Chiến tranh Triều Tiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chiến tranh Triều Tiên
Hàn Quốc: (한국전쟁, 6·25 전쟁)
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên: (조국해방전쟁)
Một phần của Chiến tranh lạnh
Korean War Montage 2.png
Theo chiều kim đồng hồ từ trên xuống: Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ triệt thoái trong trận hồ Trường Tân, quân Liên Hiệp Quốc đổ bộ lên cảng Nhân Xuyên, bắt đầu trận Nhân Xuyên; người tị nạn Triều Tiên trước một xe tăng M26 Pershing của Hoa Kỳ; Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên Nhân Xuyên; một chiếc máy bay tiêm kích North American F-86 Sabre.
Thời gian Chiến tranh toàn diện từ 25 tháng 6 năm 1950 cho đến hiệp định ngừng bắn vào ngày 27 tháng 7 năm 1953.
Không có hiệp định hòa bình nên đụng độ lẻ tẻ vẫn diễn ra, hai bên vẫn tiếp tục ở trong tình trạng chiến tranh và có thể phát động tấn công bất ngờ mà không cần tuyên chiến.
Địa điểm Bán đảo Triều Tiên
Nguyên nhân bùng nổ Hai miền Triều Tiên bị chia cắt, căng thẳng chính trị giữa hai miền
CHDCND Triều Tiên tấn công Đại Hàn Dân quốc để thống nhất hai miền đất nước
Kết quả Ngừng bắn; thiết lập Khu phi quân sự Triều Tiên; một vài thay đổi dọc theo vĩ tuyến 38.
Tham chiến
Flag of the United Nations.svg Liên hiệp quốc:

Animated-Flag-South-Korea.gif Đại Hàn Dân Quốc
Animated-Flag-Belgium.gif Bỉ
Animated-Flag-Colombia.gif Colombia
Flag of Ethiopia (1897-1936; 1941-1974).svg Ethiopia
Animated-Flag-Netherlands.gif Hà Lan
State Flag of Greece (1863-1924 and 1935-1973).svg Hy Lạp
Animated-Flag-USA.gif Hoa Kỳ
Animated-Flag-United-Kingdom.gif Anh Quốc
Flag of Canada (1921–1957).svg Canada
Animated-Flag-Luxembourg.gif Luxembourg
Flag of South Africa (1928–1994).svg Nam Phi
Animated-Flag-New-Zealand.gif New Zealand
Animated-Flag-France.gif Pháp
Animated-Flag-Philippines.gif Philippines
Animated-Flag-Thailand.gif Thái Lan
Animated-Flag-Turkey.gif Thổ Nhĩ Kỳ
Animated-Flag-Australia.gif Úc


Hỗ trợ y tế:
Animated-Flag-Denmark.gif Đan Mạch
Animated-Flag-Norway.gif Na Uy
Animated-Flag-India.gif Ấn Độ
Animated-Flag-Italy.gif Ý


Hỗ trợ trang thiết bị:
Animated-Flag-Argentina.gif Argentina
Aimated-Flag-Bolivia.gif Bolivia
Animated-Flag-Brazil.gif Brasil
Animated-Flag-Chile.gif Chile
Animated-Flag-Ecuador.gif Ecuador
Animated-Flag-El-Salvador.gif El Salvador
Animated-Flag-Iceland.gif Iceland
Animated-Flag-Israel.gif Israel
Animated-Flag-Lebanon.gif Liban
Animated-Flag-Liberia.gif Liberia
Animated-Flag-Mexico.gif México
Animated-Flag-Nicaragua.gif Nicaragua
Animated-Flag-Pakistan.gif Pakistan
Animated-Flag-Panama.gif Panama
Animated-Flag-Paraguay.gif Paraguay
Animated-Flag-Peru.gif Peru
Animated-Flag-Uruguay.gif Uruguay
Flag of Venezuela.svg Venezuela

Marx Engels Lenin.svg Khối phía Đông:
Animated-Flag-North-Korea.gif CHDCND Triều Tiên

Animated-Flag-China.gif CHND Trung Hoa
Tham chiến hạn chế:
Animated-Flag-USSR.gif Liên Xô


Hỗ trợ y tế:
Flag of Romania (1952-1965).svg România
Flag of Hungary (1949-1956).svg Hungary
Flag of the Czech Republic.svg Tiệp Khắc
Animated-Flag-Poland.gif Ba Lan
Flag of Bulgaria (1971 – 1990).svg Bulgaria

