Chiến tranh Tây Sơn – Chúa Nguyễn (1787–1802)
Bài viết này có nhiều vấn đề. Xin vui lòng giúp cải thiện hoặc thảo luận về những vấn đề này bên trang thảo luận. (Tìm hiểu cách thức và thời điểm xóa những thông báo này)
|
Chiến tranh Tây Sơn – Chúa Nguyễn (1787–1802) là giai đoạn thứ hai của cuộc chiến tranh Tây Sơn – Chúa Nguyễn. Giai đoạn này bắt đầu khi Nguyễn Ánh trở về tái chiếm Gia Định (1787) và dần lớn mạnh trở lại với sự trợ giúp của Xiêm La và các sĩ quan người Pháp. Tuy gọi là "chiến tranh Tây Sơn – Chúa Nguyễn", nhưng do sự cầu viện của Nguyễn Ánh, thực tế cuộc chiến có cả quân đội chính quy nước ngoài là Xiêm La (nay là Thái Lan) và Vạn Tượng (nay là Lào) thực hiện xâm lược vào lãnh thổ vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam.
Cuộc chiến kết thúc khi Nguyễn Ánh đánh bại hoàn toàn lực lượng của nhà Tây Sơn năm 1802 để trở thành vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn là Hoàng đế Gia Long. Tuy nhiên, hậu quả xấu đã xảy ra với lãnh thổ Việt Nam là việc Nguyễn Ánh đã cắt Trấn Ninh, Trấn Biên, Trấn Định, Trấn Tĩnh (rộng khoảng 50.000 km2) cho nước Vạn Tượng để đền đáp việc nước này giúp đánh nhà Tây Sơn, khiến lãnh thổ miền Bắc Trung Bộ bị thu hẹp lại một nửa. Ngoài ra, Hiệp ước Versailles 1787 mà đại diện của Nguyễn Ánh ký với Pháp với những điều khoản hứa cắt lãnh thổ đã trở thành di họa lâu dài, khi nửa thế kỷ sau Pháp lấy cớ hiệp ước này để xâm lược Việt Nam.
Hoàn cảnh
[sửa | sửa mã nguồn]Tình hình chính trị, xã hội trong nước vào đầu triều Tây Sơn (năm 1785) mới được ổn định hoàn toàn từ Đàng Trong ra tới Đàng Ngoài, tức là từ Trung Việt trở ra Bắc Việt. Còn miền Nam Việt bấy giờ thuộc Đông Định Vương Nguyễn Lữ nhưng đang có chiến tranh với quân chúa Nguyễn (Nguyễn Ánh) nên Việt Nam vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn. Riêng về đất đai thuộc ảnh hưởng của Nguyễn Huệ vào năm 1785 (khi đó chưa lên ngôi hoàng đế) thì thực tế chỉ từ Thuận Hóa ra Bắc.[3]
Nguyễn Ánh thần phục Xiêm La để được hỗ trợ
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1784, Nguyễn Ánh nhận mình là chư hầu của Xiêm La để cầu viện nước này đem quân đánh vào Nam bộ. Sau thất bại trong Trận Rạch Gầm – Xoài Mút, vua Xiêm cho Nguyễn Ánh và tùy tùng định cư tại phía nam huyện Tonsamrong (ngoại thành Bangkok), và trợ cấp sinh hoạt phí. Sau này vua Xiêm tỏ ý với Nguyễn Ánh rằng quân Xiêm muốn xuất chinh đánh Gia Định lần nữa. Nguyễn Văn Thành khuyên Nguyễn Ánh đừng nhờ quân ngoại bang đánh giúp nữa, kẻo về sau có họa: "...Ta nuôi sức mạnh mà thừa chỗ sơ hở thì việc còn có thể làm được, chứ nếu mượn người ngoài giúp, đưa Di Ðịch vào trong tâm phúc thì sợ để lo về sau". Nguyễn Ánh bèn thôi[4]
Tháng giêng năm 1787, theo sự vận động của giám mục Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc), Nguyễn Ánh được người Bồ Ðào Nha ở Goa (Ấn Ðộ) liên lạc hứa giúp một số chiến thuyền. Triều đình Xiêm bất bình, vì việc tự ý liên lạc với nước ngoài là vi phạm giao kết của một chư hầu là "tất cả các liên hệ với bên ngoài đều do Xiêm La chủ trì". Nguyễn Ánh nói dối là không có chuyện đó. Nhận thấy triều đình Xiêm không còn tin tưởng, Nguyễn Ánh bắt trói 3 thị vệ nước Xiêm, rồi lên thuyền trốn khỏi Xiêm. Vua Xiêm nghe tin vô cùng tức giận, ra lệnh cho hoàng thái đệ chỉ huy một đội thuyền đuổi theo, nhưng không kịp. Vua Xiêm đọc lá thư Nguyễn Ánh để lại, nội dung tỏ ý thần phục:
- "...Tôi nguyện là một thần tử của bệ hạ cho đến ngày cuối cuộc đời. Khi phải rời bệ hạ trong giờ phút này, tôi chỉ cốt tìm cách tuyển mộ người để khôi phục lại đất nước. Nếu như thiếu khí giới, hay lực lượng kém địch quá xa, tôi sẽ gửi thư đến bệ hạ để xin bệ hạ giúp cho súng đạn, và cho một đạo quân đến giúp cho đến khi tôi toàn thắng. Khi khôi phục được giang sơn, từ đó về sau tôi sẽ xin làm phiên thuộc của hoàng thượng"
Vua Xiêm đọc thư xong thì không muốn truy đuổi nữa. Khi nghe tin Nguyễn Ánh đang trú ngụ tại đảo Kut, vua Xiêm hai lần ra lệnh cho vài chiếc thuyền mang theo súng ống, đạn dược tới đảo Kut tặng cho Nguyễn Ánh.[5]
Nhờ sự trợ giúp vũ khí của Xiêm La, trong mùa thu năm 1787, lực lượng Nguyễn Ánh dần lớn mạnh. Khi nghe tin Nguyễn Ánh trở về, thuộc hạ là cai cơ Trung (là cậu của Châu Văn Tiếp) đến trợ giúp. Nhưng lập tức ông bị Nguyễn Ánh giết, cắt đầu gửi về Bangkok[6] (khi Nguyễn Ánh lưu vong, cai cơ Trung phải đi làm cướp biển, Nguyễn Ánh sợ Xiêm La tức giận nên chấp nhận thí mạng bề tôi trung thành để lập công với Xiêm).
Cũng nhờ vũ khí người Xiêm giúp, Nguyễn Ánh cũng thu nạp được một số hải tặc Trung Hoa lưu lạc sang vùng Ðông Nam Á và nhiều sứ quân đang cát cứ một vùng như Nguyễn Văn Trương ở Long Xuyên, Nguyễn Văn Nghĩa ở Trà Ôn, Nguyễn Kế Nhuận ở Hổ Châu... Ngoài ra còn nhiều nhóm thuộc tổ chức Thiên địa hội và cả các thổ phỉ, các nhóm người Miên, người Mọi... mà sử nhà Nguyễn gọi chung là "nghĩa quân".
Từ năm 1788 đến năm 1797, Nguyễn Ánh 6 lần đưa cây vàng bạc sang triều cống Xiêm La, năm 1801 triều cống lần thứ 7, nhằm thể hiện mình tiếp tục là chư hầu của nước Xiêm. Tháng 5 năm 1789, Xiêm La bị mất mùa, Nguyễn Ánh gửi tặng cho Xiêm 8.800 phương gạo, tương đương với 200 xe[7]
Đáp lại, vua Xiêm tiếp tục ban tặng cho quân Nguyễn Ánh nhiều tàu thuyền, vũ khí, và các loại sắt thép, thiếc, đá lửa, gỗ... Nguyễn Ánh tiếp tục dựa vào sự giúp đỡ của Xiêm La, cả về binh lực và khí giới. Sử Xiêm La (Thái Lan) chép:
- "Theo sử ta, vua Phra Phutthayotfa Chulalok đã nhiều lần ban chiến thuyền, súng ống, thuốc súng và đạn dược mỗi khi Ong Chiang Sue (Nguyễn Ánh) gửi thư cầu viện... Rồi (Nguyễn Ánh) dâng cống vật, vàng bạc, cây vàng bạc, xin làm phiên thuộc của ta, đúng như điều đã hứa trong thư từ biệt trước kia" .[8]
Sau này Nguyễn Ánh đánh lên Huế và Bắc bộ, vua Xiêm La cũng xuất binh và ra lệnh cho chư hầu Cao Miên (nay là Campuchia) đem quân sang giúp Nguyễn Ánh đánh nhà Tây Sơn[9]
Sự hỗ trợ của sĩ quan Pháp cho Nguyễn Ánh
[sửa | sửa mã nguồn]
Kể từ năm 1787, với sự giúp đỡ mạnh mẽ hơn của người Pháp thông qua giám mục Pigneau de Béhaine (tức Bá Đa Lộc), Nguyễn Ánh quay trở lại Gia Định. Trước đó, ngày 25 tháng 1 năm 1787, Bá Đa Lộc (giáo sĩ người Pháp làm cố vấn cho Nguyễn Ánh) đã thay mặt Nguyễn Ánh ký Hiệp ước Versailles (1787) với Pháp. Theo đó, vua Pháp đồng ý cử sang 4 chiếc tàu chiến và một đạo binh: 1.200 lục quân, 200 pháo binh, 250 lính da đen ở Phi châu (Cafres) và đủ các thứ súng ống thuốc đạn để đánh Tây Sơn. Ngược lại, sau khi chiến thắng, Nguyễn Ánh phải cắt lãnh thổ cho nước Pháp: cửa Hội (Faifo) và đảo Côn Lôn (Poulo-Condore), chủ quyền các vùng đất đó sẽ vĩnh viễn thuộc về nước Pháp ngay lúc quân đội Pháp chiếm đóng. Đúng lúc đó thì nước Pháp xảy ra Cách mạng, vua Pháp không thực hiện Hiệp ước nhưng Bá Đa Lộc đã kêu gọi các thương nhân người Pháp trợ giúp cho Nguyễn Ánh.[10]

Dựa theo các nguồn tư liệu của Pháp, nhiều nhất có chưa tới 100 người Pháp tại Nam Kỳ trước năm 1792, và chỉ có ít người ở lại sau thời điểm đó – có lẽ khoảng 12 sĩ quan và một vài người lính. Trong thời khoảng từ 1799 đến 1802, khi mà sự giao tranh mãnh liệt nhất đã xảy ra trước khi có sự chinh phục Việt Nam của Nguyễn Ánh, chỉ có bốn sĩ quan hải quân là còn có mặt tại Cochinchina (Đàng Trong).[11] Vì thế không thể nói các sĩ quan Pháp đã làm thay đổi nhiều diễn biến cuộc chiến. Tuy nhiên, họ đã huấn luyện quân đội của Nguyễn Ánh về các kỹ thuật mới và đã chia sẻ các kỹ thuật chiến đấu, giúp cho quân lính và thủy thủ của Nguyễn Ánh cân bằng được ưu thế với quân đội Tây Sơn.
Các hoạt động quyên góp tiền sau này hay xây dựng, sửa sang thành Gia Định, Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên, Biên Hòa, Bà Rịa, huấn luyện cơ đội pháo thủ, tổ chức bộ binh và rèn luyện tập binh lính theo lối châu Âu, mua tàu chiến và vũ khí... đều có sự góp sức của những người Pháp mà do Bá Đa Lộc chiêu mộ, kêu gọi.[10] Việc củng cố Gia Định cộng thêm sự giúp đỡ của người Pháp đã giúp cho thế lực của Nguyễn Ánh ngày càng mạnh, có thể đối đầu với Tây Sơn.
Nhà nghiên cứu Maybon, trong cuốn sách "La Relation Bissachère và Histoire moderne du pays d'Annam", in năm 1920 tổng kết công trạng của những người Pháp do Bá Đa Lộc chiêu mộ trong việc trợ giúp Nguyễn Ánh chống Tây Sơn như sau:
- "Vai trò của nhóm người can đảm đếm trên đầu ngón tay này, trong sự thiếu vắng thông tin mong đợi, không thể xác định được một cách chi tiết. Nhưng không thể chối cãi được rằng họ đã góp phần lớn lao vào chiến thắng của Nguyễn Ánh. Ấy là chưa kể đến phần của họ trong những trận đánh quan trọng như trận tiêu diệt hạm đội của Tây Sơn năm 1792 và những trận dẫn đến chiến thắng Huế năm 1801. Người ta không khỏi khâm phục công trình tạo mà họ đã thực hiện trong những điều kiện không mấy thuận lợi: họ đã xây dựng một nền hải quân theo lối Tây phương và thành lập đội ngũ thủy binh; họ đã huấn luyện quân đội, họ đã đưa kỷ luật vào quân đội, thành lập những cấp chỉ huy; họ đã đúc đại bác, dạy cho người An Nam cách dùng trái phá, họ đã tạo ra đội ngũ pháo binh lưu động mà sự di chuyển đã khiến quân Tây Sơn khiếp vía; họ đã xây dựng những thành đài"
Quân chúa Nguyễn tái chiếm Gia Định
[sửa | sửa mã nguồn]Vì tranh giành quyền nên anh em Nguyễn Huệ - Nguyễn Nhạc đã không có điều kiện kiểm soát đến các xứ thuộc Đàng Trong nhất là từ Quy Nhơn (Bình Định) trở vào, lợi dụng thời cơ đó, Nguyễn Ánh đã cùng với các bộ tướng cũ, tháng 9 năm Đinh Mùi (1787) trở về nước. Chúa Nguyễn có nhiều tướng giỏi đến phò như Võ Tánh,[12] nên chẳng mấy chốc lực lượng Nguyễn Ánh đã lớn mạnh.[cần dẫn nguồn]
Tháng 7 năm 1787, quân Nguyễn đánh vào Long Xuyên có kết quả. Nguyễn Ánh mạo một bức thơ để Nguyễn Lữ hiểu lầm thái độ của viên Trấn thủ Sài Côn là Phạm Văn Tham, lợi dụng sự nghi ngờ của tướng Tây Sơn, Nguyễn Vương chiếm Sa Đéc, Vĩnh Long rồi đóng quân ở Mỹ Tho dùng nơi này làm căn cứ.[13]
Ngày 7- 9-1788 quân Nguyễn đánh được Gia Định đuổi được tướng Phạm Văn Tham đang giữ thành này. Từ giờ này trở về sau thành Gia Định nằm dưới sự kiểm soát của họ Nguyễn.[13]
Tháng 9-1788, các tàu Dryade, Garonne, Đại úy Cook và Moyse mang nhiều vũ khí đến Sài Côn và một số sĩ quan Pháp là: Olivier, Dayot, Vannier, Laurent André Barisy, De Forsans phần nhiều sở trường về hải quân và tổ chức các ngành quân đội theo lối Âu châu. Từ giai đoạn này quân Gia Định của chúa Nguyễn mỗi ngày một mạnh bởi được cải tổ theo Tây phương về chiến thuật cũng như về chiến lược.
Năm 1789, khi nghe tin quân Thanh giúp Lê Chiêu Thống sang đánh Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã sai Phạm Văn Trọng và Lâm Đồ mang thư và chở 50 vạn cân gạo ra bắc để giúp quân Thanh, nhưng thuyền đi giữa đường bị đắm hết.[14]
Năm Canh tuất (1790) quân Nguyễn chiếm lại Bình Thuận. Tháng 3 năm Quý Sửu (1793) Nguyễn Phúc Cảnh được lập làm Đông Cung lãnh chức coi Tả quân.
Nguyễn Ánh cai quản Gia Định
[sửa | sửa mã nguồn]

Chúa Nguyễn Ánh thi hành cai trị nghiêm khắc ở Gia Định. Việc cờ bạc, đàng điếm, mê tín nhảm nhí đều cấm ngặt. Các ngạch thuế khóa được đặt ra để lấy ngân sách duy trì quân đội và việc khẩn hoang, trồng trọt được thúc đẩy mạnh. Mười hai Điền Tuấn quan trong đó có Trịnh Hoài Đức, Ngô Tùng Châu, Lê Quang Định được cử ra để quản lý dân làm ăn cầy cấy. Quân Nguyễn cấp trâu bò và nông cụ cho ai quá nghèo rồi các thứ này được trả bằng thóc vào ngày mùa. Chúa Nguyễn còn tổ chức các đồn điền ở những vùng cao nguyên. Khai khẩn ở đây là những đội gồm quân lính và dân chúng gọi là đồn điền đội, mỗi người phải nộp đồng niên 6 hộc thóc. Dân mộ được 10 người trở lên đi làm đồn điền tì́ cho làm cai trại và miễn sưu dịch. Người ngoại quốc ra vào buôn bán tấp nập. Bấy giờ Nguyễn Vương chú ý rất nhiều đến việc mua các đồ đồng, sắt, gang, thép để làm quân khí và trả bằng ngũ cốc cùng đường cát.[15]
Để có chi phí cho các hoạt động quân sự chống lại nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh áp mức thuế và lao dịch rất nặng lên người dân. Theo ý kiến của một nhà nghiên cứu phương Tây hiện đại là Georges Dutton, người dân vùng Gia Định dưới sự cai trị của Nguyễn Ánh trong thời kỳ này phải chịu mức thuế khóa và lao dịch rất nặng, khiến họ trở nên chán ghét Nguyễn Ánh[16]
- "...Những người dân đang sống dưới quyền kiểm soát chính trị của chính thế lực nhà Nguyễn ở sâu trong miền nam... mong đợi được giải thoát khỏi họ. Đến cả Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc), ủng hộ viên người Âu nhiệt tình nhất của Nguyễn Ánh, vào năm 1791, cũng đề cập đến điều này, khi ông viết về tình cảnh ngày càng không chịu đựng nổi của những người dân Việt sống trong vùng nhà Nguyễn kiểm soát."
