Chiến tranh Lapland

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Chiến tranh Lapland
Một phần của Chiến tranh thế giới thứ hai
German withdrawal from Finland 1944 and 1945.jpg
Lược đồ Chiến tranh Lapland
Thời gian 1 tháng 10 năm 1944 - 25 tháng 4 năm 1945
Địa điểm Lapland, Phần Lan
Kết quả Quân Đức bị đánh đuổi khỏi miền Bắc Phần Lan.[1] Miền Bắc Phần Lan bị hủy hoại nghiêm trọng.[2]
Tham chiến
 Đức  Phần Lan

 Liên Xô[a]

Chỉ huy và lãnh đạo
Đức Lothar Rendulic
Đức Matthias Krautler
Đức August Krakau
Phần Lan Hjalmar Siilasvuo
Phần Lan Aaro Pajari
Phần Lan Ruben Lagus
Lực lượng
214,000[Notes 1][8] 75,000[Notes 2][9]
Thương vong và tổn thất
4,300–4,500 chết[8]
2,300 bị thương
1,300 bị bắt
2,872 chết và mất tích [Notes 3][9]
3,000 bị thương

Chiến tranh Lapland (Tiếng Phần Lan: Lapin sota) là một loạt các chiến sự giữa Phần LanĐức Quốc xã từ tháng 9 năm 1944 đến tháng 4 năm 1945, đã chiến đấu ở về phía bắc Phần Lan. Trong khi Phần Lan nhận thấy đây là một cuộc xung đột riêng biệt giống như những cuộc chiến tranh Tiếp tục, các lực lượng Đức được coi là hành động của họ là một phần của Chiến tranh thế giới thứ hai. Một đặc điểm của cuộc chiến là quân đội Phần Lan đã buộc phải giải giáp các lực lượng của họ trong khi tại cùng một thời gian chiến đấu với lực lượng quân đội Đức để lại Phần Lan. Quân Đức đã rút khỏi miền Bắc Phần Lan[1] mà về Na Uy, và Phần Lan quản lý để duy trì lời hứa của nó được thực hiện dưới sự đình chiến Moskva, mặc dù cô vẫn chính thức vẫn có chiến tranh với hai đồng minh quyền hạn đó là Liên Xô và Anh Quốc, một chính phủ lưu vong ở London và lãnh địa thuộc Anh cho đến khi kết luận chính thức của cuộc Chiến tranh Tiếp tục đã được phê duyệt năm 1947 hiệp ước hòa bình Paris.

Cùng với Chiến tranh Mùa đôngChiến tranh Tiếp diễn, đây là một trong ba cuộc chiến tranh của Phần Lan thời Chiến tranh thế giới thứ hai.[10] Trong cuộc chiến, quân Đức đã thực hiện chiến thuật tiêu thổ gây thiệt hại nghiêm trọng cho miền Bắc Phần Lan. Thành phố Lapland bị phá hủy hoàn toàn.[2]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The most of the Germans 214,000 served in the end of August 1944, but the number dropped quickly as Germans withdrew or proceed to Norway.
  2. ^ The most of the Finns 75,000 served in the end of October 1944, but the number dropped to 12,000 men in December 1944.
  3. ^ Finnish detailed death casualties: Dead, buried 1,077; Wounded, died of wounds 4,594; Dead, not buried later declared as dead 48; Missing, declared as dead 27; Died during prisoner of war 155; Other reasons (diseases, accidents, suicides) 930; Unknown 176

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Timothy Ashplant, Graham Dawson, Michael Roper, Commemorating War: The Politics of Memory, trang 149
  2. ^ a ă Lauri Hannikainen, Raija Hanski, Allan Rosas, Implementing Humanitarian Law Applicable in Armed Conflicts: The Case of Finland, các trang 51-52.
  3. ^ Gebhardt 1989, tr. 2–4.
  4. ^ Ziemke 2002, tr. 391–401.
  5. ^ Jowett & Snodgrass 2012, tr. 16.
  6. ^ Zabecki 2015, tr. 1552.
  7. ^ Jaques 2007, tr. 792.
  8. ^ a ă Elfvengren, Eero (2005). “Lapin sota ja sen tuhot”. Trong Leskinen, Jari; Juutilainen, Antti. Jatkosodan pikkujättiläinen (bằng tiếng Phần Lan) (ấn bản 1). Werner Söderström Osakeyhtiö. tr. 1124–1149. ISBN 951-0-28690-7. 
  9. ^ a ă Kurenmaa, Pekka; Lentilä, Riitta (2005). “Sodan tappiot”. Trong Leskinen, Jari; Juutilainen, Antti. Jatkosodan pikkujättiläinen (bằng tiếng Phần Lan) (ấn bản 1). Werner Söderström Osakeyhtiö. tr. 1150–1162. ISBN 951-0-28690-7. 
  10. ^ Lauri Hannikainen, Raija Hanski, Allan Rosas, Implementing Humanitarian Law Applicable in Armed Conflicts: The Case of Finland, trang 41


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “lower-alpha”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="lower-alpha"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu