Chiến dịch Tunisia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến dịch Tunisia
Một phần của Mặt trận Bắc Phi
thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai
Gromalia prisoner of war camp.jpg
Tù binh Đức và Ý sau khi Tunis thất thủ, 12 tháng 5 năm 1943
.
Thời gian 17 tháng 11 năm 194213 tháng 5 năm 1943
Địa điểm Tunisia thuộc Pháp
Kết quả Đồng Minh chiến thắng
Tham chiến
 Anh Quốc

 Hoa Kỳ
 Pháp Tự do

 New Zealand
 Ba Lan
 Hy Lạp

 Đức
 Ý
Chỉ huy
Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Harold Alexander
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Kenneth Anderson
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Bernard Montgomery
Đức Quốc xã Albert Kesselring
Đức Quốc xã Erwin Rommel
Đức Quốc xã Hans-Jürgen von Arnim Đầu hàng

Đức Quốc xã Walther Nehring

Ý Giovanni Messe Đầu hàng

Lực lượng
500.000 quân

Hơn 1.800 xe tăng Hơn 1.200 khẩu pháo Hàng ngàn máy bay

350,000 quân

Hơn 200 xe tăng Hơn 1,000 khẩu pháo Hàng ngàn máy bay

Tổn thất
76.020 [Gc 1]
849 máy bay bị phá hủy[Gc 2]
khoảng 300.000 thương vong[Gc 3]
Ít nhất 1.045 máy bay bị tiêu diệt[Gc 4]
600+ máy bay bị bắt [1]
.

Chiến dịch Tunisia (hay còn gọi là Trận Tunisia) là một loạt trận đánh diễn ra tại Tunisia trong Chiến dịch Bắc Phi thời chiến tranh Thế giới thứ hai, giữa các lực lượng Phe TrụcĐồng Minh. Phe Đồng Minh gồm có lực lượng Đế quốc Anh, (bao gồm cả đội ngũ Ba Lan và Hy Lạp) Hoa KỳQuân đội Pháp Tự do. Trận chiến mở màn với thành công ban đầu của Đức Quốc xãPhát xít Ý, sau đó lượng hàng tiếp tế khổng lồ và ưu thế áp đảo về quân số của Đồng Minh đã đẩy quân đội phe Trục đến thất bại hoàn toàn. Hơn 230.000 quân Đức và Ý bị bắt làm tù binh, hầu hết trong số đó đều thuộc về Quân đoàn châu Phi của Đức.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sa mạc Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Hai năm đầu tiên của cuộc chiến tranh ở Bắc Phi là đặc trưng của tình trạng thiếu nguồn tiếp tế và các vấn đề giao thông. Các bờ biển Bắc Phi có vài hải cảng tự nhiên và căn cứ của Anh tại alexandria trên sông Nile với khoảng cách 2.100 km (1.300 dặm) bằng đường bộ cũng như con đường từ Ý tới hải cảng chính TripoliLibya. Cảng nhỏ ở BenghaziTobruk là 1.050 km (650 mi) và 640 km (400 mi) về phía tây Alexandria trên Đường cao tốc ven biển Libya (Via Balbia) chạy dọc theo một hành lang hẹp dọc theo bờ biển. Những trận chiến quyết liệt nhằm giành quyền kiểm soát Địa Trung Hải giữa hải quân anh và ý đã khiến nguồn cung cấp quân nhu thông qua Alexandria, Tripoli, Benghazi và Tobruk rất hạn chế và tác động lớn đến cuộc chiến, mặc dù người Anh có thể cung cấp tiếp tế cho quân đội của mình tại Ai Cập thông qua các tuyến đường dài băng qua Đại Tây Dương xung quanh Bán đảo Cape và Ấn Độ Dương vào Biển Đỏ.

Tập tin:The Campaign in North Africa 1940-1943.jpg
Một chiếc xe tăng Crusader III của Anh đang băng ngang qua một con mương tại Mersa Matruh, Libya khi Tập đoàn quân 8 Anh đang truy đuổi các lực lượng rút lui của phe Trục, tháng 11 năm 1942

Khó khăn kéo dài trong việc tiếp viện cho các lực lượng quân sự trong sa mạc, dẫn đến nhiều chiến thắng thiếu quyết đoán của cả hai bên và tiến bộ không kết quả dài dọc theo bờ biển. Các cuộc tấn công Ai Cập của quân đội Ý do tập đoàn quân số 10 vào năm 1940, chỉ tiến triển được 97 km (60 dặm) sang Ai Cập và hơn 1.600 km (1.000 dặm) trong một đường thẳng từ Tripoli, 600 km (370 dặm) từ Benghazi và 320 km (200 mi) từ Tobruk. Các lực lượng quân đội sa mạc của Phương Tây (WDF) đã chiến đấu quyết liệt nhằm trì hoãn cuộc tấn công làm người Ý phải lùi về Mesa Matruh (Matruh), sau đó thực hiện chiến dịch Compass là một cuộc đột kích và phản công vào Libya. Tập đoàn quân số 10 đã bị đánh tan tác và WDF chiếm El Agheila, khoảng 970 km (600 dặm) từ Alexandria. Sự cứu trợ của người Đức với Quân đoàn Phi Châu (Afrika Korps) phe Trục phản công trong tháng 4 năm 1941 đẩy lui WDF về biên giới Ai Cập nhưng thất bại trong việc lấy lại Tobruk.

Trong tháng 11 năm 1941, Tập đoàn quân số VIII phục hồi, nhờ vào việc cung cấp khoảng cách ngắn từ Alexandria cho tiền tuyến và tung ra Chiến dịch Crusader, làm giảm sự vây hãm Tobruk và một lần nữa đạt El Agheila. Các lực lượng của tập đoàn quân VIII đã sớm bị đẩy trở lại Gazala về phía tây Tobruk và ở trận gazala tháng 5 năm 1942, phe Trục tung ra đòn đánh chí tử đẩy quân đồng minh về tận EI Alamein, chỉ cách 160 km (100 dặm) đến Alexandria. Trong năm 1942, Hải quân Hoàng gia và Hải quân Italia vẫn còn tranh giành Địa Trung Hải nhưng việc quân Anh chiếm đảo Malta cho phép các lực lượng không quân Hoàng gia đánh chìm nhiều tàu cung cấp của Ý hơn. Với số lượng lớn vật tư có sẵn do người Anh được Hoa Kỳ cung cấp nên cuối cùng Tập đoàn quân số VIII cũng được tiếp tế đầy đủ và áp đảo đối phương. Việc Tập đoàn quân thứ VIII không còn bị hạn chế về tiếp viện dẫn đến quân Trục đã bị đẩy về phía tây Ai Cập sau trận El Alamein lần thứ hai vào tháng 10 năm 1942.

