Chiến dịch Tunisia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến dịch Tunisia
Một phần của Mặt trận Bắc Phi
thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai
Gromalia prisoner of war camp.jpg
Tù binh Đức và Ý sau khi Tunis thất thủ, 12 tháng 5 năm 1943
.
Thời gian 17 tháng 11, 194213 tháng 5, 1943
Địa điểm Tunisia thuộc Pháp
Kết quả Đồng Minh chiến thắng
Tham chiến
 Anh Quốc

 Hoa Kỳ
 Pháp tự do

 New Zealand
 Ba Lan
 Hy Lạp

 Đức Quốc Xã
 Vương quốc Ý
Chỉ huy
Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Harold Alexander
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Kenneth Anderson
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Bernard Montgomery
Đức Quốc Xã Albert Kesselring
Đức Quốc Xã Erwin Rommel
Đức Quốc Xã Hans-Jürgen von Arnim Đầu hàng
Ý Giovanni Messe Đầu hàng
Tổn thất
76.020 [Gc 1]
849 máy bay bị phá hủy[Gc 2]
khoảng 300.000 thương vong[Gc 3]
Ít nhất 1.045 máy bay bị tiêu diệt[Gc 4]
600+ máy bay bị bắt [1]
.

Chiến dịch Tunisia (hay còn gọi là Trận Tunisia) là một loạt trận đánh diễn ra tại Tunisia trong Chiến dịch Bắc Phi thời chiến tranh Thế giới thứ hai, giữa các lực lượng Phe TrụcĐồng Minh. Phe Đồng Minh gồm có lực lượng Đế quốc Anh, (bao gồm cả đội ngũ Ba Lan và Hy Lạp) Hoa KỳQuân đội Pháp Tự do. Trận chiến mở màn với thành công ban đầu của Đức Quốc xãPhát xít Ý, sau đó lượng hàng tiếp tế khổng lồ và ưu thế áp đảo về quân số của Đồng Minh đã đẩy quân đội phe Trục đến thất bại hoàn toàn. Hơn 230.000 quân Đức và Ý bị bắt làm tù binh, hầu hết trong số đó đều thuộc về Quân đoàn châu Phi của Đức.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sa mạc Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Hai năm đầu tiên của cuộc chiến tranh ở Bắc Phi là đặc trưng của tình trạng thiếu nguồn tiếp tế và các vấn đề giao thông. Các bờ biển Bắc Phi có vài hải cảng tự nhiên và căn cứ của Anh tại alexandria trên sông Nile với khoảng cách 2.100 km (1.300 dặm) bằng đường bộ cũng như con đường từ Ý tới hải cảng chính TripoliLibya. Cảng nhỏ ở BenghaziTobruk là 1.050 km (650 mi) và 640 km (400 mi) về phía tây Alexandria trên Đường cao tốc ven biển Libya (Via Balbia) chạy dọc theo một hành lang hẹp dọc theo bờ biển. Những trận chiến quyết liệt nhằm giành quyền kiểm soát Địa Trung Hải giữa hải quân anh và ý đã khiến nguồn cung cấp quân nhu thông qua Alexandria, Tripoli, Benghazi và Tobruk rất hạn chế và tác động lớn đến cuộc chiến, mặc dù người Anh có thể cung cấp tiếp tế cho quân đội của mình tại Ai Cập thông qua các tuyến đường dài băng qua Đại Tây Dương xung quanh Bán đảo Cape và Ấn Độ Dương vào Biển Đỏ.

Một chiếc xe tăng Crusader III của Anh đang băng ngang qua một con mương tại Mersa Matruh, Libya khi Tập đoàn quân 8 Anh đang truy đuổi các lực lượng rút lui của phe Trục, tháng 11 năm 1942

Khó khăn kéo dài trong việc tiếp viện cho các lực lượng quân sự trong sa mạc, dẫn đến nhiều chiến thắng thiếu quyết đoán của cả hai bên và tiến bộ không kết quả dài dọc theo bờ biển. Các cuộc tấn công Ai Cập của quân đội Ý do tập đoàn quân số 10 vào năm 1940, chỉ tiến triển được 97 km (60 dặm) sang Ai Cập và hơn 1.600 km (1.000 dặm) trong một đường thẳng từ Tripoli, 600 km (370 dặm) từ Benghazi và 320 km (200 mi) từ Tobruk. Các lực lượng quân đội sa mạc của Phương Tây (WDF) đã chiến đấu quyết liệt nhằm trì hoãn cuộc tấn công làm người Ý phải lùi về Mesa Matruh (Matruh), sau đó thực hiện chiến dịch Compass là một cuộc đột kích và phản công vào Libya. Tập đoàn quân số 10 đã bị đánh tan tác và WDF chiếm El Agheila, khoảng 970 km (600 dặm) từ Alexandria. Sự cứu trợ của người Đức với Quân đoàn Phi Châu (Afrika Korps) phe Trục phản công trong tháng 4 năm 1941 đẩy lui WDF về biên giới Ai Cập nhưng thất bại trong việc lấy lại Tobruk.

Trong tháng mười một năm 1941, Tập đoàn quân số VIII phục hồi, nhờ vào việc cung cấp khoảng cách ngắn từ Alexandria cho tiền tuyến và tung ra Chiến dịch Crusader, làm giảm sự vây hãm Tobruk và một lần nữa đạt El Agheila. Các lực lượng của tập đoàn quân VIII đã sớm bị đẩy trở lại Gazala về phía tây Tobruk và ở trận gazala tháng 5 năm 1942, phe Trục tung ra đòn đánh chí tử đẩy quân đồng minh về tận EI Alamein, chỉ cách 160 km (100 dặm) đến Alexandria. Trong năm 1942, Hải quân Hoàng gia và Hải quân Italia vẫn còn tranh giành Địa Trung Hải nhưng việc quân Anh chiếm đảo Malta cho phép các lực lượng không quân Hoàng gia đánh chìm nhiều tàu cung cấp của Ý hơn. Với số lượng lớn vật tư có sẵn do người Anh được Hoa Kỳ cung cấp nên cuối cùng Tập đoàn quân số VIII cũng được tiếp tế đầy đủ và áp đảo kẻ địch. Việc Tập đoàn quân thứ VIII không còn bị hạn chế về tiếp viện dẫn đến quân Trục đã bị đẩy về phía tây Ai Cập sau trận El Alamein lần thứ hai vào tháng Mười năm 1942.

Chiến dịch Torch[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch Bó đuốc[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống phòng thủ tự nhiên của Tunisia[sửa | sửa mã nguồn]

Chạy đua giành Tunis[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Minh tiến quân[sửa | sửa mã nguồn]

Phản ứng của phe Trục[sửa | sửa mã nguồn]

Pháp chính thức về phe Đồng Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Thay đổi trong bộ chỉ huy Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Bế tắc và tăng viện[sửa | sửa mã nguồn]

Kasserine[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Trận Sidi Bou Zid[sửa | sửa mã nguồn]

Trận đèo Kasserine[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Tái tổ chức bộ chỉ huy Đồng Minh và phe Trục[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt trận phía nam quanh Mareth[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch Capri[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch Pugilist[sửa | sửa mã nguồn]

Gabès[sửa | sửa mã nguồn]

Quân khu phía bắc từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1943[sửa | sửa mã nguồn]

Kết thúc chiến dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Những kế hoạch cho đòn tấn công cuối cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Trận chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả chiến dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Những thương vong này bao gồm tổn thất phát sinh của Tập đoàn quân số 1 tính từ ngày 8 tháng 11 năm 1942 và của Tập đoàn quân số 8 tính từ ngày 9 tháng 2 năm 1943. Thiệt hại của quân Anh và Khối Thịnh vượng chung ước tính là 38.360 người: 6.233 chết, 21.528 bị thương, và 10.599 mất tích. Lực lượng Pháp Tự do mất 19.439 người: 2.156 chết, 10.276 bị thương, và 7.007 mất tích.[1] Thương vong của Hoa Kỳ là 18.221 người: 2.715 chết, 8.978 bị thương, và 6.528 mất tích.[1][2]
  2. ^ Từ 22 đến 30 tháng 11 năm 1942, Không quân Hoàng gia Anh (RAF) đã thực hiện 1.710 phi vụ bay và mất ít nhất 45 máy bay. Không lực Lục quân Hoa Kỳ (USAAF) thực hiện 180 phi vụ và mất ít nhất 7 máy bay.[3] Trong các ngày 1–12 tháng 12, RAF thực hiện 2.225 phi vụ và mất ít nhất 37 máy bay, còn USAAF thực hiện 523 phi vụ và mất 17 máy bay.[4] Trong các ngày 13–26 tháng 12, RAF thực hiện 1.940 phi vụ và mất ít nhất 20 máy bay còn USSAF thực hiện 720 phi vụ và mất 16 máy bay.[5] Trong giai đoạn từ 27 tháng 12 năm 1942 đến 17 tháng 1 năm 1943, RAF thực hiện 3.160 phi vụ và mất 38 máy bay còn USAAF thực hiện khoảng 3.200 phi vụ và mất 36 máy bay.[6] Trong các ngày 18 tháng 1–13 tháng 2, the RAF thực hiện 5.000 phi vụ, không tính những vụ tấn công tàu vận chuyển, và mất 34 máy bay còn USAAF thực hiện khoảng 6.250 phi vụ và mất 85 máy bay.[7] Trong những ngày còn lại của tháng 2 cho đến 28 tháng 3, có thêm 156 máy bay Đồng Minh bị tiêu diệt.[8] Từ 29 tháng 3 đến 21 tháng 4, có 203 máy bay Đồng Minh bị tiêu diệt.[9] Từ 22 tháng 4 cho đến hết chiến dịch, 45 máy bay ném bom và 110 máy bay tiêm kích bị tiêu diệt; trong đó RAF mất 12 ném bom và 47 tiêm kích, USAAF mất 32 ném bom và 63 tiêm kích, còn Pháp mất 1 máy bay ném bom.[10]
  3. ^ Nhà văn Rick Atkinson tuyên bố rằng những tổn thất của phe Trục vẫn chưa chắc chắn, và theo nhiều yếu tố, có thể ước tính rằng lục quân Đức mất 8.500 người chết trong chiến dịch còn lục quân Ý mất 3.700 người chết. Atkinson còn tính rằng có thêm từ 40.000 đến 50.000 binh lính phe Trục bị thương.[11] Sử gia chiến dịch chính thức của Anh là thiếu tướng I.S.O. Playfair tuyên bố tổng số tù binh không bị thương bắt được, theo những hồ sơ của Đồng Minh, ước tính là 238.243 người: 101.784 người Đức, 89.442 người Ý, và 47.017 người quốc tịch không xác định.[1] Atkinson còn tuyên bố trong những số liệu này thì có khoảng 250.000 người bị bắt là "ước tính hợp lý".[11] Playfair trích dẫn Lịch sử Chính thức của Hoa Kỳ là có 275.000 lính phe trục bị bắt, Cụm tập đoàn quân số 18 Anh tính toán là 244.500, Rommel thì ước tính có 130.000 quân Đức bị bắt, còn von Arnim thì tính rằng có 100.000 người Đức và 200.000 người ý bị bắt làm tù binh.[1]
  4. ^ Trong các ngày 22–30 tháng 11 năm 1942, Không quân Đức (Luftwaffe) thực hiện 1.084 phi vụ và mất 63 máy bay, trong đó 21 chiếc bị tiêu diệt ngay trên mặt đất. Không quân Ý (Regia Aeronautica) ghi nhận tổn thất 4 máy bay.[3] Trong các ngày 1–12 tháng 12, Luftwaffe thực hiện 1.000 phi vụ và mất 37 máy bay, trong đó có 9 chiếc bị tiêu diệt ngay trên mặt đất, còn phía Ý ghi nhận mất 10 máy bay.[4] Trong các ngày 13–26 tháng 12, Luftwaffe thực hiện 1.030 phi vụ và mất 17 máy bay còn Ý mất 3 máy bay.[5] Từ ngày 27 tháng 12 năm 1942 đến 17 tháng 1 năm 1943, Luftwaffe mất 47 máy bay còn Regia Aeronautica mất không rõ.[6] Trong các ngày 18 tháng 1-13 tháng 2, Luftwaffe mất 100 máy bay còn phía Ý mất không rõ.[7] Trong các ngày còn lại của tháng 2 cho đến 28 tháng 3, Đức mất 136 máy bay còn Regia Aeronautica mất 22 máy bay.[8] Trong các ngày 29 tháng 3-21 tháng 4, Luftwaffe mất 270 máy bay đồng thời 46 "máy bay còn hoạt động và hầu hết toàn bộ đội máy bay vận tải còn lại của họ" bị tiêu diệt.[9] Từ ngày 22 tháng 4 cho đến hết chiến dịch, Luftwaffe mất 273 máy bay: 42 máy bay ném bom, 166 máy bay tiêm kích, 52 máy bay vận tải, và 13 chiếc Storch. Người Ý ghi nhận mất 17 máy bay.[10]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Playfair, trang 460
  2. ^ Atkinson, trang 536
  3. ^ a ă Playfair, trang 179
  4. ^ a ă Playfair, trang 186
  5. ^ a ă Playfair, trang 189
  6. ^ a ă Playfair, trang 278
  7. ^ a ă Playfair, trang 284
  8. ^ a ă Playfair, trang 355
  9. ^ a ă Playfair, trang 401
  10. ^ a ă Playfair, trang 460-461
  11. ^ a ă Atkinson, trang 537

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]