- "... sau đó (khi họ Nguyễn lại kiểm soát Nam Bộ), hoàn cảnh sống của người dân dưới chính thể nhà Nguyễn vẫn chẳng hề được cải thiện; điều này được mô tả trong thư của một nhà truyền giáo người Pháp khác, rằng "hai năm vừa qua, mọi người đều phải đi làm việc công ích, và [người ta] không bận tâm với bất kì điều gì khác ngoài việc tìm cách để sống sót, đau khổ đã trở nên đến cực điểm"."
Trong thư gửi cho M. Létondal ngày 14/9/1791, giám mục Bá Đa Lộc viết:
- "... Ông ta (Nguyễn Ánh) bắt dân đóng thuế và làm dịch vụ nặng nề, và lúc này, dân chúng bị nạn đói đe dọa nên họ có vẻ mong quân Tây Sơn đến. Trong tình trạng hiện thời, nếu chúng (Tây Sơn) quả quyết đến tấn công, thì nhà vua khó có thể đương đầu lại được..." [17]
Các chiến dịch theo mùa của cả hai phe
[sửa | sửa mã nguồn]Được Gia Định làm căn cứ có đủ thóc gạo nuôi quân, ngay năm sau là tháng 4 năm Canh Tuất (1790) Nguyễn Ánh cho Lê Văn Quân là Chưởng Tiền đem 5.000 quân thủy bộ ra đánh thành Bình Thuận. Võ Tánh và Nguyễn Văn Thành về Gia Định. Lê Văn Quân ở lại giữ Phan Rí nhưng bị quân Tây Sơn vây đánh phải về lại Gia Định. Sau việc thất bại này Quân lấy làm xấu hổ nên uống thuốc độc mà chết.[18]
Những việc xuất quân của Gia Định trên đây xét ra không lợi. Bấy giờ là tháng 7, gió Bắc thổi mạnh phải đợi gió Nam thủy quân mới đi đánh nhau được. Tuy vậy, năm 1792, quân Nguyễn Ánh vẫn đánh và phá hủy nhiều tàu chiến của Tây Sơn ở biển Thị Nại.[19]
Sau khi chiến thắng quân Thanh, vua Quang Trung chuẩn bị phối hợp với Nguyễn Nhạc đem quân vào Nam đánh Gia Định nhằm triệt để đánh bại thế lực của Nguyễn Ánh, thu phục miền Nam bộ và thống nhất đất nước. Quang Trung dự định phát động chiến dịch rất lớn, huy động hơn 20[20]-30 vạn[21] quân thủy bộ, chia làm ba đường. Chính các giáo sĩ Pháp giúp Nguyễn Ánh lúc đó cũng rất lo lắng và dự liệu Nguyễn Ánh khó lòng chống lại được Tây Sơn trận này. Trong thư gửi cho M. Létondal ngày 14/9/1791, giám mục Bá Đa Lộc viết:
- "... Nhà vua đã không biết lợi dụng cơ hội mà ông ta có được để đánh bại kẻ thù, mà lại để chúng có thì giờ hoàn hồn và chúng thấy rõ tất cả những đồn đại về việc người Âu đến giúp chỉ là chuyện hão. Ông ta (Nguyễn Ánh) bắt dân đóng thuế và làm dịch vụ nặng nề, và lúc này, dân chúng bị nạn đói đe dọa nên họ có vẻ mong quân Tây Sơn đến. Trong tình trạng hiện thời, nếu chúng quả quyết đến tấn công, thì nhà vua khó có thể đương đầu lại được... Tôi rất sợ không đi kịp trước khi tai họa xảy ra cho nhà vua, nếu có sự ấy".[17]
Tuy nhiên năm Nhâm Tý (1792) vua Quang Trung đột ngột qua đời, con là Quang Toản lên ngôi mới 10 tuổi, vì thế Vương nghiệp triều Tây Sơn nhanh chóng rơi vào suy vong. Quang Toản lên ngôi vua, dùng cậu là Bùi Đắc Tuyên làm thái sư giám quốc trông coi mọi việc trong ngoài. Vì Quang Toản còn nhỏ quá, Bùi Đắc Tuyên ngày càng chuyên quyền nên trong ngoài đều oán, đại thần trong triều ngoài trấn nghi kỵ lẫn nhau. Nguyễn Ánh còn dò biết được mâu thuẫn giữ Nguyễn Nhạc và Quang Toản nên rất quyết tâm đánh Tây Sơn.[22]
Được tin vua Quang Trung băng hà, Nguyễn Ánh rất vui mừng và đẩy mạnh việc chuẩn bị đánh Tây Sơn. Dưới trướng Nguyễn Vương lúc bấy giờ có nhiều sĩ quan người nước ngoài (chủ yếu là Pháp) như Dayot (Ông Trí), Philippe Vannier (Ông Chấn), Guilloux, Laurent Barisy (Ông Mân), De Forcant (Ông Lăng), Jean Baptiste Chaigneau, Olivier de Puymanel (Ông Tín), Theodore Lebuen. Những quan chức nầy là những cố vấn kỹ thuật cho Nguyễn Vương trong lãnh vực quân sự, vũ khí, đắp thành, v.v...
Năm Nhâm tý (1792) chúa Nguyễn tự thân đi đánh Quy Nhơn nhưng cũng không thành công. Từ đấy hằng năm cứ đến mùa gió nồm, Nguyễn Phúc Ánh cho quân tiến ra đánh các tỉnh miền Trung, khi gió bấc nổi lên ông lại rút quân về Gia Định. Dân chúng vùng Thuận - Quảng (miền Trung ngày nay), sau nhiều năm mệt mỏi bởi chiến sự liên tục, nay lại thấy vua Quang Trung mất đột ngột, nhà Tây Sơn bị lục đục nội bộ nên cũng mâu thuẫn trong việc nên ủng hộ Nguyễn Ánh hay Tây Sơn. Một số quay sang ủng hộ Nguyễn Ánh, trong dân gian lưu truyền một câu ca dao lục bát: "Lạy trời cho cả gió nồm,/Để cho chúa Nguyễn kéo buồm thẳng ra".[23] Số khác thì vẫn ủng hộ nhà Tây Sơn, thể hiện qua câu ca dao: "Lạy trời cho cả gió lên,/Cho cờ vua Định phất trên kinh thành" (Định ở đây là Bình Định, nơi phát tích nhà Tây Sơn, và kinh thành ở đây là Phú Xuân - Huế). Việc tồn tại 2 câu ca dao trái ngược nhau cho thấy lòng dân khi đó khá mâu thuẫn về việc nên ủng hộ bên nào[24]

Chiến dịch gió mùa đầu tiên, trong năm 1792, hải quân của Tây Sơn tại Thị Nại, hải cảng ở Quy Nhơn gần như bị tiêu diệt. Tại đó người anh của Hoàng Đế, Nguyễn Nhạc, đã thả neo một hạm đội các chiến thuyền vừa mới xây dựng xong để chuẩn bị cho một cuộc đánh xuống miền nam. Khi tin tức về chiến dịch đến tai Nguyễn Ánh, ông đã phát động một cuộc viễn chinh của chính mình dưới sự chỉ huy của hai người Pháp. Với chiều gió thuận lợi cho nó, lực lượng này đã mau chóng tiến tới cửa Thị Nại, nhận thấy các chiến thuyền Tây Sơn đậu kín tại hải cảng, và đã tiến vào bến tàu, nơi binh sĩ tức thì đổ bộ và chiếm giữ các đồn lũy. Viên tướng Tây Sơn và lực lượng của ông ta đã bỏ chạy, để lại đằng sau các chiến thuyền và vũ khí của mình. Trong số các thuyền tham dự trận đánh này có 40 chiếc thuyền hải tặc được tuyển mộ bởi Hoàng Đế Quang Trung. Ba trong số các thuyền này bị bắt giữ bởi phe chúa Nguyễn, cùng với 75 chiến thuyền khác từ hạm đội mới của Nguyễn Nhạc.[25]
Chiến thuật này đã nhanh chóng làm suy yếu Tây Sơn bởi đánh vào các điểm yếu của đội quân này là hậu cần, khả năng tác chiến trên toàn lãnh thổ Việt Nam, duy trì mạng lưới thủy quân dọc theo duyên hải miền trung và điều phối giữ quân thủy bộ, cuối cùng dẫn đến trận Thị Nại 1801 làm thay đổi tương quan lực lượng hai bên có lợi cho Nguyễn Ánh.[26]
Sự biến Phú Xuân
[sửa | sửa mã nguồn]
Chiến sự ở Quy Nhơn
[sửa | sửa mã nguồn]
Trong tháng Bảy, các lực lượng phe chúa Nguyễn, sau khi giành được lối tiếp cận với tòa thành, trận hạ thành Quy Nhơn đã chinh phục được thành Hoàng Đế và phủ Quy Nhơn, nơi họ đặt tên lại là Bình Định. Họ ở lại đó cho đến tháng 11 năm 1799, khi mà sự từ trần của vị cố vấn quân sự từ lâu của Nguyễn Phúc Ánh, đức giám mục Adran, Pigneau de Behaine, đã buộc họ phải gửi lực lượng chủ yếu về lại miền nam. Một hạm đội dưới quyền Tổng Binh Võ Tánh đã được lưu lại phòng vệ hải cảng ở đó, cửa Thị Nại, để chống lại hải tặc Tây Sơn.