Chỉ huy và lãnh đạo
Animated-Flag-South-Korea.gif Lý Thừa Vãn

Animated-Flag-South-Korea.gif Chung Il-kwon
Animated-Flag-South-Korea.gif Paik Sun-yup
Animated-Flag-USA.gif Douglas MacArthur
Animated-Flag-USA.gif Matthew Ridgway
Animated-Flag-USA.gif Mark Wayne Clark
Animated-Flag-United-Kingdom.gif Clement Attlee
Animated-Flag-Australia.gif Robert Menzies
Flag of Canada (1921–1957).svg Louis St. Laurent
Animated-Flag-Philippines.gif Elpidio Quirino
Animated-Flag-Turkey.gif Tahsin Yazıcı

Animated-Flag-North-Korea.gif Kim Nhật Thành

Animated-Flag-North-Korea.gif Pak Hŏnyŏng
Animated-Flag-North-Korea.gif Choi Yong-kun
Animated-Flag-North-Korea.gif Van Len
Animated-Flag-North-Korea.gif Kim Chaek
Animated-Flag-China.gif Mao Trạch Đông
Animated-Flag-China.gif Bành Đức Hoài
Animated-Flag-USSR.gif Joseph Stalin
Animated-Flag-USSR.gif Georgy Zhukov

Lực lượng
Animated-Flag-South-Korea.gif 590.911

Animated-Flag-USA.gif 480.000
Animated-Flag-United-Kingdom.gif 63.000[1]
Flag of Canada (1921–1957).svg 26.791[2]
Animated-Flag-Australia.gif 17.000
Animated-Flag-Philippines.gif 7.430
Animated-Flag-Turkey.gif 5.455[3]
Animated-Flag-Netherlands.gif 3.972
Animated-Flag-France.gif 3.421,[4]
State Flag of Greece (1863-1924 and 1935-1973).svg 2,163[5]
Animated-Flag-New-Zealand.gif 1.389
Animated-Flag-Thailand.gif 1.273[6]
Flag of Ethiopia (1897-1936; 1941-1974).svg 1.271
Animated-Flag-Colombia.gif 1.068
Animated-Flag-Belgium.gif 900
Flag of South Africa (1928–1994).svg 826
Animated-Flag-Luxembourg.gif 44

Tổng cộng: 1.206.914

Animated-Flag-North-Korea.gif 260.000

Animated-Flag-China.gif 926.000
Animated-Flag-USSR.gif 26.000

Tổng: 1.212.000

Ghi chú: Tất cả các con số có thể thay đổi theo nguồn. Bảng này chỉ tính các con số cao nhất khi các lực lượng thay đổi theo cục diện chiến tranh.

Thương vong và tổn thất
Nam Triều Tiên:
137.899 tử trận[7]
450.742 bị thương[7]
24.495 mất tích[7]

Hoa Kỳ:
36.516 chết (bao gồm 2.830 không chiến đấu)
92.134 bị thương
8.176 mất tích
7.245 tù binh[8]
Anh Quốc:
1.109 chết[9]
2.674 bị thương
1.060 mất tích hoặc bị bắt[10]
Thổ nhĩ Kỳ:
721 chết[11]
2.111 bị thương
168 mất tích
216 tù binh
Canada:
516 chết[12]
1.042 bị thương
Australia:
339[13]
1.200 bị thương
Pháp:
300 chết hoặc mất tích[14]
Hi Lạp:
194 chết
459 bị thương
Colombia
163 chết[15]
448 bị thương
2 mất tích
28 bị bắt
Thái Lan:
129 chết
1.139 bị thương
5 mất tích[6]
Hà Lan:
123 chết[16]
Philippines:
112 chết[17]
Bỉ:
101 chết[18]
478 bị thương
5 mất tích
New Zealand:
33 chết[19]
Nam Phi:
28 chết
8 mất tích[20]
Luxembourg:
2 chết[18]
Tổng cộng: 178.698 chết, 32.925 mất tích và 566.434 bị thương

Bắc Triều Tiên:
(Số liệu chính thức):
290.000 chết hoặc bị thương,
90.000 bị bắt[21]
(Hoa Kỳ ước tính):
215.000 chết,
303.000 bị thương,
120.000 mất tích hoặc bị bắt[22]

CHND Trung Hoa
(Số liệu chính thức):
183.108 chết (bao gồm số chết không trong chiến đấu)
383.218 bị thương
25.621 mất tích
21.400 tù binh[21][23][24]
(Hoa Kỳ ước tính):[22]
400.000+ chết hoặc mất tích
486.000 bị thương
21.000 tù binh
Liên Xô:
282 chết[25]
Tổng cộng:
367.283-750.282 chết hoặc mất tích, 686.500-789.000 bị thương

Tổng số dân thường thiệt mạng / bị thương: 2,5 triệu (ước tính)[7]

Chiến tranh Triều Tiên (trong tiếng Hàn Quốc Hangul한국전쟁; Hanja韓國戰爭; RomajaHanguk Jeonjaeng, "Korean War"; trong CHDCND Triều Tiên Chosŏn'gŭl조국해방전쟁; Hancha祖國解放戰爭; MRChoguk haebang chǒnjaeng Fatherland Liberation War(Chiến tranh giải phóng tổ quốc); 25 tháng 6 1950 -27 tháng 7 1953) là một cuộc chiến tranh giữa CHDCND Triều Tiên (với sự ủng hộ của Trung Quốc, Liên Xô) và Hàn Quốc (với sự ủng hộ của Liên hợp quốc, Hoa Kì có vai trò chủ yếu ). Cuộc chiến đã bắt đầu vào ngày 25 tháng 6 năm 1950 khi CHDCND Triều Tiên tấn công Hàn Quốc sau một loạt các cuộc đụng độ dọc theo biên giới giữa hai bên.

Như một kết quả của việc đánh bại Nhật Bản trong thế chiến 2, Liên Xô và Hoa Kì đã chia Triều Tiên thành hai vùng trong năm 1948 với đường biên giới thiết lập tại vĩ tuyến thứ 38. Một chính phủ xã hội chủ nghĩa đã được thành lập ở miền Bắc dưới sự lãnh đạo của người cộng sản Kim II-sung và chính phủ tư bản ở miền Nam dưới sự lãnh đạo của nhân vật chống cộng Syngman Rhee (Lý Thừa Vãn). Cả hai phía đều thành lập nhà nước và bầu cử quốc hội ở cùng một thời điểm và tự cho rằng họ là nhà nước hợp pháp duy nhất của toàn bộ bán đảo Triều Tiên, và không bên nào đã chấp nhận biên giới là vĩnh viễn. Sự mâu thuẫn đã leo thang thành chiến tranh khi lực lượng quân đội CHDCND Triều Tiên (KPA) đã băng qua biên giới và tiến vào Hàn Quốc vào ngày 25/06/1950. Hội đồng bảo an Liên hợp quốc đã cho phép thành lập Quân đội Liên hợp quốc (United Nations Command) và đã gửi lực lượng tới Triều Tiên để đẩy lùi những gì mà họ coi là một cuộc xâm lược của CHDCND Triều Tiên. Hai mươi mốt quốc gia của Liên hợp quốc cuối cùng đã đóng góp tới lực lượng Liên hợp quốc, với Hoa Kì cung cấp khoảng 90% nhân viên quân đội.

Sau hai tháng đầu tiên của cuộc chiến, sự thiếu hụt trang thiết bị và thiếu tinh thần chiến đấu của quân đội Hàn Quốc (ROKA) khiến họ thất trận liên tục, và lực lượng Hoa Kì nhanh chóng được gửi tới Nam Triều Tiên đã sắp sửa bại trận. Như một kết quả, quân đội ROKA và Mỹ đã lui tới một khu vực nhỏ phía sau một vành đai phòng thủ đã được biết tới là Vành đai Pusan. Trong tháng 9, 1950, lực lượng thủy quân lục chiến Hoa Kì đã được tung ra tại Incheon, và đã chia cắt nhiều lực lượng KPA tại Hàn Quốc. Những người trốn thoát khỏi sự bao vây và bắt giữ đã bị bắt buộc phải rút trở lại miền Bắc. Lực lượng Liên hợp quốc đã xâm phạm CHDCND Triều Tiên vào tháng 10-1950 và nhanh chóng di chuyển về phía sông Áp Lục -biên giới với Trung Quốc- nhưng vào ngày 19, 10, 1950, lực lượng Trung Quốc của Chí nguyện quân nhân dân Trung Hoa (PVA) (tên tiếng Anh:People's Volunteer Army) đã băng qua sông Áp Lục và tham gia cuộc chiến. Sự can thiệp bất ngờ của Trung Quốc đã gây ra một cuộc rút lui của lực lượng Liên hợp quốc trở lại dưới Vĩ tuyến 38 khoảng cuối tháng 12.