Chiến dịch Bó đuốc[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 7 năm 1942, quân Đồng minh đã đồng ý rằng đề xuất thực hiện đổ bộ quy mô ở miền bắc nước Pháp ngay trong năm 1942, hay các ý tưởng đổ bộ trực tiếp vào lãnh thổ đang thuộc kiểm soát của phát xít vào năm 1943 sẽ kết thúc trong thảm họa, bởi vậy họ quyết định hoãn cuộc tấn công lại. [12] Thay vào đó tất cả đã nhất trí rằng cuộc đổ bộ vào các vùng lãnh thổ hiện đang do chính phủ Vichy kiểm soát ở Bắc Phi: Morocco,Algeria và Tunisia và sau đó dốc toàn lực đánh về phía đông cùng với quân đồng minh đang chiến đấu tại Ai Cập tạo thành gọng kìm hợp vây những lực lượng phát xít ở phía sau của họ. [13] Quân Đồng Minh chiếm đóng toàn bộ bờ biển Bắc Phi sẽ dễ kiểm soát toàn bộ Địa Trung Hải để Đồng Minh vận chuyển hàng hóa từ đó giảm một lượng lớn thời gian vì phải duy trì nguồn cung cấp qua các tuyến đường vòng vèo qua Mũi Hảo Vọng. Ngày 08 tháng 11, Chiến dịch Bó đuốc được thực hiện khi lực lượng Đồng Minh đổ bộ tại Algeria (tại Oran và Algiers) và Ma-rốc (tại Casablanca) với ý định rằng một khi lực lượng Pháp Vichy ở Algeria đã đầu hàng, nguồn cung ứng sẽ được thực hiện để chạy đua đến Tunis khoảng 800 km (500 dặm) về phía Đông.

Hệ thống phòng thủ tự nhiên của Tunisia[sửa | sửa mã nguồn]

Tunisia là hình chữ nhật, với miền Bắc và nhiều ranh giới phía đông của nó nằm trên bờ biển Địa Trung Hải. Hầu hết biên giới phía tây đất liền giáp với Algeria khống chế đường phía tây của dãy núi Atlas chạy từ bờ biển Đại Tây Dương của Ma-rốc, 1.900 km (1.200 dặm) về phía đông tới Tunis. Phần biên giới này dễ dàng phòng thủ qua một số con đường nhỏ qua hai tuyến bắc-nam của ngọn núi. Ở phía nam, một tuyến thứ hai của dãy núi thấp hơn hạn chế các phương pháp tiếp cận đến một khoảng cách hẹp, phải đối mặt với Libya về phía đông, giữa Dãy Matmata và bờ biển. Người Pháp đã sớm xây dựng các công trình phòng thủ được gọi là Tuyến Mareth dọc theo đồng bằng rộng 20 km (12 dặm) và sâu 30 km (19 dặm), để bảo vệ chống lại một cuộc xâm lược Ý từ Libya. [14]

Chỉ có ở phía bắc là địa hình thuận lợi để tấn công; tại đây dãy núi Atlas dừng lại gần bờ biển phía đông, để lại một vùng rộng lớn trên bờ biển phía tây bắc không được bảo vệ. tuyến phòng thủ ở phía bắc có thể đối phó với các lực lượng tiếp cận, trong khi Tuyến Mareth đảm bảo an toàn ở phía nam. Ở giữa, chỉ có một vài cách dễ dàng bảo vệ đi qua dãy núi Atlas. [15] Tunisia có hai cảng nước sâu lớn tại Tunis và Bizerte, chỉ có vài trăm dặm từ các căn cứ cung cấp Ý ở Sicily. Tàu có thể cung cấp nguồn cung vào ban đêm, an toàn từ các cuộc tuần tra RAF và trở lại vào đêm hôm sau, trong khi Libya là một chuyến đi cả ngày, làm cho hoạt động cung ứng dễ bị không quân tấn công ban ngày. Theo quan điểm của Hitler, Tunisia có thể giữ được vô thời hạn, làm xáo trộn kế hoạch quân đồng minh ở châu Âu. [16]

Chạy đua giành Tunis[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Minh tiến quân[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 10 tháng 11, sự chống đối của Pháp với chiến dịch Bó đuốc đã dừng lại, tạo một khoảng trống quân sự ở Tunisia. Tập đoàn quân số 1 (Trung tướng Kenneth Anderson), đã ngay lập tức ra lệnh gửi Lữ đoàn bộ binh số 36, đơn vị dự bị cơ động cho cuộc đổ bộ ở Algeria hướng về phía đông bằng đường biển để chiếm các cảng cảa Algeria tại Bougie, Philippeville, Bône và trường bay tại Djedjelli, đặt bước chuẩn bị đầu tiên cho cuộc tiến quân vào Tunisia. Tổng tư lệnh của bộ chỉ huy liên quân quyết định tiến công với các lực lượng có thể dùng được, không bao gồm quân đang đổ bộ gần Tunisia. Aderson cần đưa tối đa quân về phía đông thật nhanh trước khi phe Trục kịp củng cố Tunisia, song quân Đồng minh khi đó chỉ có 2 lữ đoàn cùng vài đơn vị thiết giáp tăng cường cùng pháo binh cho cuộc tấn công.

Phản ứng của phe Trục[sửa | sửa mã nguồn]

Thống sứ Pháp tại Tunisia,Admiral Esteva, đã quá sợ hãi để hỗ trợ quân Đồng Minh hoặc chống lại quân Phát xít.Ông ta không đóng cửa các sân bay cho phía bên kia nên giúp các đơn vị Đức đầu tiên tới vào ngày 9 tháng 11, báo cáo về 40 máy bay Đức đến Tunis vào 10 tháng 11,ra đa do thám thì cho thấy có đến 100 chiếc.Hai ngày sau một cầu vận tải hàng không bắt đầu đưa hơn 15000 lính và 590 tấn hàng tiếp tế, tàu vận tải đưa tới 176 xe tăng,131 bộ phận pháo,1152 xe cộ và 13000 tấn hàng cung ứng.Đến cuối tháng,3 sư đoàn Đức,bao gồm cả sư đoàn Panzer 10 và 2 sư đoàn bộ binh Ý đã đến.Walther Nehring được bổ nhiệm làm chỉ huy quân đoàn XC mới tạo thành ngày 12 tháng 11 và bay đến nơi vào 17 tháng 11.