Bình Định ở vị trí lẻ loi khó tiếp viện, nên mùa thu năm đó quân Tây Sơn vây thành và chận đường tiếp viện phía nam. Nhờ Võ Tánh giỏi cố thủ nên thành không bị mất. Năm Canh Thân (1800) chúa Nguyễn tự thân đi cứu viện đánh nhau nhiều phen với quân Tây Sơn nhưng không giải được vây.
Nguyễn Ánh cầu viện Xiêm La và Vạn Tượng xâm chiếm Bắc Trung Bộ
[sửa | sửa mã nguồn]Lúc này Nguyễn Ánh có kế hoạch đánh lên Huế và Bắc bộ, nên cử người sang cầu viện vua Xiêm La. Vua Xiêm đồng ý xuất binh và ra lệnh cho chư hầu Cao Miên (nay là Campuchia) đem quân sang giúp Nguyễn Ánh đánh nhà Tây Sơn[9]
Sử nhà Nguyễn (Đại Nam thực lục) chép ngắn gọn sự kiện Xiêm La và Vạn Tượng xâm chiếm Bắc Trung Bộ năm 1802 như sau[27]:
| “ | Nước Xiêm La sai tướng là Ốc Nha Trà Tri đem 5.000 quân theo đường thượng đạo hợp với quân Vạn Tượng đánh phá quân giặc ở Nghệ An tại Sa Nam (tên đất – nay là Nam Đàn, Nghệ An) và sai sứ đến dâng tin thắng trận. Vua (Nguyễn Ánh) sai phục thư khen ngợi. | ” |
Lần cầu viện Xiêm La - Vạn Tượng này của Nguyễn Ánh đã để lại hậu quả lâu dài về lãnh thổ cho Việt Nam. Chỉ ít lâu sau, Nguyễn Ánh đã đồng ý cắt Trấn Ninh, Trấn Biên, Trấn Định, Trấn Tĩnh (rộng khoảng 50.000 km2) cho nước Vạn Tượng để đền đáp việc nước này giúp đánh nhà Tây Sơn, khiến lãnh thổ miền Bắc Trung Bộ Việt Nam bị thu hẹp lại một nửa.
Chúa Nguyễn chiếm Phú Xuân và xưng Đế
[sửa | sửa mã nguồn]
Từ năm 1800, chiến trận đã từ từ trở nên bất lợi cho phía Tây Sơn. Lần đầu tiên Nguyễn Phúc Ánh, thay vì trở về miền nam, đã ở lại Quy Nhơn, khi đó đang dưới sự bao vây. Sau gần một năm không có các kết quả quyết định, ông ta lựa chọn việc chuyển hướng tấn công vào Phú Xuân.
Từ ngày giữ chức Đại nguyên soái đến lúc này trải qua 25 năm, Nguyễn Ánh được 40 tuổi. Đến tháng 4 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Phúc Ánh cho sửa chữa Hoàng Thành, qua ngày mồng một tháng 5 cho lập đàn ở xã An ninh (nay là Kim Long, Hương Trà, Thừa Thiên) hiệp tế trời đất về việc đặt niên hiệu, hôm sau ngày mồng hai tháng 5 (1.6.1802) vua ngự ở điện nhận lễ triều hạ, đặt niên hiệu Gia Long, ban lệnh đại xá khắp nước. Sau đó cho dựng Thái Miếu ở bên trái Hoàng Thành. Ông sai Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh đem phẩm vật và những ấn sách của nhà Thanh đã phong cho Tây Sơn, sang nạp cho Thiên Triều và xin cho mình làm An Nam Quốc Vương thay thế Tây Sơn.
Đoàn sứ thần của vua Gia Long đi trên 2 thuyền Bạch Yến và Hoàng Hạc vượt biển tới cửa Hổ Môn thuộc Quảng Đông đem theo cả hải tặc phục vụ Tây Sơn để nộp. Tổng đốc nhà Thanh là Ái Tân Cát Khánh đem việc này chuyển lên Gia Khánh. Gia Khánh vốn ghét Tây Sơn đã chiêu nạp bọn Mạc Quan Phù cho cướp bóc, đã lâu ngăn trở ở ngoài biển, nay được tin báo nên rất vui lòng, khoản đãi sứ thần rất hậu và đưa các tướng lãnh hải tặc Tây Sơn ra giết hết.[28]
Vua Tây Sơn chạy ra Bắc
[sửa | sửa mã nguồn]Sau khi Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân vào năm 1801 thì vua tôi Tây Sơn chạy ra Băc Hà. Đầu năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long. Đến khoảng vào mùa thu năm 1802 Nguyễn Ánh cho quân đánh thẳng ra Thăng Long, bắt sống vua Quang Toản ở Xương Giang.
Chiến sự ở Trấn Ninh
[sửa | sửa mã nguồn]Trận chiến tại Kỳ Sơn
[sửa | sửa mã nguồn]Những trận đánh cuối cùng
[sửa | sửa mã nguồn]Nhà Tây Sơn tới đây là dứt. Quang Toản lên ngôi vua nǎm 1793, đến nǎm 1802 thì bị giết ở tuổi 20, ở ngôi được 9 nǎm. Như vậy triều Tây Sơn kể từ vua Thái Đức Nguyễn Nhạc đến hết Cảnh Thịnh tồn tại được 24 nǎm (1778 – 1802).
Đến tháng 6 cùng năm thì vua Gia Long đã thống nhất được sơn hà, chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài gần 300 năm.[2] Trận đánh cuối cùng của vua Gia Long và tàn quân Tây Sơn là tại đảo Giang Bình thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc tháng 7/1802. Quân chúa Nguyễn đã chém đầu Đại Tư Mã Trịnh Thất – một hải tặc Trung Hoa trong hàng ngũ Tây Sơn-và kết thúc hoàn toàn cuộc nội chiến đã kéo dài suốt gần 30 năm.
Tháng Giêng năm Giáp tý (1804), Gia Long làm lễ nhận tuyên phong của nhà Thanh, qua tháng 2 đổi quốc hiệu là Việt Nam và mãi đến năm Bính Dần (1806) vua Gia Long mới chính thức làm lễ lên ngôi Hoàng Đế ở điện Thái Hòa.
Gia Long cắt một phần lãnh thổ Việt Nam cho Lào
[sửa | sửa mã nguồn]
Thời nhà Hậu Lê và nhà Tây Sơn, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh có diện tích lớn gấp đôi hiện nay. Nhưng năm 1802, ngay sau khi lên ngôi, vua Gia Long nhà Nguyễn đã đem đất Trấn Ninh, Trấn Biên, Trấn Định và Trấn Tĩnh cắt cho nước Vạn Tượng (nay là Lào) để đền đáp việc nước này giúp Gia Long đánh nhà Tây Sơn. Sự việc này được chép ngắn gọn trong Đại Nam nhất thống chí:[29]
| “ | Phủ Trấn Biên: ... Từ đời Lê về trước 4 huyện Xa Hổ là thượng du thuộc Nghệ An, 3 huyện Trình Cố là cống man thuộc Thanh Hóa, theo lệ cứ 3 năm cống một lần. Bản triều đầu đời Gia Long (1802) đem đất này cho Vạn Tượng, từ đấy đường cống cắt đứt. | ” |
| “ | Phủ Trấn Định: ... đầu đời Lê đặt làm châu Tịnh Cao thuộc phủ Ngọc Ma, gồm 12 động, theo lệ cứ 3 năm cống một lần. Bản triều đầu đời Gia Long (1802) đem đất này cho Vạn Tượng. | ” |
| “ | Phủ Trấn Tĩnh: ... Năm Quang Thuận thứ 10 đặt châu Quy Hợp thuộc phủ Lâm An gồm 12 động 11 sách thuộc Nghệ An thừa tuyên, đều có man trưởng quản trị và nộp cống... Bản triều đầu đời Gia Long vẫn đem đất này cho Vạn Tượng theo lệ cứ 3 năm một lần dâng cống. | ” |
Khâm định Việt sử Thông giám cương mục viết:[30]
| “ | Trấn Ninh: Đất Bồn Man xưa, hồi đầu triều Lê, họ Cầm nối nhau làm phụ đạo; đến Lê Thánh Tông chia đất này lập ra làm phủ Trấn Ninh, quản lãnh 7 huyện... Bản Triều, năm Gia Long thứ nhất (1802) đem đất ấy phong cho nước Vạn Tượng. | ” |
Như vậy sau hơn 300 năm được Đại Việt tuyên bố chủ quyền dưới thời nhà Hậu Lê và nhà Tây Sơn, các vùng Trấn Biên, Trấn Ninh, Trấn Định, Trấn Tĩnh (rộng khoảng 50.000 km2) đã bị cắt cho Vạn Tượng. Tính đến nay thì đây là vùng lãnh thổ lớn nhất mà Việt Nam bị mất, và đặc biệt hơn nữa là vùng này bị mất không phải do bị xâm chiếm mà là do vua Việt Nam tự ý cắt cho nước ngoài. Những vụ cắt đất này đã khiến cho vùng Bắc Trung Bộ nước Việt Nam bị co lại rất hẹp, gây khó khăn cho quốc phòng, cũng như mất quyền kiểm soát một lưu vực lớn của sông Mê kông chảy qua cao nguyên Lào, khiến cho Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay gặp nhiều bất lợi.
Hoán đổi lực lượng hai bên
[sửa | sửa mã nguồn]- Dương Công Trừng theo chúa Nguyễn, thua trận nên trá hàng quân Tây Sơn năm 1785, rồi lại bị quân Tây Sơn bắt giết cùng năm[31]
- Đào Văn Lương trước theo Tây Sơn, sau hàng chúa Nguyễn năm 1793.
- Đoàn Văn Cát trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn năm 1798, kết cục không rõ.
- Đoàn Trọng Viễn trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn năm 1790.
- Đỗ Nhàn Trập trước theo chúa Nguyễn, sau chủ tướng bị Nguyễn Ánh giết nên bỏ sang Tây Sơn năm 1782?[31]
- Đỗ Văn Nguyệt là tướng dưới trướng của Phạm Văn Điềm, trước theo Tây Sơn rồi phải hàng chúa Nguyễn khi Thành Hoàng Đế thất thủ, sau quay về lại với Tây Sơn.
- Hoàng Công Thành trước theo Tây Sơn, sau hàng chúa Nguyễn năm 1793, ốm chết ở Quy Nhơn năm 1799.
- Hoàng Đăng Lý trước theo Tây Sơn, sau hàng chúa Nguyễn năm 1793.
- Hoàng Văn Trang là tướng dưới trướng của Phạm Văn Điềm, trước theo Tây Sơn rồi phải hàng chúa Nguyễn khi Thành Hoàng Đế thất thủ, sau quay về lại với Tây Sơn.
- Hoàng Tú Chung trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn.
- Hộ bộ Lãnh (hoặc Hộ bộ Bá) trước theo chúa Nguyễn, sau chủ tướng bị Nguyễn Ánh giết nên bỏ sang Tây Sơn năm 1782?, kết cục sau không rõ.[31]
- Lý Tài trước theo Tây Sơn, năm 1775 về hàng chúa Nguyễn, sau bị tướng Đỗ Thanh Nhơn của chúa Nguyễn giết chết năm 1777.
- Lê Danh Phong trước theo Tây Sơn, sau chịu hàng chúa Nguyễn năm 1801?, sau bị Nguyễn Ánh giết[31]
- Lê Chất trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn năm 1799.
- Lê Quốc Cầu trước theo Tây Sơn, rồi theo hàng chúa Nguyễn, về sau lại quay lại với Tây Sơn năm 1801, ông tận lực giúp Nhà Tây Sơn đến lúc mất[31]
- Lê Văn Hoan trước theo Tây Sơn, sau hàng chúa Nguyễn năm 1799.
- Lê Văn Niệm trước theo Tây Sơn, sau hàng chúa Nguyễn năm 1799.
- Lê Văn Thanh trước theo Tây Sơn, sau bị bao vây rồi đầu hàng quân Nguyễn, rồi trốn về lại với Tây Sơn, khi Tây Sơn thua lại ra hàng quân Nguyễn năm 1801.
- Lê Xuân Giác trước theo chúa Nguyễn, khi Nguyễn Ánh cầu viện quân Xiêm thì bỏ theo Tây Sơn, kết cục sau không rõ.[31]
- Ngô Đình Giới trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn năm 1801.
- Ngô Văn Sở trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn, bị buộc tội rồi chết thời Gia Long (đừng nhầm lẫn với Đại tư mã Ngô Văn Sở của Nhà Tây Sơn).
- Ngô Văn Huyền là tướng dưới trướng của Phạm Văn Điềm, trước theo Tây Sơn rồi phải hàng chúa Nguyễn khi Thành Hoàng Đế thất thủ, sau quay về lại với Tây Sơn.
- Ngô Văn Tôn trước theo chúa Nguyễn làm tới chức Trung chi Tiền quân, khi thành Quy Nhơn bị quân Tây Sơn bao vây thì theo hàng Tây Sơn năm 1800-1801, sau bị Nguyễn Ánh xử tử[31]
- Ngô Thế Lân trước làm quan Chúa Nguyễn, sau theo làm quan Nhà Tây Sơn năm 1786.
- Nguyễn Bảo, con trưởng Nguyễn Nhạc, vì muốn tranh giành ngôi vua Cảnh Thịnh nên sang hàng chúa Nguyễn, sau bị quân Cảnh Thịnh giết chết năm 1798.
- Nguyễn Bá Phong trước theo chúa Nguyễn làm tới chức Trưởng chi Hữu chi, khi thành Quy Nhơn bị quân Tây Sơn bao vây thì theo hàng Tây Sơn năm 1800-1801[31]
- Nguyễn Công Thái trước theo Tây Sơn, sau hàng chúa Nguyễn năm 1793, cáo lão hồi hương và chết năm 1806.
- Nguyễn Đăng Vân, con nuôi của Nguyễn Huệ, sau theo chúa Nguyễn, bị Phạm Văn Sâm bắt và hành quyết năm 1788.[31]
- Nguyễn Đức Thiện trước theo Tây Sơn, sau hàng chúa Nguyễn.
- Nguyễn Đức Ngữ, em trai của Nguyễn Đức Xuyên, trước cùng anh trai theo Chúa Nguyễn, sau đầu quân cho Tây Sơn, rồi cuối cùng lại hàng quân Nguyễn
- Nguyễn Huỳnh Đức trước theo chúa Nguyễn, bị bắt theo Tây Sơn năm 1783, sau bỏ trốn về lại với chúa Nguyễn năm 1786.
- Nguyễn Hữu Thận trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn năm 1801.
- Nguyễn Kế Nhuận trước theo Tây Sơn, sau hàng chúa Nguyễn năm 1787.[31]
- Nguyễn Tăng Long trước theo chúa Nguyễn, sau theo Tây Sơn năm 1783.
- Nguyễn Tử Châu trước theo Tây Sơn, sau hàng chúa Nguyễn năm 1800.[31]
- Nguyễn Văn Điểm trước theo Tây Sơn, sang hàng chúa Nguyễn năm 1799, rồi về lại với Tây Sơn năm 1800, ông tận lực giúp Nhà Tây Sơn tới khi diệt vong.[31]
- Nguyễn Văn Phát trước theo Tây Sơn, sau hàng chúa Nguyễn năm 1793, ốm chết ở Quy Nhơn năm 1799.