Trong nhũng trận chiến sau đó, Seoul đã thay đổi chuyển giao bốn lần, và hai năm cuối của cuộc chiến trở thành một cuộc chiến tranh tiêu hao (a war of attrition), với mặt trận gần vĩ tuyến 38. Chiến tranh trên không, không bao giờ rơi vào một sự bế tắc. Bắc Triều Tiên bị chịu một chiến dịch ném bom rộng lớn của Hoa Kì. Những máy bay phản lực đối đầu lẫn nhau trận chiến trên không cho lần đầu tiên trong lịch sử, và những phi công Liên Xô ngầm bay trong trong việc bảo vệ các đồng minh XHCN của họ.

Cuộc chiến đấu đã kết thúc vào 27/7/1953, khi Thỏa thuận đình chiến đã được kí kết. Thỏa ước đã tạo ra Khu phi quân sự Triều Tiên (tên tiếng Anh: the Korean Demilitarized Zone viết tắt DMZ) để tách rời Bắc và Nam Triều Tiên, và cho phép trả lại tù bình. Tuy nhiên, không hiệp ước hòa bình đã được kí, và hai miền Triều Tiên về mặt kĩ thuật vẫn trong chiến tranh, cam kết trong một sự đóng băng xung đột. Trong 4/2018, lãnh đạo hai miền Triều Tiên đã gặp tại DMZ và đồng ý để làm việc hướng tới một hiệp ước để chính thức kết thúc Chiến tranh Triều Tiên.

Chiến tranh Triều Tiên là một trong những cuộc xung đột tàn khốc nhất của thời kỳ hiện đại, với khoảng 3 triệu người thiệt mạng trong chiến tranh và số người chết dân sự theo tỷ lệ lớn hơn so với Thế chiến II hoặc Chiến tranh Việt Nam. Nó đã gây ra sự phá hủy hầu như tất cả các thành phố lớn của Hàn Quốc, hàng ngàn vụ thảm sát của cả hai bên (bao gồm cả việc giết chết hàng chục ngàn người cộng sản bị nghi ngờ bởi chính phủ Hàn Quốc), và tra tấn và bỏ đói tù binh của CHDCND Triều Tiên chỉ huy. CHDCND Triều Tiên trở thành một trong những quốc gia bị ném bom nặng nề nhất trong lịch sử.

Sau hơn một tháng, quân đội Hàn Quốc bị tiêu diệt gần như toàn bộ, chỉ còn lại một số nhỏ tử thủ ở Phú Sơn. Sau đó, quân đội Triều Tiên cũng tan rã sau gần ba tháng khi các lực lượng Liên Hiệp Quốc nhập cuộc, dẫn đến sự cứu viện từ quân đội chủ lực Trung Quốc. Từ đó, vai trò chính trong toàn bộ thời gian còn lại của cuộc chiến đã về tay Mỹ và Trung Quốc trong suốt ba năm, Douglas MacArthur là Tổng tư lệnh liên quân và Bành Đức Hoài chỉ huy phía bên kia. Sau ba tháng đầu, vai trò của Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên đã trở thành mờ nhạt hơn. Vì vậy nhiều người cho rằng Chiến tranh Triều Tiên thực chất là cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hàn Quốc, cuộc chiến thường được ám chỉ tới như ''625'' hoặc ''6-2-5 biến động'' , tên tiếng Hàn Quốc là :yook-i-o dongnan, phản ánh ngày đầu tiên vào 25 tháng 6. Một cách gọi khác là Chiến tranh phản Cộng. Thời Lý Thừa Vãn cuộc chiến này được gọi là cuộc Thánh chiến phản Cộng.

Tại Bắc Triều Tiên, cuộc chiến được nói đến chính thức như là ''Chiến tranh giải phóng tổ quốc'' (Choguk haebang chǒnjaeng) hoặc ''Chiến tranh Triều Tiên'' (Chosǒn chǒnjaeng).

Tại Trung Quốc, cuộc chiến thường được gọi là Chiến tranh kháng Mỹ viện Triều (, nghĩa là "Chiến tranh chống Mỹ và trợ giúp Triều Tiên") (朝鮮戰爭, Chaoxian Zhanzheng).[26] tuy nhiên thuật ngữ''Chaoxian (Korean) War'' cũng được sử dụng trong ngữ cảnh chính thức, bên cạnh thuật ngữ "Hán (Korean) War" (simplified Chinese: 韩战; traditional Chinese: 韓戰; pinyin: Hán Zhàn) thông thường được sử dụng trong những khu vực như HongKong và Macau.

Tại Hoa Kỳ, cuộc chiến được gọi phổ biến là Chiến tranh Triều Tiên, ban đầu đã được mô tả bởi tổng thống Harry S. Truman như một ''hành động an ninh'' khi Hoa Kì không bao giờ chính thức tuyên bố chiến tranh lên đối thủ của họ và sự vận hành được chỉ đạo dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc. Nó thường xuyên được nói tới trong cộng đồng nói tiếng Anh như'' Cuộc chiến bị bỏ quên'' hoặc ''Cuộc chiến chưa được biết'' bởi vì sự thiếu hụt sự chú ý của công chúng trong suốt thời gian xảy ra và sau cuộc chiến, liên quan tới qui mô toàn cầu của Thế chiến 2, cái trước nó, và sự lo lắng tiếp sau của Chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến kế tiếp sau đó.[27]

Bối cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đế quốc Nhật Bản cai trị (1910-1945)[sửa | sửa mã nguồn]

Đế quốc Nhật Bản đã phá bỏ ảnh hưởng của Trung Quốc lên Triều Tiên trong trận chiến tranh Trung-Nhật lần 1(1894-1895), mở đầu thời gian ngắn cho đế chế Triều Tiên (Korean Empire). Một thập kỉ sau, sau việc đánh bại Đế quốc Nga trong Chiến tranh Nga-Nhật (1904-05), Nhật Bản đã bắt Triều Tiên thành xứ bảo hộ của họ với Hiệp ước Eulsa trong năm 1905, sau đó đã thôn tính Triều Tiên với Hiệp ước sát nhật Nhật Bản- Triều Tiên vào năm 1910.[28] [29]

Nhiều người dân tộc chủ nghĩa Triều Tiên đã rời khỏi đất nước. Chính phủ lâm thời cộng hòa Triều Tiên được thành lập vào năm 1919 ở Trung Quốc. Nó đã thất bại để đạt được sự công nhận quốc tế, đã thất bại để thống nhất các nhóm yêu nước, và có một mối quan hệ khó khăn với chủ tịch sáng lập có trụ sở tại Hoa Kì, Syngmsan Rhee. Từ 1919 tới 1925, những người cộng sản Triều Tiên lãnh đạo trong và ngoài nước chiến tranh chống lại Nhật Bản.

Trong Trung Quốc, quân đội của Quốc dân Đảng và những người cộng sản thuộc quân đội Giải phóng cách mạng nhân dân đã giúp đỡ tổ chức người tị nạn Triều Tiên chống lại quân đội Nhật Bản, Nhật Bản cũng đã chiếm đóng nhiều phần của Trung Quốc lúc đó. Những người theo chủ nghĩa quốc gia đã trở lại Triều Tiên, dẫn dắt bởi Yi Pom-Sok, đã chiến đấu trong Chiến dịch Burma (tháng 12 1941- tháng 8 1945). Những người cộng sản, dẫn dắt bởi Kim II-sung trong số những người khác, đã đánh nhau với Nhật Bản trong Triều Tiên và Mãn Châu.

Tại Hội nghị Cairo trong tháng 11 năm 1943, Trung Quốc, Anh và Hoa Kì tất cả quyết định rằng, nguyên văn tiếng Anh: "in due course Korea shall become free and independent (dịch sang tiếng Việt:trong một quá trình thích hợp Triều Tiên sẽ trở thành tự do và độc lập).