Ngày 19 tháng 11, chỉ huy quân đội Đức, Walter Nehring, đã yêu cầu lực lượng của ông vượt cầu tại Medjez và bị chựn lại bởi quân của tướng Barré. Người Đức tấn công hai lần và bị đẩy lùi nhưng quân Pháp phải trả giá đắt cho chiến thắng do thiếu thiết giáp và pháo binh nên buộc phải rút lui. Mặc dù có vài lực lượng Pháp của Vichy, như Barré đang chống lại quân Trục,các lực lượng Vichy vẫn còn chưa chắc chắn sẽ theo bên nào mãi cho đến ngày 22 tháng 11.Tới thời gian này, quân Trục đã có thể xây dựng một quân đoàn và áp đảo hơn so với Đồng minh trong hầu hết các phương diện.

Pháp chính thức về phe Đồng Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ huy quân đội Pháp tại Tunisia,tướng Barré,đưa quân vào vùng núi phía Tây và hình thành một tuyến phòng ngự từ Tebersouk đến Majaz al Bal (Medjez el Bal).

Ngày 22 tháng 11, Hiệp định Bắc Phi đã chấp nhận Bắc Phi thuộc Pháp theo phe Đồng Minh, cho phép quân đội Đồng Minh được gửi tới mặt trận.

Cuộc chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Có hai con đường phía Đông vào Tunisia từ Algeria. Kế hoạch của Đồng Minh là tiến lên dọc theo hai con đường để chiếm Bizerte và Tunis. Ngày 11 tháng 11, Lữ đoàn bộ binh 36 của Anh đã chiếm Bougie nhưng nguồn cung thiếu hụt đã trì hoãn việc chiếm Djedjelli cho đến ngày 13 tháng 11. Sân bay Bone đã bị chiếm sau đợt thả dù của Tiểu đoàn Dù 3, và tiếp đó là vào ngày 12 tháng 11, 6 đội biệt kích chiếm giữ cảng. Lực lượng dẫn đầu của Lữ đoàn Bộ binh 36 đã tới Tebarka vào ngày 15 tháng 11 và Djebel Abiod ngày 18 tháng 11, nơi họ gặp lực lượng của quân Trục. Xa hơn nữa về phía Nam, vào ngày 15 tháng 11, một tiểu đoàn dù của Hoa Kỳ đã nhảy dù mà không gặp kháng cự tại Youks-les-Bains, chiếm sân bay và chiếm tiếp sân bay tại Gafsa vào ngày 17 tháng 11.

Hai nhóm lữ đoàn Đồng Minh lần lượt hướng về Djebel Abiod và Beja. Luftwaffe, vui mừng khi có ưu thế trên không phận "sân nhà" (trong khi máy bay của quân Đồng Minh phải bay từ các căn cứ tương đối xa ở Algeria) đã liên tục quấy rối hai lữ đoàn này. Vào ngày 17 tháng 11, cùng ngày Nehring đến, các lực lượng đi đầu của Lữ đoàn 36 Anh trên đường phía Bắc đã gặp một lực lượng gồm 17 xe tăng và 400 lính nhảy dù với súng tự hành tại Djebel Abiod. Quân dù Đức, Luftwaffe và hỏa lực của quân chi viện Ý từ Sư đoàn Bộ binh vùng núi 1 Superga đã đánh bật 11 xe tăng nhưng bước tiến của họ đã bị dừng lại trong khi cuộc chiến tại Djebel Abiod tiếp tục trong chín ngày. Vào ngày 22 tháng 11, xe tăng của Lữ đoàn 50 Ý đã buộc lính Mỹ phải bỏ Gafsa. Hai trụ cột của Đồng Minh tập trung ở Djebel Abiod và Beja, chuẩn bị cho một cuộc tấn công vào ngày 24 tháng 11. Lữ đoàn số 36 đã tiến từ Djebel Abiod về hướng Mateur và Lữ đoàn số 11 đã di chuyển xuống thung lũng sông Merjerda để chiếm Majaz al Bab (thể hiện trên các bản đồ đồng minh là Medjez el Bab hoặc Medjez) và sau đó đến Tebourba, Djedeida và Tunis. Blade Force, một nhóm trung đoàn thiết giáp vũ trang tấn công qua các vùng trên các con đường nhỏ trong khoảng cách giữa hai lữ bộ bộ binh tới Sidi Nsir và tấn công vào sườn quân Trục tại Terbourba và Djedeida.

Cuộc tấn công phía Bắc không diễn ra vì mưa u ám đã làm chậm quá trình chuẩn bị.Trong khi đó Lữ đoàn 11 ở phía Nam đã bị chặn lại bởi sự kháng cự vững trãi tại Medjez. Blade Force đi xuyên qua Sidi Nsir để chiếm Đèo Chouigui, lực lượng phía bắc Terbourba thuộc Blade Force thâm nhập vào được phía sau phòng tuyến của quân Trục tới căn cứ không quân vừa mới được xây dựng tại Djedeida vào buổi chiều và phá hủy hơn 20 máy bay Trục nhưng do thiếu lực lượng bộ binh nên phải rút ​​lui tới Chouigui. Cuộc tấn công của Blade Force khiến Nehring bất ngờ và ông quyết định rút khỏi Medjez để tăng cường Djedeida, chỉ cách Tunis 30 km (19 dặm) Cuộc tấn công chậm trễ của Lữ đoàn 36 bắt đầu vào ngày 26 tháng Mười Một nhưng họ bị phục kích làm cho tiểu đoàn đi đàu có tới 149 thương vong.Các cuộc tấn công tiếp theo đã bị lái vào những kế hoạch phòng ngự khéo léo được xây dựng sẵn. Một cuộc đổ bộ thứ yếu bởi một nhóm biệt kích cách 23 km (14 dặm) về phía tây của Bizerta vào ngày 30 tháng 11 với một nỗ lực nhằm tạt sườn vị trí tại Jefna thất bại và đơn vị này đã gia nhập Lữ đoàn 36 vào ngày 3 tháng 12. Vị trí này vẫn ở trong tay quân Đức cho đến những ngày cuối cùng của cuộc chiến tại Tunisia vào mùa xuân sau.

Vào đầu ngày 26 tháng 11, khi quân Đức rút lui, Lữ đoàn 11 đã có thể vào Medjez mà không bị chặn lại và vào cuối ngày đã chiếm được các vị trí trong và xung quanh Tebourba, cũng đã được quân Đức sơ tán, chuẩn bị tiến lên Djedeida. Tuy nhiên, vào ngày 27 tháng 11, người Đức tấn công dữ dội và nỗ lực của Lữ đoàn 11 để lấy lại thế chủ động ​​vào sớm ngày 28 tháng 11, tấn công vào sân bay Djedeida với sự trợ giúp của thiết giáp Mỹ đã thất bại. Ngày 29 tháng 11, Bộ Chỉ huy Chiến đấu B của Sư đoàn 1 Thiết giáp Hoa Kỳ đã tập trung hướng thực hiện một cuộc tấn công kết hợp với Blade Force dự kiến ​​vào ngày 2 tháng Mười Hai. Họ đã bị chặn bởi một cuộc phản công của phe Trục, dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng Wolfgang Fischer thuộc Sư đoàn Bộ binh số 10 vừa mới đến Tunisia. Vào tối ngày 2 tháng 12, lực lượng Blade Force đã rút lui bỏ lại Lữ đoàn 11 và Bộ Chỉ Huy Chiến đấu B đối đầu với cuộc tấn công của Phát xít.Điều này có nguy cơ làm cho Lữ đoàn 11 bị cắt đứt và đột phá vào phía sau chiến tuyến Đồng Minh song cuộc chiến tuyệt vọng hơn 4 ngày đã làm chậm bước tiến của quân Trục, giúp họ rút lui có trật tự tới vùng đất cao phía tây con sông tại Terbourba.

Lực lượng Đồng minh ban đầu rút lui khoảng 9,7 km (6 dặm) tới các vị trí cao của Đồi Longstop (Djebel el Ahmera) và Bou Aoukaz ở mỗi bên bờ sông, nhưng lo ngại về việc dễ bị đánh tật sườn đã thúc đẩy việc rút quân sâu hơn về phía tây do đó đến cuối ngày 10 tháng 12, các đơn vị đồng minh đã tổ chức một tuyến phòng thủ ở phía đông tại Medjez el Bab. Ở đây, họ bắt đầu chuẩn bị một cuộc tấn công khác và đã sẵn sàng vào cuối tháng 12 năm 1942. Việc chuẩn bị chậm đã mang lại cho lực lượng Đồng minh lên đến tổng số 54.000 quân Anh, 73.800 quân Mỹ và 7.000 quân Pháp. Một cuộc thống kê tình báo vội vã cho thấy có khoảng 125.000 quân chiến đấu và 70.000 quân phục vụ, chủ yếu là Ý, trước mặt họ. Cuộc tấn công chính bắt đầu vào chiều ngày 22 tháng 12. Mặc dù có mưa và thiếu không quân hỗ trợ, cuộc tấn công đã giành lại các đỉnh núi thấp của dãy Longstop dài 900 foot (270 mét) kiểm soát hành lang sông từ Medjez đến Tebourba và từ đó đến Tunis. Sau ba ngày chiến đấu, với đạn dược cạn kiệt và các lực lượng của Trục đang giữ vùng cao gần đó, vị trí Longstop trở nên không thể bảo vệ và quân đồng minh buộc phải rút lui về Medjez, đến ngày 26 tháng 12 năm 1942, quân Đồng minh đã Rút lui khỏi chiến tuyến mà họ đã tạo ra từ hai tuần trước đó, bị thiệt hại là 20.743 người.

Sau cuộc chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Tình hinh chính trị của Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi những trận chiến diễn ra, thì chủ nghĩa bè phái ở Pháp lại bùng nổ. Ngày 24 tháng 12, François Darlan bị ám sát và Henri Giraud thành công với tư cách là Ủy viên Cao cấp. Trước sự phản kháng của lực lượng Pháp Tự do, chính phủ Hoa Kỳ vẫn bày tỏ sự sẵn lòng đáng kể để làm cho một thỏa thuận với Darlan và chính phủ Vichy. Do đó, cái chết của Darlan dường như là cơ hội để kết hợp với người Pháp ở Bắc Phi và lực lượng Pháp tự do của Charles de Gaulle. De Gaulle và Giraud đã gặp nhau vào cuối tháng Một nhưng có rất ít tiến bộ đã được thực hiện trong việc hòa giải sự khác biệt của họ hoặc các cử tri mà họ đại diện. Cho đến tháng 6 năm 1943 Ủy ban Giải phóng Dân tộc Pháp (CFLN) được thành lập dưới sự chỉ đạo chung của Giraud và De Gaulle nhưng De Gaulle nhanh chóng làm lu mờ Giraud, người đã thẳng thắn không thích trách nhiệm chính trị và ít nhiều sẵn lòng tự nhuyện làm theo Lãnh đạo của lực lượng Pháp tự do.

Sự thay đổi chỉ huy[sửa | sửa mã nguồn]

Nehring, được đánh giá như một chỉ huy xuất sắc, đã liên tục làm các chỉ huy cấp cao của ông nổi điên với những lời phê bình thẳng thắn và bị thay thế khi chỉ huy đổi tên tập đoàn quân panzer 5 cùng với Đại tướng Hans-Jurgen von Arnim tới Tunis vào ngày 8 tháng 12 mà không báo trước để đảm nhiệm việc chỉ huy.

Bế tắc và tăng viện[sửa | sửa mã nguồn]

Tập đoàn quân bao gồm sư đoàn bộ binh hỗn hợp von Broich / von Manteuffel thuộc khu vực Bizerte, Sư đoàn 10 Panzer ở trung tâm trước Tunis và Sư đoàn Bộ binh vùng núi 1 ở phía Nam nhưng Hitler đã nói với Arnim rằng quân đoàn sẽ được củng cố lên đến ba sư đoàn bộ binh cơ giới hóa và ba sư đoàn thiết giáp.Quân Đồng Minh đã cố gắng ngăn chặn quân Trục củng cố bằng các lực lượng đáng kể không quân và hải quân quân nhưng Tunis và Bizerta chỉ cách 190 km (120 dặm) từ các cảng và sân bay phía Tây Sicily, 290 km (180 dặm) từ Palermo và 480 km (300 dặm) từ Naples, khiến cho rất khó để đánh chặn các phương tiện vận chuyển quân Trục có lợi thế đáng kể của không quân bảo vệ.Từ giữa tháng 11 năm 1942 đến tháng 1 năm 1943, 243.000 người và 870.000 tấn vật tư và thiết bị đến Tunisia bằng đường biển và đường hàng không.

