơn 500 pháo mà chỉ mất có 180 người chết. Đến đầu tháng 2, quân Ý vội vàng rút lui dọc theo bờ biển và bị quân Úc truy kích.

O'Connor đã ra lệnh cho Sư đoàn Thiết giáp số 7 tiến theo đường bộ qua Mechili để đến Beda Fomm và cắt đứt đường rút lui của quân Ý. Thiếu tướng Michael O'Moore Creagh phái Lực lượng Combe — 1 đơn vị cơ động tình thế — tiến nhanh ra trước số tăng này. Lực lượng Combe đã tiến đến Beda Fomm ngay trước quân Ý và thiết lập một rào cản. Sau một trận chiến khó khăn diễn ra ngày 6 tháng 2, quân Ý không thể đột phá qua trận tuyến của lực lượng Combe và bị tấn công cả bên sườn lẫn sau lưng, cuối cùng đã phải đầu hàng với 25.000 quân, 200 khẩu pháo, 100 xe tăng và 1.500 xe cộ các loại.

Trong chiến dịch mau lẹ này, phía Anh bắt được 130.000 quân Ý mà chỉ chịu thương vong có 2.000 người. Suốt giai đoạn đó, người Ý tưởng rằng mình bị áp đảo mạnh về quân số, trong khi thực tế là ngược lại. Bộ trưởng ngoại giao Anh Anthony Eden đã nói đùa rằng "Chưa bao giờ có rất nhiều người đầu hàng rất nhiều trước rất ít người như thế" (Never has so much been surrendered by so many to so few, nhại theo câu nói nổi tiếng so much owed by so many to so few của Winston Churchill). Các lực lượng Ý còn lại rút chạy về El Agheila vào ngày 9 tháng 2 năm 1941.

Trong giai đoạn này của cuộc chiến, Lực lượng Sa mạc Tây đã được đổi tên thành Quân đoàn XIII của Anh.

Cuộc tấn công thứ nhất của Rommel[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng Panzer II Đức với pháo 20 ly và súng máy trong tháp pháo quay.

Đầu năm 1941, sau thắng lợi quyết định của Anh và Khối Thịnh vượng chung tại Cyrenaica, hệ thống bố trí quân sự của họ đã sớm bị đảo lộn. Wavell ra lệnh cho một bộ phận đáng kể Quân đoàn XIII của O'Connor đến hỗ trợ Hy Lạp trong Chiến dịch Lustre. Khi Wavell giảm bớt lực lượng của mình tại Bắc Phi thì nhà độc tài Đức Adolf Hitler, trước thảm họa của nước Ý đồng minh, đã ra lệnh mở Chiến dịch Sonnenblume ("Hoa hướng dương"), triển khai Quân đoàn châu Phi (Deutsches Afrikakorps) mới thành lập làm lực lượng tăng viện cho quân Ý để cứu họ khỏi sụp đổ hoàn toàn. Quân đoàn này của Đức bao gồm những đội quân đầy sức sống được trang bị tốt hơn và một viên tư lệnh đầy uy tín, tướng Erwin Rommel.

Cuộc tấn công thứ nhất của Rommel – 24 tháng 3 – 15 tháng 6 năm 1941

Khi Rommel đến Bắc Phi, ông ra lệnh giả vờ giữ thế phòng ngự và giữ vững trận tuyến. Nhận thấy rằng lực lượng phòng thủ của Anh đang mỏng, ông liền nhanh chóng đánh bại lực lượng Đồng Minh tại El Agheila vào ngày 24 tháng 3. Sau đó ông mở một chiến dịch tấn công và đến 15 tháng 4 đã đẩy được quân Anh lùi về biên giới tại Sollum, chiếm lại toàn bộ lãnh thổ Libya ngoại trừ Tobruk. Thành phố này, dưới quyền chỉ huy của tướng Úc Leslie Morshead, sau đó đã bị bao vây và phong tỏa. Trong cuộc tiến quân này, lần lượt ba người: trung tướng Philip Neame, tư lệnh chiến trường mới của Tổng hành dinh Bộ chỉ huy Cyrenaica (tên mới đổi của Quân đoàn XIII); Richard O'Connor, mới được triệu về để hỗ trợ; và thiếu tướng Michael Gambier-Parry, tư lệnh Sư đoàn Thiết giáp số 2 Anh đã bị Đức bắt sống. Không có Neame và O'Connor, các lực lượng Anh và Khối Thịnh vượng chung một lần nữa được sắp xếp dưới quyền Tổng hành dinh Lực lượng Sa mạc Tây tái hoạt động. Quyền tư lệnh thuộc về trung tướng Noel Beresford-Peirse, người đã trở lại Cairo khi đang chỉ huy Sư đoàn Bộ binh số 4 Ấn Độ tại Mặt trận Trung Đông.

Chiến dịch tấn công đầu tiên của Rommel về cơ bản là thành công và lực lượng của ông đã tiêu diệt Sư đoàn Thiết giáp số 2 Anh. Tuy nhiên, nhiều nỗ lực của Đức nhằm đánh chiếm vị trí cô lập tại Tobruk đã thất bại và trận tuyến được ổn định lại trên biên giới Ai Cập.

Cuộc vây hãm Tobruk[sửa | sửa mã nguồn]

Lữ đoàn Súng trường Độc lập Karpat của Ba Lan đến từ Alexandria đã tới Tobruk.

Quân Đức và Ý đã vây hãm các lực lượng Anh và Khối Thịnh vượng chung tại Tobruk trong một cuộc đối đầu dai dẳng kéo dài 240 ngày đêm.

Lực lượng Sa mạc Tây đã mở Chiến dịch Brevity vào tháng 5 năm 1941 nhằm giành thêm nhiều đất đai để tạo điền kiện triển khai hoạt động chính là nhằm giải vây cho Tobruk, kết thúc bất phân thắng bại. Chiến dịch Battleaxe cũng được mở trong tháng 6. Sau thất bại của Battleaxe, Claude Auchinleck đã được đưa lên thay thế chức vụ Tổng tư lệnh Trung Đông của Wavell và các quân Anh được tăng cường thêm Quân đoàn XXX.

Bộ chỉ huy chiến trường chung của Đồng Minh bây giờ là Tập đoàn quân số 8 Anh, được tạo thành từ những đơn vị của nhiều quốc gia khác nhau, bao gồm Sư đoàn số 9 và Lưc đoàn số 18 của Lục quân ÚcLục quân Ấn Độ, ngoài ra còn có các sư đoàn của Nam Phi, New Zealand, 1 lữ đoàn Lực lượng Pháp tự do của tướng Marie-Pierre Koenig và Lưc đoàn Súng trường Độc lập Carpath Ba Lan.

Chiến dịch Crusader[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chiến dịch Crusader
Cuộc tấn công của Auchinleck – 18 tháng 11 – 31 tháng 12 năm 1941.

Tập đoàn quân số 8 Anh, dưới quyền chỉ huy của trung tướng Alan Cunningham, đã mở màn Chiến dịch Crusader vào ngày 18 tháng 11 năm 1941. Mặc dù Quân đoàn châu Phi đã giành được nhiều thắng lợi chiến thuật, thậm chí còn gây nên bất đồng giữa một số tướng lĩnh tư lệnh lục quân Anh và dẫn đến việc Auchinleck thay thế Cunningham bằng thiếu tướng Neil Ritchie, nhưng cuối cùng quân Đức vẫn buộc phải rút lui và toàn bộ lãnh thổ mà Rommel chiếm được trong hai tháng 3 và 4 đã lại bị mất, ngoại trừ lực lượng đồn trú tại Bardia và Sollum. Quan trọng nhất là vòng vây xung quanh Tobruk của phe Trục đã bị phá vỡ. Một lần nữa, trận tuyến lại được đặt tại El Agheila.

Cuộc tấn công thứ hai của Rommel[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc tấn công thứ hai của Rommel – 21 tháng 1 – 7 tháng 7 năm 1942
Tiểu đoàn pháo tự hành chống tăng số 39 thuộc Quân đoàn Châu Phi của Đức đang tiến quân.

Sau sự kiện Hải quân Đế quốc Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, các lực lượng Úc đã rút khỏi Sa mạc Tây để chuyển đến mặt trận Thái Bình Dương, còn Lữ đoàn Thiết giáp số 7 của Anh cũng được chuyển đến Miến Điện.