- Nguyễn Văn Súy là tướng dưới trướng của Phạm Văn Điềm, trước theo Tây Sơn rồi phải hàng chúa Nguyễn khi Thành Hoàng Đế thất thủ, sau quay về lại với Tây Sơn.
- Nguyễn Văn Thiệu trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn năm 1798, kết cục không rõ.
- Nguyễn Văn Toàn trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn năm 1801.
- Nguyễn Văn Trí trước theo Tây Sơn, sau hàng chúa Nguyễn năm 1799.
- Nguyễn Văn Trương trước theo phò Nguyễn Lữ, sau về hàng chúa Nguyễn năm 1787.[31]
- Nguyễn Văn Tứ trước theo Tây Sơn, sau hàng chúa Nguyễn năm 1793.
- Nguyễn Văn Xuân trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn năm 1801.
- Nguyễn Viết Ưng trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn năm 1801.
- Phan Văn Đức trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn, chết năm 1805.
- Phan Văn Thúy trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn năm 1788[31]
- Phạm Văn Điềm theo Tây Sơn, trá hàng quân chúa Nguyễn khi thành Hoàng Đế thất thủ, rồi về lại với Tây Sơn, ông tận lực giúp Nhà Tây Sơn tới lúc diệt vong.
- Po Tisuntiraidapuran (còn gọi là Chưởng cơ Tá, Nguyễn Văn Tá) thuộc dòng dõi hoàng tộc Chăm, trước được chúa Nguyễn phong làm quan Thuận Thành Trấn, sau theo Tây Sơn năm 1782 và được phong làm vua Chăm Pa, bị quân Nguyễn bắt giết năm 1793[32]
- Po Krei Bei (còn gọi là Nguyễn Văn Chiêu) cũng thuộc dòng dõi hoàng tộc Chăm, được vua Thái Đức tấn phong làm vua Chăm Pa năm 1783l vì chiến sự rối ren giữa Tây Sơn và Chúa Nguyễn nên lúc thì theo Tây Sơn, lúc thì theo Nguyễn Ánh; về sau bị Nguyễn Ánh phế truất và lưu vong sang Cao Miên năm 1795-1796[33]
- Trần Hiếu Liêm trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn năm 1779.[31]
- Trần Hữu Thiên trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn năm 1799.
- Trần Tiến Voi trước theo chúa Nguyễn làm tới chức Chánh trưởng chi Hậu chi Hậu quân, khi thành Quy Nhơn bị quân Tây Sơn bao vây thì theo hàng Tây Sơn năm 1800-1801, sau bị Nguyễn Ánh xử tử[31]
- Trần Văn Chạc trước theo chúa Nguyễn, bị bắt theo Tây Sơn, sau bỏ trốn về lại với chúa Nguyễn năm 1799.
- Trần Văn Thái trước theo Tây Sơn, sau hàng chúa Nguyễn năm 1793.
- Trương Thúc Phượng trước theo Tây Sơn, sau hàng chúa Nguyễn năm 1801.
- Trương Công Hy trước làm quan Chúa Nguyễn, sau theo làm quan Nhà Tây Sơn năm 1775.
- Từ Văn Chiêu trước theo Tây Sơn, chạy sang chúa Nguyễn năm 1795, sau về lại Tây Sơn năm 1800, ông tận lực giúp Nhà Tây Sơn tới lúc diệt vong.[34]
- Từ Văn Tú theo phò Nguyễn Văn Bảo nên chịu theo hàng quân Nguyễn, sau bị quân Cảnh Thịnh giết chết cùng Nguyễn Văn Bảo năm 1798.
- Võ Văn Sự trước theo chúa Nguyễn làm tới chức Trưởng chi Trung chi Hậu đồn quân Ngự lâm, khi thành Quy Nhơn bị quân Tây Sơn bao vây thì theo hàng Tây Sơn năm 1800-1801[31]
- Vũ Đình Giai trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn năm 1799, theo Lê Chất giữ Hoa An và tử trận năm 1801.
- Vũ Đình Duyên trước theo Tây Sơn, sau sang hàng chúa Nguyễn năm 1799, chết ở trong quân.
Như vậy trong số quan lại và tướng lĩnh từng theo Tây Sơn rồi quy hàng Chúa Nguyễn, có một số người quay trở lại với Nhà Tây Sơn là Nguyễn Văn Điểm, Từ Văn Chiêu, Phạm Văn Điềm và Lê Quốc Cầu cùng với các thuộc tướng là Đỗ Văn Nguyệt, Ngô Văn Huyền, Nguyễn Văn Súy và Hoàng Văn Trang. Trong đó nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Phạm Văn Điềm trá hàng làm nội gián trong quân Nguyễn để giúp Tây Sơn.
Các tướng tử trận hoặc bị sát hại
[sửa | sửa mã nguồn]Đây là danh sách các tướng lĩnh tử trận hoặc bị sát hại trong cuộc nội chiến Tây Sơn – Chúa Nguyễn từ 1771 đến 1802.
Tây Sơn
[sửa | sửa mã nguồn]- Chưởng tiền Bảo tử trận khi giao chiến với quân Xiêm năm 1784
- Bùi Thị Nhạn hộ giá vua Cảnh Thịnh chạy ra Bắc Hà, bị quân Nguyễn bắt, không chịu nhục bà tự sát năm 1802
- Bùi Thị Xuân tận lực giúp nhà Tây Sơn đến phút cuối, sau khi nhà Tây Sơn sụp đổ, bà bị Nguyễn Ánh xử tử năm 1802
- Đặng Xuân Bảo quyết chí đánh trả Nguyễn Ánh, bị quân Nguyễn bắt, sau tuyệt thực đến chết năm 1801
- Đào Công Giản tận trung với nhà Tây Sơn, bị quân Nguyễn bắt rồi sau bệnh chết năm 1801
- Đào Văn Hổ tử trận khi giao chiến với quân Nguyễn năm 1793?
- Hồ Văn Tự bị bắt khi quân Nguyễn đánh ra quãng ngãi năm 1801?
- Huỳnh Thị Cúc tử trận khi giao chiến với quân Nguyễn năm 1802
- Lê Trung bị vua Cảnh Thịnh sai Mân Ứng Hầu giết năm 1798 vì tội mưu phản. Ông bị chặt đầu, chặt hết tay chân, xác bị đốt thành tro
- Lê Văn Hưng bị vua Cảnh Thịnh nghe lời Thái sư giết hại vì nghi kỵ năm 1798 (tuy nhiên có nguồn thông tin cho biết Lê Văn Hưng thoát chết và sau này tử chiến với quân Nguyễn đến phút cuối, sau bị Nguyễn Ánh xử tử)
- Mạc Quan Phù vốn là hải tặc Trung Hoa theo phò Nguyễn Huệ, bị quân Nguyễn bắt năm 1802 rồi giao cho Nhà Thanh, rồi bị vua Gia Khánh xử tử
- Nguyễn Học tử trận năm 1782
- Nguyễn Văn Điểm bị quân Nguyễn bắt và xử tử trong lễ hiến phù năm 1802
- Nguyễn Hữu Chỉnh được Nguyễn Huệ cho làm trấn thủ Nghệ An, nhưng sau tỏ ý chuyên quyền, bị Vũ Văn Nhậm nghe lệnh Nguyễn Huệ giết chết năm 1787
- Nguyễn Văn Duệ theo Nguyễn Nhạc, Duệ muốn tái chiếm Quảng Nam cho Nguyễn Nhạc nhưng thất bại, sau bị Nguyễn Huệ giết năm 1787
- Nguyễn Văn Danh bị quân Nguyễn bắt và xử tử trong lễ hiến phù năm 1802
- Nguyễn Văn Huấn bị vua Cảnh Thịnh giết năm 1798 vì tội ông bênh vực vụ tư lệ Lê Trung
- Nguyễn Văn Tuyết tận lực giúp nhà Tây Sơn đến phút cuối, Ông là bề tôi yêu của nhà tây sơn giữ chức vụ trấn thủ Hải Dương. Năm 1802 ông bị quân Nguyễn bắt ở Quảng Ninh vua Gia Long cho rằng ông là tướng vô danh nên thả ông không giết hại
- Nguyễn Thị Dung ở lại cản quân Nguyễn để vua Cảnh Thịnh chạy trốn, bị quân Nguyễn bắt, không chịu nhục bà tự sát năm 1802. Bà là em ruột của Đại Đô Đốc Nguyễn Văn Xuân
- Nguyễn Quang Thùy con vua Quang Trung, bị quân Nguyễn vây đuổi, thắt cổ tự vẫn năm 1802
- Ngô Văn Sở bị dìm chết vì bị cho là thông đồng với quyền thần Bùi Đắc Tuyên năm 1795
- Phạm Văn Trị bị bắt và xử tử năm 1801
- Phạm Ngạn tử trận khi giao chiến với tướng chúa Nguyễn Trần Công Chương năm 1782
- Phạm Văn Tham bị Nguyễn Ánh giết chết năm 1789
- Phạm Văn Điềm bị bắt rồi xử tử trong lễ hiến phù năm 1802
- Từ Văn Chiêu bị bắt rồi bệnh ốm. Nguyễn Ánh ra lệnh giết ông trước khi mang ra làm lễ hiến phù
- Trần Quang Diệu tận lực giúp nhà Tây Sơn đến phút cuối, sau khi nhà Tây Sơn sụp đổ ông bị Nguyễn Ánh dụ hàng nhưng không theo, rồi bị xử tử năm 1802
- Trần Văn Kỷ tận trung với nhà Tây Sơn. Sau trận Phú Xuân thất thủ năm 1801 ông ra hàng, sau đó ông tìm cách liên lạc với vua Cảnh Thịnh, bị phát hiện Nguyễn Ánh ra lệnh giết ông rồi tịch biên gia sản
- Trịnh Nhất vốn là hải tặc Trung Hoa theo phò Nguyễn Huệ, sau khi Gia Long lên ngôi thì ông đem thủy quân tấn công quân Nguyễn nhằm khôi phục Nhà Tây Sơn, thua trận bị bắt giết năm 1807[35]
- Trịnh Thất vốn là hải tặc Trung Hoa theo phò Nguyễn Huệ, bị Nguyễn Ánh chém đầu năm 1802
- Tư khấu Oai (hoặc Uy) bị Đỗ Thành Nhơn giết chết năm 1778 tại Bến Nghé [36]
- Vũ Văn Nhậm theo lệnh Nguyễn Huệ ra Bắc Hà diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, nhưng sau lại kiêu căng, bị Nguyễn Huệ giết năm 1788
- Vũ Văn Dũng tận lực giúp nhà Tây Sơn đến phút cuối, bị Nguyễn Ánh bắt và xử tử năm 1802
- Vũ Văn Thành tử chiến tới phút cuối với quân Nguyễn tại Trận Thị Nại năm 1801
- Võ Đình Tú tử chiến với quân Nguyễn, trúng đạn rồi hy sinh năm 1799
Chúa Nguyễn
[sửa | sửa mã nguồn]- Châu Văn Tiếp bị quân Tây Sơn đâm trọng thương rồi qua đời năm 1784
- Cao Phước Trí nghe lệnh Nguyễn Ánh sang Xiêm La cầu viện, nhưng giữa đường gặp quân Chân Lạp hợp tác với Tây Sơn giết chết năm 1782
- Cai cơ Trung đem thuyền đón Nguyễn Ánh từ Xiêm về nhưng vì trước đó cai cơ Trung giết thuyền buôn người Xiêm, nên Nguyễn Ánh bắt giết đem dâng đầu cho vua Xiêm
- Đỗ Bảng tướng tâm phúc của Đỗ Thanh Nhơn, trước theo chúa Nguyễn, sau dấy binh chống lại Nguyễn Ánh trả thù cho chủ, sau bị quân Nguyễn Ánh giết chết năm 1780
- Dương Công Trừng bị quân Tây Sơn bắt sống, sau bị Nguyễn Nhạc xử chém năm 1783
- Đặng Văn Lượng bị tướng Tây Sơn Nguyễn Văn Kim chém chết khi cùng quân Xiêm tiến vào Nam Hà năm 1784
- Đỗ Thành Nhơn bị Nguyễn Ánh nghi kị nên cho người sát hại năm 1781
- Đặng Trần Thường từng là khai quốc công thần của vua Gia Long, sau bị nghị kị và Lê Chất dèm pha nên vua Gia Long xử chết năm 1816
- Hồ Công Siêu tử trận năm 1782
- Lý Tài bị Đỗ Thanh Nhơn giết năm 1777
- Lâm Đồ nghe lệnh chúa Nguyễn đem chở gạo ra giúp quân Thanh nhưng bị bão làm đắm chết năm 1789?
- Lê Danh Phong trước theo Tây Sơn nhưng sau chịu hàng chúa Nguyễn nhưng rồi bị nghi ngờ và sát hại (có thông tin ông vốn trung thành với nhà Tây Sơn và chỉ giả vờ hàng để phá quân Nguyễn nhưng chưa kịp thì bị giết)
- Lê Văn Quân lục đục với nội bộ chúa Nguyễn, sau uất hận uống thuốc độc tự vẫn năm 1791
- Lê Phước Điển hy sinh mặc áo ngữ cho Nguyễn Ánh chạy trốn, bị quân Tây Sơn giết vì tưởng là Nguyễn Ánh năm 1783
- Lục Côn tướng quân Xiêm tử trận khi giao chiến với quân Tây Sơn năm 1784
- Mạc Tử Dung theo lệnh chúa Nguyễn đi sứ sang Xiêm, bị vua Xiêm bắt giết năm 1780
- Mạc Tử Sanh tử trận năm 1788
- Manuel (Mạn Hòe) cai cơ người Pháp bị Nguyễn Huệ giết năm 1782
- Nguyễn Kim Phẩm bị tướng nổi loạn Trần Hưng sát hại năm 1783
- Nguyễn Phúc Thuần chúa Nguyễn thứ 9, bị Nguyễn Huệ bắt giết năm 1777
- Nguyễn Phúc Dương chúa Nguyễn thứ 10, vốn do quân Tây Sơn lập ra làm chúa bù nhìn để tranh thủ lòng dân, bỏ trốn vào Gia Định, sau bị Nguyễn Lữ bắt giết năm 1777
- Nguyễn Phước Mân tử trận năm 1782
- Nguyễn Văn Hiền bị Nguyễn Huệ bắt giết năm 1777
- Nguyễn Văn Oai tử trận khi cùng quân Xiêm đánh Tây Sơn năm 1784
- Nguyễn Văn Thành từng là khai quốc công thần của vua Gia Long, sau bị nghị kị và Lê Văn Duyệt dèm pha nên bị vua Gia Long ép uống thuốc độc chết năm 1817
- Ngô Tùng Châu tử thủ thành Quy Nhơn với Võ Tánh, liệu chống không nổi quân Tây Sơn nên uống thuốc độc chết theo thành năm 1801
- Tống Viết Phước bị quân Tây Sơn phục kích và bắt sống, sau bị tướng Tây Sơn Từ Văn Chiêu chém đầu năm 1801
- Tống Phước Nghĩa bị tướng Tây Sơn Nguyễn Quang Huy chém chết năm 1799
- Tống Phước Hiệp chống lại quân Nguyễn Lữ thì lâm bệnh qua đời năm 1776
- Tống Phước Hòa cố gắng cứu Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương nhưng không thành, rồi tự sát năm 1777
- Tống Phước Thiêm bị thuộc hạ của Đỗ Thanh Nhơn giết chết để báo thù năm 1782
- Tống Văn Khôi bị Nguyễn Huệ bắt giết năm 1777
- Tống Văn Phước tử trận khi đánh dẹp thuộc hạ của Đỗ Thanh Nhơn năm 1781?
- Trần Đĩnh lục đục nội bộ với tướng Tôn Thất Cốc nên bị sát hại năm 1783
- Trần Văn Thức bị Nguyễn Nhạc bắt giết năm 1777
- Trần Xuân Trạch nghe lệnh Nguyễn Ánh sang Xiêm La cầu viện, nhưng giữa đường gặp quân Chân Lạp hợp tác với Tây Sơn giết chết năm 1782
- Võ Nhàn tướng tâm phúc của Đỗ Thanh Nhơn, trước theo chúa Nguyễn, sau dấy binh chống lại Nguyễn Ánh trả thù cho chủ, sau bị quân Nguyễn Ánh giết chết năm 1780
- Võ Tánh tử thủ thành Quy Nhơn chống lại Trần Quang Diệu của Tây Sơn, tuẫn tiết theo thành năm 1801
- Võ Di Nguy tử trận khi giao chiến với quân Tây Sơn tại Trận Thị Nại năm 1801
Đánh giá
[sửa | sửa mã nguồn]Tuy giành chiến thắng và kết thúc chiến tranh, nhưng việc Nguyễn Ánh trong quá trình chiến tranh đã liên tục cầu viện Xiêm La, Vạn Tượng và Pháp đã đem lại nhiều di họa về sau cho Việt Nam. Cụ thể:
- Nguyễn Ánh phải cắt Trấn Ninh, Trấn Biên, Trấn Định, Trấn Tĩnh (rộng khoảng 50.000 km2) cho nước Vạn Tượng để đền đáp việc nước này giúp đánh nhà Tây Sơn, khiến lãnh thổ miền Bắc Trung Bộ bị thu hẹp lại một nửa.