Tướng Eisenhower đã chuyển các đơn vị khác từ Ma-rốc và Algeria từ phía đông sang Tunisia. Ở phía Bắc, Tập đoàn quân số 1 của Anh, trong ba tháng tiếp theo, đã nhận thêm ba sư đoàn Anh, các Sư đoàn Bộ binh số 1, 4 và 46, tham gia vào các sư đoàn thiết giáp số 6 và bộ binh số 78. Đến cuối tháng ba, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IX Anh (Trung Tướng John Crocker) đã đến để gia nhập V Quân Đoàn Anh (Trung Tướng Charles Allfrey) chỉ huy quân mở rộng. Trên cánh phải của họ, cơ sở của quân đoàn XIX Pháp (General Alphonse Juin) với 2 sư đoàn đã được tập hợp.

Ở phía Nam là Quân Đoàn II Hoa Kỳ (Thiếu Tướng Lloyd Fredendall), bao gồm các Sư đoàn Bộ binh số 1 và 34 và Sư đoàn Thiết giáp số 1 (mặc dù Sư Đoàn 34 thuộc Quân Đoàn IX ở phía Bắc). Giraud đã từ chối không cho đặt Quân đoàn XIX của Pháp dưới sự chỉ huy của Tập đoàn quân số 1 của Anh và vì vậy, cùng với Quân Đoàn II Hoa Kỳ, vẫn nằm dưới sự chỉ huy của Bộ tư lệnh quân Đồng minh (AFHQ). Những sân bay tiền tuyến mới được xây dựng để cải thiện không quân hỗ trợ. Người Mỹ cũng bắt đầu đặt các căn cứ tại Algeria và Tunisia, để tạo thành một căn cứ tiền tuyến lớn ở Maknassy, ​​nằm ở rìa phía đông của dãy núi Atlas, có vị trí tốt để cắt Sư đoàn bộ binh vùng núi 1 ở phía Nam khỏi Tunis và Tập đoàn quân Panzer 5 ở phía bắc.

Kasserine[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về trận đèo Kasserine tại: Trận đèo Kasserine

Khởi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nửa đầu tháng Giêng, Anderson đã có những kết quả tổng hợp từ việc liên tục gây áp lực thông qua các cuộc tấn công giới hạn và trinh sát. Arnim đã làm tương tự như vậy và vào ngày 18 tháng 1, tung ra Unternehmen Eilbote I (Chiến dịch chuển phát I). Các đơn vị của sư đoàn Panzer 10 và sư đoàn Bộ binh 334 tấn công từ Pont du Fahs để tạo thêm không gian phía trước Sư đoàn Superga của Ý và ngăn chặn một đồng minh kéo về phía đông tới bờ biển tại Enfidaville để cắt Rommel khỏi tuyến liên lạc. Cuộc tấn công về phía tây vào phía cánh phải của Quân đoàn V Anh ở Bou Arada chỉ đạt được thành tựu hạn chế nhưng ở phía nam, cuộc tấn công của ông vào các vị trí của Pháp xung quanh "bản lề" nối phía Tây và Đông Dorsals thành công, tiến 56 km (35 mi) về phía nam tới Ousseltia và 40 km (25 dặm) về phía tây nam đến Robaa. Những người lính được trang bị không đầy đủ đã kháng cự dữ dội nhưng bị tràn ngập và tương đương với bảy tiểu đoàn bộ binh bị cắt đứt trên các ngọn núi. Anderson phái Lữ đoàn 36 đến Robaa và yêu cầu Lloyd Fredendall gửi Lực lượng Chỉ huy Chiến đấu B từ Sư đoàn Thiết giáp số 1 đến Ousseltia để đặt dưới sự chỉ huy của Juin khi đến. Cuộc chiến khốc liệt kéo dài đến ngày 23 tháng 1 nhưng mặt trận đã ổn định.

Sự yếu kém của của Đồng minh trong khả năng phối hợp đã khiến Eisenhower thay đổi cơ cấu chỉ huy và ngày 21 tháng 1, Anderson chịu trách nhiệm phối hợp toàn bộ mặt trận và ngày 24 tháng 1, trách nhiệm của ông được mở rộng bao gồm "việc sử dụng quân đội Mỹ ". Đêm đó, Juin chấp nhận lệnh của Anderson, được xác nhận bởi Giraud ngày hôm sau nhưng với lực lượng trải rộng ra trên 320 km (200 dặm) và thông tin liên lạc rất kém (Anderson phải lái xe trên 1.600 km (1.000 dặm) trong bốn ngày để nói chuyện với Chỉ huy quân đoàn ) khiến việc thi hành lệnh khá khó khăn. Eisenhower bổ nhiệm một chỉ huy không quân, Chuẩn tướng Laurence S. Kuter, cho toàn bộ mặt trận vào ngày 21 tháng 1.

Erwin Rommel đã có kế hoạch cho các lực lượng rút lui qua Libya để tiến vào tuyến Mareth Line cũ do Pháp xây dựng. Các lực lượng Trục sẽ kiểm soát hai lối vào tự nhiên của Tunisia ở phía bắc và nam, và chỉ có những ngọn núi dễ bảo vệ nằm giữa họ. Vào tháng Giêng, những bộ phận của Tập đoàn quân Panzer Đức-Ý về bảo vệ Mareth được đổi tên thành Tập đoàn quân số 1 Ý (General Giovanni Messe), tách khỏi các đơn vị (bao gồm cả phần còn lại của Afrika Korps), đã phải đối mặt với Dorsale vè phía Tây. Ngày 23 tháng 1 năm 1943, Tập đoàn quân số VIII đã chiếm Tripoli, khi đó lúc lượng rút lui qua Libya đã lên đường đến vị trí của Mareth. Một phần của Quân Đoàn II Hoa Kỳ đã vượt qua Tunisia qua các đèo núi Atlas từ Algeria, kiểm soát phía trong của tam giác được hình thành bởi các ngọn núi. Vị trí của họ đã tăng nguy cơ tấn công hướng về phía đông tới Sfax trên bờ biển, để cắt đứt Tập Đoàn quân số 1 Ý tại Mareth khỏi lực lượng của Arnim về phía bắc xung quanh Tunis. Rommel không thể cho phép điều này và lập kế hoạch cho một cuộc tấn công.

Trận Sidi Bou Zid[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 30 tháng 1 năm 1943,Sư đoàn Panzer 21 của Đức và ba sư đoàn Ý từ Tập đoàn quân Panzer 5 đã gặp các bộ phận của quân Pháp gần Faïd, đèo chính từ cánh phía đông của dãy núi trong vùng đồng bằng ven biển. Fredendall đã không đáp lại yêu cầu của Pháp để đưa quân tiếp viện xe tăng từ Sư đoàn Thiết giáp 1 và sau cuộc kháng cự tuyệt vọng, những người lính phòng ngự thiếu thốn của Pháp đã bị tràn ngập. Một số cuộc phản công đã được tổ chức, bao gồm cả một cuộc tấn công muộn màng của Lực lựong Chỉ huy B (CCB) của Sư đoàn Thiết giáp Hoa Kỳ 1, nhưng tất cả đều bị lực lượng của Arnim đánh bại và lần này họ đã tạo ra các vị trí phòng thủ mạnh. Sau ba ngày, lực lượng Đồng minh buộc phải rút lui vào vùng đồng bằng bên trong để tạo tuyến phòng ngự mới tại thành phố nhỏ Sbeitla.

Trong Chiến dịch Frühlingswind (gió xuân), Arnim đã ra lệnh cho bốn nhóm thiết giáp chiến đấu vào ngày 14 tháng 2 trong khu vực Sidi Bou Zid đựoc giữ bới trung đoàn 168 Bộ binh của Sư đoàn Bộ binh số 34 và Lực lượng chỉ huy A(CCA) thuộc sư đoàn thiết giáp 1 . Cách bố trí của phía phòng thủ rất kém, các đơn vị bị phân tán khiến họ không thể hỗ trợ lẫn nhau. Đến ngày 15 tháng 2, CCA đã bị thiệt hại nặng bỏ lại các đơn vị bộ binh nằm trên những ngọn đồi. Lực lượng Chỉ huy C(CCC) được lệnh tấn công để giải tỏa Sidi Bou Zid nhưng đã bị đẩy lùi với những tổn thất nặng nề. Vào tối ngày 15 tháng 2, ba nhóm chiến đấu của Axis đã có thể hướng về Sbeitla, 32 km (20 dặm) về phía tây bắc. Gạt sang một bên những phần còn lại của CCA và CCC, các đoàn quân đã phải đối mặt với CCB ở ngay trước Sbeitla. Với sự trợ giúp của không quân, CCB đã giữ được suốt cả ngày. Tuy nhiên, sự hỗ trợ của không quân không thể duy trì được lâu và quân bảo vệ Sbeitla bị buộc phải rút lui, thị trấn thất thủ vào giữa trưa ngày 17 tháng 2.

Ở phía nam, trong Chiến dịch Morgenluft (gió sáng),một bộ phận của Tập đoàn quân số 1 của Ý gồm các phần còn lại của Afrika Korps dưới quyền Karl Bülowius đã tiến về phía Gafsa vào lúc hoàng hôn vào ngày 15 tháng 2 để tìm thị trấn bị bỏ lại, một phần của việc rút lui nhằm rút ngắn Mặt trận Đồng Minh tạo điều kiện cho việc tổ chức lại liên quan đến việc rút quân đoàn XIX Pháp để trang bị lại. Quân Đoàn II Hoa Kỳ rút lui về phía Dernaia-Kasserine-Gap-Sbiba với quân đoàn XIX trên cánh trái đòng nghĩ với việc bỏ phía Đông Dorsal cùng với họ. Vào chiều ngày 17 tháng 2, quân đội của Rommel chiếm Feriana và Thelepte (cách thành phố Kasserine khoảng 24 km (15 dặm) về phía tây nam của Kasserine). Sáng 18-2 sân bay Thelepte , căn cứ không quân chính trong khu vực phía Nam của Tập đoàn quân số 1 Anh, buộc phải di tản.

Trận đèo Kasserine[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thảo luận thêm, Bộ Tư Lệnh Supremo đã đồng ý trao quyền chỉ huy hai Sư đoàn Panzer 10 và 21 vào ngày 19 tháng 2 cho Rommel nhưng lại yêu cầu ông tấn công qua Kasserine và Sbiba để đánh lên Thala và Le Kef nhằm đe dọa sườn của Tập đoàn quân số 1,kế hoạch này đã bị Đồng Minh dự đoán trước. Đề xuất ban đầu của Rommel là một cuộc tấn công giới hạn nhưng tập trung qua Kasserine để đối đầu với Quân Đoàn II non kinh nghiệm tại Tébessa và cướp lấy nguồn cung cấp từ các cơ sở của Mỹ mà phía Trục đang rất cần. Mặc dù ông có Sư đoàn Panzer 10 và 21 được chuyển đến dưới quyền của ông, Rommel lo ngại rằng kế hoạch mới sẽ làm giảm sự tập trung lực lượng của mình và các bên cánh sẽ bị đe dọa.

Ngày 19 tháng 2 năm 1943, Rommel, hiện đang được chính thức chỉ huy Sư đoàn Panzer số 10 và 21, quân đoàn Afrika Korps cũng như các lực lượng của Tướng Messe trong việc bảo vệ Mareth (đổi tên là Tập đoàn quân số 1 Ý), phát động tấn công mà sau này sẽ trở thành Trận đèo Kasserine. Với hy vọng đánh bại những người lính thiếu kinh nghiệm trong một cuộc tấn công bất ngờ, ông đã tung thiêt giáp hạng nhẹ của Tiểu Đoàn Trinh sát số 3 vào con đèo. Lực lượng Stark của Đại tá Alexander Stark, một lữ đoàn bao gồm các đơn vị Hoa Kỳ và Pháp, chịu trách nhiệm bảo vệ con đèo.Họ đã không có thời gian để tổ chức kĩ càng nhưng có thể chỉ đạo hỏa lực pháo của hạng nặng từ các cao nguyên bao quanh, khiến cho đơn vị cơ giới đi đầu của Afrika Korps phải dừng lại. Trước khi có thể tiếp tục, bộ binh cần phải được đưa lên cao để tìm cách loại bỏ mối đe dọa pháo binh. Nhóm chiến đấu dưới quyền Hans-Georg Hildebrand bao gồm các xe tăng từ Sư đoàn Panzer 21 đã tiến lên phía bắc từ Sbeitla về phía Sbiba Gap. Trước những đồi phía đông của Sbiba, họ bị chặn lại bởi Lữ đoàn vệ binh 1 và Đội Đặc Trách Chiến Thuật số 18 có lực lượng pháo mặt đất và pháo phòng không hỗ trợ mạnh mẽ và còn có hai trung đoàn bộ binh từ Sư Đoàn Bộ Binh 34 gia nhập.