Sư đoàn Thiết giáp số 1 Anh còn tương đối thiếu kinh nghiệm đã trở thành lực lượng phòng thủ chính đóng quanh El Agheila. Lực lượng thiết giáp của nó cũng bị dàn trải giống như các đơn vị nhiều kinh nghiệm khác hoạt động từ đầu chiến dịch. Ngày 21 tháng 1, Quân đoàn châu Phi của Rommel tấn công các đơn vị phân tán thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 1. Lữ đoàn Thiết giáp số 2 Anh cũng bị tấn công từng bộ phận và dễ dàng bại trận trước các lực lượng tập trung của Rommel. Cả 2 đơn vị này đều buộc phải lui qua tuyến Cyrenaica để rút về miền đông Libya, cùng với Lữ đoàn Mô tô Cận vệ 201, bỏ lại các thành phố Msus và Benghazi rơi vào tay quân Đức.[19]

Từ tháng 2 đến tháng 5 năm 1942, trận tuyến nằm tại Gazala, ngay phía tây Tobruk, tại đó quân đội cả hai bên đều chuẩn bị tấn công.

Rommel đã ra tay trước vào tháng 6 năm 1942. Sau một cuộc chiến thiết giáp kéo dài mang tên gọi "cái Vạc", ông đã đánh bại quân Đồng Minh trong trận Gazala và chiếm được Tobruk. Auchinleck liền sa thải Ritchie để tự mình cầm quyền chỉ huy Tập đoàn quân số 8 Anh và sau đó chặn được đà tiến của Rommel tại tuyến Alamein, chỉ còn cách Alexandria 70 dặm trong trận El Alamein thứ nhất.

Chiến dịch tấn công của Montgomery[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc tấn công của Montgomery – tháng 11 năm 1942 – tháng 2 năm 1943

Bất chấp hoàn cảnh, Churchill vẫn trở nên thất vọng về Auchinleck. Ông ta liền bị thay thế, đại tướng Harold Alexander lên làm Tổng tư lệnh Bộ tư lệnh Trung Đông còn trung tướng Bernard Montgomery trở thành tư lệnh của Tập đoàn quân số 8. Như vậy, viên tư lệnh tập đoàn quân mới sẽ được miễn trách nhiệm về khu vực kéo dài từ Síp đến Sudan và về phía đông tới Syria. Alexander cũng là một tấm đệm hiệu quả để chống lại những can thiệp chính trị từ London.

Montgomery đã giành được một thắng lợi phòng ngự toàn diện trong Trận Alam el Halfa vào tháng 8 năm 1942 và sau đó liền cho xây dựng các lực lượng Đồng Minh trước khi tiếp tục chiến dịch tấn công trong Trận El Alamein thứ hai trong tháng 10 và 11. Điều đáng chú ý là ông có những nguồn lực vượt xa về số lượng và chất lượng so với những người tiền nhiệm của mình. Trận El Alamein thứ hai đã trở thành chiến thắng quyết định. Bất chấp hoạt động chặn hậu xuất sắc của Rommel, quân Đồng Minh vẫn chiếm lại được Ai Cập và sau đó tiến quân qua CyrenaicaTripolitania, đánh chiếm Tripoli vào tháng 2 năm 1943 rồi tiến vào Tunisia trong tháng 3.

Xe Chỉ huy Bọc thép AEC của Anh cùng bộ tham mưu.

Một nỗ lực nhằm bao vây lực lượng phe Trục tại Marsa Matruh đã bị mưa phá hỏng và họ chạy thoát vào ngày 7 tháng 11. Tuyến đường trên bờ biển bị cắt đứt, nhưng đèo Halfaya dẽ dàng bị chiếm và Ai Cập hoàn toàn sạch bóng quân Trục. Tobruk được giải phóng ngày 13 tháng 11, quân của Rommel một lần nữa lại chạy thoát, và đến ngày 20 tháng 11 đến lượt Benghazi. Hai thị trấn cảng này rất cần thiết cho việc tái tiếp tế cho chiến dịch và cơ hội để đánh bọc sườn Rommel tại Ajdabiya đã được hủy bỏ một cách thận trọng, trong trường hợp bị phản công.

Quân Đức và Ý lui về phòng tuyến được chuẩn bị trước tại El Agheila. Đồ tiếp tế và tăng viện của phe Trục giờ đây được gửi qua Tunisia chứ không trực tiếp cho Rommel: ông bị bỏ mặc không có khả năng phản công và thiếu nhiên liệu trầm trọng. Hitler đã ra lệnh là tuyến El Agheila phải đứng vững bằng mọi giá, trong khi quân điểm của Rommel là phải vừa đánh vừa rút về Tunisia và thiếp lập hệ thống phòng ngự mạnh tại lối Gabès. Quân Đức được phép rút về Buerat, cách Sirte 80 km về phía đông. Nỗ lực bọc đánh El Agheila trong các ngày 14 và 16 tháng 12 lại một lần nữa thất bại không thể vao vây quân địch – Rommel đã dùng thẩm quyền của mình để cho rút lui và tuyến đường rút của ông ta được bảo vệ đấy đủ.

Trong giai đoạn này, mặt trận kéo dài 640 km tính từ bến cảng khả dụng gần nhất ở Tobruk và những khó khăn trong tiếp tế đã cản trở không cho Montgomery triển khai toàn bộ lực lượng cua mình. Áp lực của Đồng Minh tiếp tục khi quân Trục tiến đến Buerat. Tuy nhiên, phòng tuyến này không được bảo vệ mạnh, và cuộc truy kích vẫn tiếp tục. Tripoli thất thủ ngày 23 tháng 1 năm 1943. Bến cảng này liền được sử dụng và đến giữa tháng 2 năm 1943, hàng ngày có gần 2.700 tấn hàng đổ bộ xuống.

Cuộc rút lui của Rommel vẫn tiếp tục, bất chấp người Ý không đồng tình. Ngày 4 tháng 2, các đơn vị Đồng Minh tiến vào Tunisia. Ngay sai đó, Rommel bị triệu hồi về Đức vì lý do sức khỏe.

Montgomery đã bị chỉ trích vì không nắm bắt được tình hình để giăng bẫy các tập đoàn quân phe Trục, nhằm đánh một trận quyết định và tiêu diệt họ ngay tại Libya. Chiến thuật của ông bị xem là quá thận trọng và chậm trễ. Tuy nhiên, những luận bênh vực ông đã chỉ ra khả năng phòng thủ của quân Đức nói chung và của Quân đoàn châu Phi nói riêng, và rằng Montgomery cần phải tránh để không lặp lại một cuộc chiến theo kiểu "bập bênh" giống như trước đó ở mặt trận Bắc Phi nữa. Chiến sự ở vùng sa mạc này đã được xem như một "cơn ác mộng của sĩ quan hậu cần", do điều kiện của chiến tranh trên sa mạc và những khó khăn trong việc tiếp tế. Montgomery nổi danh vì đã tiến hành những "chiến dịch cân nhắc" và tiết kiệm nguồn lực của mình: không tấn công chừng nào quân còn chưa được chuẩn bị và tiếp tế hợp lý. Dưới sự chỉ huy của ông, sĩ khí của Tập đoàn quân số 8 được cải thiện đáng kể.

Kết cục[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội phe Trục bị đẩy lui ra khỏi Libya, và ngay sau đó họ đã bị đánh kẹp lại tại Tunisia từ hai phía: các lực lượng Anh-Mỹ mới đổ bộ lên Bắc Phi trong Chiến dịch Bó đuốc tiến đến từ phía tây, và Tập đoàn quân số 8 của Anh đang truy kích từ phía đông.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cả Macksey và Churchill đều nhất trí rằng con số đó tính từ các hoạt động từ ngày 10 tháng 6 năm 1940 cho đến một thời điểm nào đó của tháng 8. Tuy nhiên, theo tướng Wavell, con số thương vong cho thấy tại đây là tính cả trong chiến dịch Ý xâm chiếm Ai Cập và là giai đoạn từ ngày 10 tháng 6 đến giữa tháng 9.[16]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Playfair, 1954, trang 38–39, 92
  2. ^ Playfair, trang 32.
  3. ^ Playfair, 1954, trang 19, 93
  4. ^ Playfair, 1954, trang 32, 93, 97–98, 375
  5. ^ Playfair, 1954, trang 32, 93, 97, 100, 375
  6. ^ Churchill, Their Finest Hour, trang 370
  7. ^ Luck 1989, tr. 92
  8. ^ Playfair, 1954, trang 116
  9. ^ Playfair, 1954, trang 115
  10. ^ Lewin, 1968, trang 149
  11. ^ Creveld, 1977, trang 183
  12. ^ a ă Churchill, Their Finest Hour, tr. 371
  13. ^ a ă â Churchill, Their Finest Hour, tr. 372
  14. ^ Macksey, tr. 38
  15. ^ a ă Macksey, tr. 33
  16. ^ Wavell, tr. 3002
  17. ^ Playfair
  18. ^ MacGregor, tr. 229
  19. ^ "British 7th Armoured, List of Battles, 1942"[liên kết hỏng]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]