- Hiệp ước Versailles 1787 mà đại diện của Nguyễn Ánh ký với Pháp với những điều khoản hứa cắt lãnh thổ về sau đã trở thành cái cớ để Pháp xâm lược Việt Nam.
Năm 1822, sứ giả Anh quốc John Crawfurd đến thăm Việt Nam đã nhận xét: việc Nguyễn Ánh chiến thắng đã tạo nên một triều đình cai trị kém công bằng hơn so với Tây Sơn, và việc ông ta cầu viện ngoại quốc để chiến thắng đã khiến uy tín, tính chính danh của nhà Nguyễn trong nhân dân bị giảm sút rất nhiều[37]
- "Tôi thật sự, được chứng thực bởi những thương nhân người Hoa mà tôi trò truyện ở Huế, họ đã sống ở nước này dưới cả 2 triều (Tây Sơn và nhà Nguyễn), rằng vua Tây Sơn quản lý đất nước công bằng và điều độ hơn vị vua hiện tại (Minh Mạng) hoặc cha ông ta (Gia Long). Thật vậy, chắc chắn là người dân CoChin China nhận được rất ít lợi lộc khi khôi phục lại một gia tộc (chúa Nguyễn) mà ai cũng biết là đã cai trị tồi để dẫn đến nổi loạn; và họ [nhà Nguyễn] cũng bị xem là người đã khôi phục và duy trì chủ quyền bằng những cách thức xa lạ với các chính quyền thuần Á Đông [cầu viện ngoại bang như Pháp, Xiêm,...].
Trong bài "Nên học sử ta", Nguyễn Ái Quốc viết:[38]
- "Trước khi vua Gia Long bán nước cho Tây, nước ta vẫn là nước độc lập. Vì muốn giành làm vua mà Gia Long đem nước ta bán cho Tây. Thế là giang san gấm vóc tan tác tiêu điều, con Lạc cháu Hồng hóa làm trâu ngựa".
Trong bài thơ Lịch sử nước ta, Hồ Chí Minh phê phán hành động cầu viện quân đội ngoại quốc của Nguyễn Ánh:
| “ | Gia Long lại dấy can qua Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài. Tự mình đã chẳng có tài, Nhờ Tây qua cứu tính bài giải vây. Nay ta mất nước thế này, Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà, Khác gì cõng rắn cắn gà, Rước voi dẫy mả, thiệt là ngu si. |
” |
| — Hồ Chí Minh[39] | ||
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Việt Sử Toàn Thư, trang 410; theo lời của De Barisy, người đă cộng tác với vua Gia Long trong thời chiến tranh với nhà Tây Sơn.
- ^ SỰ CHUYỂN GIAO KỸ THUẬT QUÂN SỰ TÂY PHƯƠNG CHO Việt Nam HỒI CUỐI THẾ KỶ THỨ MƯỜI TÁM VÀ ĐẦU THẾ KỶ THỨ MƯỜI CHÍN:TRƯỜNG HỢP NHÀ NGUYỄN-FRÉDRÉRIC MANTIENNE
- ^ Việt Sử Toàn Thư, trang 389.
- ^ Đại Nam thực lục, tập 1, đệ Nhất kỷ, quyển II, trang 225
- ^ Biên niên sử Xiêm La, Đệ nhị kỷ, trang 110
- ^ Đại Nam thực lục, tập 1, đệ Nhất kỷ, quyển III, trang 228
- ^ Đại Nam thực lục, tập 1, đệ Nhất kỷ, quyển IV, trang 245
- ^ Biên niên sử Xiêm La, Đệ nhị kỷ, trang 111-112
- ^ a b Biên niên sử Xiêm La, Đệ nhị kỷ, trang 113
- ^ a b Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 200-208
- ^ SỰ CHUYỂN GIAO KỸ THUẬT QUÂN SỰ TÂY PHƯƠNG CHO Việt Nam HỒI CUỐI THẾ KỶ THỨ MƯỜI TÁM VÀ ĐẦU THẾ KỶ THỨ MƯỜI CHÍN:TRƯỜNG HỢP NHÀ NGUYỄN-FRÉDRÉRIC MANTIENNE trích từ Mantienne, Relations politiques et commerciales, các trang 184-188.
- ^ Đại Nam thực lục, bản dịch của Viện Sử học liên kết với nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 2007, tập một: Tiền biên và Chính biên-Kỷ thứ nhất (từ 1558 đến 1819), trang 207.
- ^ a b Đại Nam thực lục, bản dịch của Viện Sử học liên kết với nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 2007, tập một: Tiền biên và Chính biên-Kỷ thứ nhất (từ 1558 đến 1819), trang 207-211.
- ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 225
- ^ Việt Sử Toàn Thư, trang 396.
- ^ George Dutton (Nguyệt Cầm chuyển ngữ), Xem xét lại thời Tây Sơn Lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2008 tại Wayback Machine, tạp chí Hợp Lưu, Số 82, Tháng 4-2005 và 5- 2005, tr. 244.
- ^ a b Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 261.
- ^ Đại Nam thực lục, bản dịch của Viện Sử học liên kết với nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 2007, tập một: Tiền biên và Chính biên-Kỷ thứ nhất (từ 1558 đến 1819), trang 230-235.
- ^ Đại Nam thực lục, bản dịch của Viện Sử học liên kết với nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 2007, tập một: Tiền biên và Chính biên-Kỷ thứ nhất (từ 1558 đến 1819), trang 257.
- ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng 1976, tr. 323.
- ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 258.
- ^ Đại Nam thực lục, bản dịch của Viện Sử học liên kết với nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 2007, tập một: Tiền biên và Chính biên-Kỷ thứ nhất (từ 1558 đến 1819), trang 261.
- ^ Lưỡng Kim Thành 2012, tr. 83.
- ^ "Quan điểm về Nguyễn Ánh và triều Nguyễn". Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019.
- ^ Diane H. Murray, Pirates of the South China Coast, 1790-1810, Stanford University Press, ISBN 0804713766, [1], tr. 37-38
- ^ Vũ Đức Liêm (2018). "'Nam Tiến' và cái bẫy địa lý của người Việt".
- ^ Đại Nam thực lục, tập 1, đệ Nhất kỷ, trang 440
- ^ Quốc Sử quán, Đại Nam Thực lục, Tập III, Nhà xuất bản Sử học HN 1963, trang 29
- ^ Đại Nam nhất thống chí. NXB Thuận Hóa 2006. Trang 155, 159, 162
- ^ Khâm định Việt sử Thông giám cương mục. Chính biên, quyển XXIII
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q https://www.sugia.vn//assets/file/DAI-NAM-THUC-LUC-Tap01.pdf
- ^ https://tapchinghiencuuphathoc.vn/moi-quan-he-tran-thuan-thanh-va-chinh-quyen-dang-trong-1692-1832.html
- ^ "Ts.Po Dharma: Nghiên cứu trong Biên Niên Sử Champa bị thiếu nhân vật Po Chongchan". Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
- ^ https://scov.gov.vn/ban-sac-van-hoa/viet-su-giai-thoai/tong-viet-phuc-va-tu-van-chieu.html
- ^ http://vanhoanghean.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/3748-hai-tac-trung-hoa
- ^ "Tiếng dân 27 Tháng Bảy 1940 — Thư viện báo chí của Thư viện Quốc gia Việt Nam". Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
- ^ John Crawfurd (1828): Journal of an embassy from the Governor-General of India to the courts of Siam and Cochin-China: exhibiting a view of the actual state of those kingdoms. SOUTHEAST ASIA VISIONS, Cornell University Library's John M. Echols Collection. Volume 2. Chapter VII. From page 302-315.
- ^ Báo Việt Nam độc lập, ngày ngày 1 tháng 2 năm 1942
- ^ Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
- Quân sự Việt Nam thời Tây Sơn
- Chúa Nguyễn
- Nhà Tây Sơn
- Chiến tranh Tây Sơn – Chúa Nguyễn
- Xung đột thập niên 1780
- Xung đột thập niên 1790
- Xung đột thập niên 1800
- Campuchia thế kỷ 19
- Lào thế kỷ 19
- Nội chiến liên quan tới châu Á
- Gia Long
- Chiến tranh liên quan tới Trung Quốc
- Chiến tranh liên quan tới Pháp
- Chiến tranh liên quan tới Thái Lan