Vào sáng ngày 20 tháng 2, trận chiến giáp lá cà trong những ngọn đồi phía trên Kasserine tiếp tục trong khi Afrika Korps Kampfgruppe và một tiểu đoàn từ Sư đoàn Thiết giáp 131 Centauro và nhiều pháo binh hơn chuẩn bị cho một cuộc tấn công khác qua đèo, một khi Sư đoàn Panzer 10 gia nhập từ Sbeitla. Cuộc tấn công vào buổi sáng khá chậm chạp khi von Broich đợi các lực lượng từ sư đoàn panzer 10 của mình Rommel đã trực tiếp yêu cầu ông tấn công ngay vào chiều hôm đó.Sự áp đảo của phe Trục với không quân và pháo binh yểm hộ đã làm sụp đổ hệ thống phòng thủ của liên quân.

Sau khi vượt qua Đèo Kasserine vào chiều ngày 20 tháng 2, các đơn vị của Sư đoàn Centauro tiến về hướng tây về phía Tébessa, hầu như không gặp kháng cự. Theo sau họ là nhóm chiến đấu của von Broich từ Sư đoàn Panzer 10, chia ra ngay trên con đường tới Thala, nơi họ bị một nhóm vũ trang thuộc trung đoàn huấn luyện thuộc Lữ đoàn Thiết giáp 26 (Gore Force) làm chậm lại. Xe tăng của GF bị bắn cháy, Gore Force thiệt hại nặng nhưng đã mua thời gian cho lực lượng Nick Force, một lực lượng hỗn hợp từ Sư đoàn 6 Thiết giáp Anh, căn cứ xung quanh Lữ đoàn Thiết giáp số 26 với bộ binh và pháo binh (mà Anderson đã ra lệnh ngày hôm trước rời khỏi khu Kesra để Tăng cường phòng thủ Thala) chuẩn bị các vị trí phòng thủ xa hơn trên đường. Trong khi đó, Fredendall đã gửi CCB của Sư đoàn 1 Thiết giáp để chống lại mối đe dọa vào Tébessa.

Đến 1 giờ chiều ngày 21 tháng 2, nhóm von Broich đã đối đầu với Lữ đoàn Thiết giáp 26 trên Đường Thala và tiến lên chậm. Rommel đã trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công và buộc họ phải rút vào 4 giờ chiều. Tuy nhiên, Lữ đoàn Thiết giáp 26 đã có thể rút lui một cách hợp lý để sau đó cuối cùng phòng thủ trước Thala. Cuộc chiến tại vị trí này bắt đầu lúc 7 giờ tối và tiếp tục ở các khu vực lân cận trong ba tiếng đồng hồ mà không bên nào có thể đạt được lợi thế quyết định. Nick Force đã hứng chịu những đòn tấn công dữ dội và không còn có thể giữ được ngày hôm sau. Tuy nhiên, vào đêm đó, thêm 48 khẩu pháo từ Sư đoàn bộ binh 9 Hoa Kỳ đã đến sau chuyến đi dài 1.300 km từ Ma-rốc trên những con đường nghèo nàn và trong thời tiết xấu. Vào sáng ngày 22 tháng 2, khi Broich chuẩn bị tấn công, mặt trận của ông bị một đòn pháo binh phủ đầu. Bất ngờ, Rommel nói với Broich để tập hợp lại và xây dựng một thế thế phòng thủ, vì vậy từ bỏ thế chủ động .

Nhóm chiến đấu thuộc Sư đoàn Panzer 21 ở Sbiba không đạt được thành tựu nào. Xa hơn về phía nam, Afrika Korps trên đường tới Tébessa đã bị chặn lại vào ngày 21 tháng 2 bởi thiết giáp và pháo binh của CCB nằm trên những dốc của Djebel Hamra. Một nỗ lực để tạt sườn họ trong đêm 21 tháng 2, trở thành một thất bại nặng nề. Một cuộc tấn công khác vào đầu ngày 23 tháng 2 lại bị đánh lại. Trong một cuộc gặp gỡ phẫn nộ vào ngày 22 tháng 2 với Kesselring, Rommel chỉ ra rằng phải đối mặt với sự phòng vệ vững chắc và tin tức rằng các đơn vị đi đầu của Tập đoàn quân số 8 Anh cuối cùng đã đến được Medenine, chỉ cách Mareth Line vài dặm, ông nên chấm dứt các cuộc tấn công và rút lui để hỗ trợ Bảo vệ Mareth, hy vọng rằng cuộc tấn công Kasserine đã gây ra thiệt hại đủ để ngăn chặn bất kỳ hành động tấn công từ phía tây. Kesselring đã rất quan tâm để tiếp tục tấn công nhưng cuối cùng đã đông ý với Rommel vào buổi tối và Bộ Tư Lệnh Supremo chính thức chấm dứt chiến dịch. Các lực lượng Trục từ Kasserine đã tới Mareth Line vào ngày 25 tháng Hai.

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Trận đánh là một thắng lợi to lớn về chiến thuật của phe Trục khi đánh thiệt hại nặng Quân đoàn II Hoa Kì và chiếm được lượng lớn hàng tiếp tế và bắt sống nhiều tù binh.Song, sự kháng cự bền bỉ của Đồng Minh, sự thiếu tiếp viện (Arnim không những không tham gia đánh Tebessa mà còn giữ lại những đơn vị xe tăng Tiger quan trọng của Sư đoàn Thiết giáp 10) và khả năng tiếp vận kém của Ý đã khiến quân Trục không phát huy được thế chủ động biến đây thành một thất bại về chiến lược của họ.Không thể dứt điểm được hướng Tây,giờ đây quân Trục bị vây giữa hai Tập đoàn quân 1 và 8 của Anh và rơi vào thế bị động.

Thất bại này được xem là một trong những thảm bại lớn nhất của quân đội Hoa Kì trong lịch sử.Sau trận đánh,một cuộc tái tổ chức toàn cục đã được thưc hiện và trong những trận đánh về sau khả năng phối hợp của quân Đồng Minh đã hiệu quả hơn nhiều.

Tái tổ chức bộ chỉ huy Đồng Minh và phe Trục[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt trận phía nam quanh Mareth[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch Capri[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch Pugilist[sửa | sửa mã nguồn]

Gabès[sửa | sửa mã nguồn]

Quân khu phía bắc từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1943[sửa | sửa mã nguồn]

Kết thúc chiến dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Những kế hoạch cho đòn tấn công cuối cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Trận chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả chiến dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Những thương vong này bao gồm tổn thất phát sinh của Tập đoàn quân số 1 tính từ ngày 8 tháng 11 năm 1942 và của Tập đoàn quân số 8 tính từ ngày 9 tháng 2 năm 1943. Thiệt hại của quân Anh và Khối Thịnh vượng chung ước tính là 38.360 người: 6.233 chết, 21.528 bị thương, và 10.599 mất tích. Lực lượng Pháp Tự do mất 19.439 người: 2.156 chết, 10.276 bị thương, và 7.007 mất tích.[1] Thương vong của Hoa Kỳ là 18.221 người: 2.715 chết, 8.978 bị thương, và 6.528 mất tích.[1][2]
  2. ^ Từ 22 đến 30 tháng 11 năm 1942, Không quân Hoàng gia Anh (RAF) đã thực hiện 1.710 phi vụ bay và mất ít nhất 45 máy bay. Không lực Lục quân Hoa Kỳ (USAAF) thực hiện 180 phi vụ và mất ít nhất 7 máy bay.[3] Trong các ngày 1–12 tháng 12, RAF thực hiện 2.225 phi vụ và mất ít nhất 37 máy bay, còn USAAF thực hiện 523 phi vụ và mất 17 máy bay.[4] Trong các ngày 13–26 tháng 12, RAF thực hiện 1.940 phi vụ và mất ít nhất 20 máy bay còn USSAF thực hiện 720 phi vụ và mất 16 máy bay.[5] Trong giai đoạn từ 27 tháng 12 năm 1942 đến 17 tháng 1 năm 1943, RAF thực hiện 3.160 phi vụ và mất 38 máy bay còn USAAF thực hiện khoảng 3.200 phi vụ và mất 36 máy bay.[6] Trong các ngày 18 tháng 1–13 tháng 2, the RAF thực hiện 5.000 phi vụ, không tính những vụ tấn công tàu vận chuyển, và mất 34 máy bay còn USAAF thực hiện khoảng 6.250 phi vụ và mất 85 máy bay.[7] Trong những ngày còn lại của tháng 2 cho đến 28 tháng 3, có thêm 156 máy bay Đồng Minh bị tiêu diệt.[8] Từ 29 tháng 3 đến 21 tháng 4, có 203 máy bay Đồng Minh bị tiêu diệt.[9] Từ 22 tháng 4 cho đến hết chiến dịch, 45 máy bay ném bom và 110 máy bay tiêm kích bị tiêu diệt; trong đó RAF mất 12 ném bom và 47 tiêm kích, USAAF mất 32 ném bom và 63 tiêm kích, còn Pháp mất 1 máy bay ném bom.[10]
  3. ^ Nhà văn Rick Atkinson tuyên bố rằng những tổn thất của phe Trục vẫn chưa chắc chắn, và theo nhiều yếu tố, có thể ước tính rằng lục quân Đức mất 8.500 người chết trong chiến dịch còn lục quân Ý mất 3.700 người chết. Atkinson còn tính rằng có thêm từ 40.000 đến 50.000 binh lính phe Trục bị thương.[11] Sử gia chiến dịch chính thức của Anh là thiếu tướng I.S.O. Playfair tuyên bố tổng số tù binh không bị thương bắt được, theo những hồ sơ của Đồng Minh, ước tính là 238.243 người: 101.784 người Đức, 89.442 người Ý, và 47.017 người quốc tịch không xác định.[1] Atkinson còn tuyên bố trong những số liệu này thì có khoảng 250.000 người bị bắt là "ước tính hợp lý".[11] Playfair trích dẫn Lịch sử Chính thức của Hoa Kỳ là có 275.000 lính phe trục bị bắt, Cụm tập đoàn quân số 18 Anh tính toán là 244.500, Rommel thì ước tính có 130.000 quân Đức bị bắt, còn von Arnim thì tính rằng có 100.000 người Đức và 200.000 người ý bị bắt làm tù binh.[1]
  4. ^ Trong các ngày 22–30 tháng 11 năm 1942, Không quân Đức (Luftwaffe) thực hiện 1.084 phi vụ và mất 63 máy bay, trong đó 21 chiếc bị tiêu diệt ngay trên mặt đất. Không quân Ý (Regia Aeronautica) ghi nhận tổn thất 4 máy bay.[3] Trong các ngày 1–12 tháng 12, Luftwaffe thực hiện 1.000 phi vụ và mất 37 máy bay, trong đó có 9 chiếc bị tiêu diệt ngay trên mặt đất, còn phía Ý ghi nhận mất 10 máy bay.[4] Trong các ngày 13–26 tháng 12, Luftwaffe thực hiện 1.030 phi vụ và mất 17 máy bay còn Ý mất 3 máy bay.[5] Từ ngày 27 tháng 12 năm 1942 đến 17 tháng 1 năm 1943, Luftwaffe mất 47 máy bay còn Regia Aeronautica mất không rõ.[6] Trong các ngày 18 tháng 1-13 tháng 2, Luftwaffe mất 100 máy bay còn phía Ý mất không rõ.[7] Trong các ngày còn lại của tháng 2 cho đến 28 tháng 3, Đức mất 136 máy bay còn Regia Aeronautica mất 22 máy bay.[8] Trong các ngày 29 tháng 3-21 tháng 4, Luftwaffe mất 270 máy bay đồng thời 46 "máy bay còn hoạt động và hầu hết toàn bộ đội máy bay vận tải còn lại của họ" bị tiêu diệt.[9] Từ ngày 22 tháng 4 cho đến hết chiến dịch, Luftwaffe mất 273 máy bay: 42 máy bay ném bom, 166 máy bay tiêm kích, 52 máy bay vận tải, và 13 chiếc Storch. Người Ý ghi nhận mất 17 máy bay.[10]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Playfair, trang 460 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Playfair460” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Playfair460” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Playfair460” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Playfair460” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  2. ^ Atkinson, trang 536
  3. ^ a ă Playfair, trang 179 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Playfair179” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  4. ^ a ă Playfair, trang 186 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Playfair186” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  5. ^ a ă Playfair, trang 189 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Playfair189” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  6. ^ a ă Playfair, trang 278 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Playfair278” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  7. ^ a ă Playfair, trang 284 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Playfair284” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  8. ^ a ă Playfair, trang 355 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Playfair355” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  9. ^ a ă Playfair, trang 401 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Playfair401” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  10. ^ a ă Playfair, trang 460-461 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Playfair460461” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  11. ^ a ă Atkinson, trang 537

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]