Chiến tranh Liên Xô-Nhật Bản (1945)[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hội nghị Tehran trong tháng 11 1943 và Hội nghị Yalta vào tháng 2 1945, Liên Xô đã cam kết để tham gia với những đồng minh của họ trong vòng ba tháng sau chiến thắng tại châu Âu. Theo đó, Liên Xô tuyên bố chiến tranh với Nhật Bản vào 9 tháng 8 năm 1945, 3 ngày sau khi Hoa Kì ném bom nguyên tử xuống Hiroshima. Khoảng 10 tháng 8, Hồng quân (Red Army) bắt đầu chiếm phần phía Bắc của Bán đảo Triều Tiên.[30][30][31]

Trong buổi tối của ngày 10 tháng 8 ở Washington, Đại tá Hoa Kì-Dean Rusk và Charles H. Bonesteel III đã được chỉ định với việc chia Bán đảo Triều Tiên thành khu vực chiếm đóng của Hoa Kì và Liên Xô và đã đề nghị vĩ tuyến 38. Điều này đã được hợp nhất thành Tổng mệnh lệnh số 1 (tên tiếng Anh: General Order No.1) để đáp lại sự đầu hàng của người Nhật vào ngày 15 tháng 8. Giải thích quyết định chọn Vĩ tuyến 38, Rusk nhận xét, mặc dù nó đã xa hơn về phía Bắc hơn là có thể thực tế chạm tới bởi lực lượng Hoa Kì, trong sự kiện bất đồng với Liên Xô....chúng tôi cảm thấy nó quan trọng để tính tới việc thủ đô của Triều Tiên trong khu vực chịu trách nhiệm của quân đội Hoa Kì. Ông đã lưu ý răng ông đã đối mặt với sự thiếu vắng của lực lượng Hoa Kì trực tiếp có sẵn, và nhân tố thời gian, không gian, cái có thể làm nó khó khăn để đi rất xa về phía Bắc, trước khi quân đội Liên Xô có thể tiến vào khu vực. Như ý kiển của Rusk chỉ ra, Hoa Kì đã nghi ngờ liệu Liên Xô có đồng ý với điều đó. Lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin, tuy nhiên, vẫn giữ chính sách thời chiển của sự hợp tác, và vào ngày 16 tháng 8, Hồng quân đã dừng lại tại Vĩ tuyến 38 trong 3 tuần để chờ đợi lực lượng Hoa Kì đến từ phía Nam.[32][33][34] [30].

Sự phân chia Triều Tiên (1945-1949)[sửa | sửa mã nguồn]

Trong sự phù hợp với thỏa thuận đã làm với Hoa Kì, quân đoàn 25 Liên Xô tham gia tiến vào phía Bắc Triều Tiên ngay lập tức sau khi Thế chiến 2 kết thúc, và lập căn cứ tại Pyongyang trong một thời gian. Hoa Kì quyết định phân chia sớm hơn và yêu cầu lực lượng Liên Xô vào Triều Tiên trong tháng 8 như một phần tiến trình của sự đầu hàng của Nhật Bản. Khi đã đạt được sự đồng ý lên điểm thiết yếu của vĩ tuyến 38, lực lượng Liên Xô đã dừng lại sự tiến lên của họ và đã chờ đợi cho lực lượng Hoa Kì tới Triều Tiên. Lực lượng Liên Xô đã nhận sự đầu hàng của lực lượng người Nhật lên khu vực quản lí của họ.

Vào ngày 8 tháng 9 năm 1945, trung tướng John R. Hodge của Hoa Kỳ đến Incheon để tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản ở phía nam vĩ tuyến 38. Được bổ nhiệm làm thống đốc quân đội, Tướng Hodge đã trực tiếp kiểm soát miền nam Triều Tiên với tư cách là người đứng đầu Chính phủ Quân đội Hoa Kỳ tại Triều Tiên (USAMGIK 1945-48).[35] Ông đã cố gắng thiết lập sự kiểm soát bằng cách phục chức lại những viên chức thực dân Nhật Bản, nhưng trong sự đối mặt với sự phản kháng nhanh chóng của người Triều Tiên ông đã đảo ngược quyết định đó. [36] Hodge đã giữ nhiều vị trí trong chính phủ cho một số lượng lớn người Triều Tiên, những người đã trực tiếp phục vụ và cộng tác với chính quyền thực dân Nhật Bản. Sự hiện diện này đã được công bố đặc biệt trong Lực lượng cảnh sát quốc gia Triều Tiên, những người sau đó sