Chiến tranh Nha phiến lần thứ Hai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chiến tranh nha phiến lần hai
Một phần của Chiến tranh nha phiến
La bataille de Palikiao.jpg
Cầu Bát Lý, đêm diễn ra trận đánh, tranh vẽ bởi Émile Bayard
.
Thời gian 1856–1860
Địa điểm Trung Quốc
Kết quả Anh-Pháp chiến thắng
Thay đổi lãnh thổ Nam Kowloon nhượng cho Anh quốc
Tham chiến
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Đế quốc Anh

Pháp Đệ nhị Cộng hòa Pháp


 United States (Chỉ các trận Pearl River FortsSecond Battle of Taku Forts)

Flag of China (1889–1912).svg Nhà Thanh
Chỉ huy
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Michael Seymour
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland James Bruce
Pháp Jean-Baptiste Gros
Pháp Auguste Protet

US Naval Jack 31 stars.svg Andrew Hull Foote
US Naval Jack 31 stars.svg James Armstrong
Hoa Kỳ Josiah Tattnall

Flag of China (1889–1912).svg Hàm Phong
Flag of China (1889–1912).svg Dịch Hân
Flag of China (1889–1912).svg Diệp Danh Thâm
Flag of China (1889–1912).svg Tăng Cách Lâm Thấm
Lực lượng
16.700–50.000 bộ binh[cần dẫn nguồn]
173 tàu
200.000 Mãn Châu, Mông Cổ, Han Bannermen, và quân Lục Doanh Quân
.

Chiến tranh nha phiến lần thứ hai, Chiến tranh Anh-Trung, Chiến tranh Trung Hoa lần thứ hai, Chiến tranh mũi tên, hoặc Viễn chinh Trung Quốc của Anh-Pháp,[1] là một cuộc chiến tranh giữa Đế quốc AnhĐệ nhị Cộng hòa Pháp với nhà Thanh (nay là Trung Quốc) kéo dài từ năm 1856 đến 1860.

Nguồn gốc cuộc chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc chiến tiếp tiếp theo chiến tranh nha phiến lần thứ nhất. Năm 1842, Điều ước Nam Kinh, hiệp ước đầu tiên sau này người Trung Quốc gọi là điều ước bất bình đẳng cấp một khoản bồi thường và đặc quyền ngoại giao với Anh, việc mở năm cảng hiệp ước (treaty port), và nhượng đảo Hồng Kông. Sự thất bại của các điều ước trong việc đáp ứng các mục tiêu của Anh cải thiện thương mại và quan hệ ngoại giao đã dẫn đến chiến tranh nha phiến lần thứ hai (1856-1860)[2]. Ở Trung Quốc, chiến tranh được coi là sự khởi đầu của lịch sử Trung Quốc hiện đại.

Giữa hai cuộc chiến tranh, hành vi xâm lược lặp đi lặp lại chống lại các chủ thể Anh dẫn đến một cuộc viễn chinh Anh năm 1847 đột kích và chiếm giữa bằng một cuộc tập kích các pháo đài của Hổ Môn[3]:501.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Michel Vié, Histoire du Japon des origines a Meiji, PUF, p.99. ISBN 2-13-052893-7
  2. ^ Tsang 2004, p. 29
  3. ^ Porter, Maj Gen Whitworth (1889). History of the Corps of Royal Engineers Vol I. Chatham: The Institution of Royal Engineers.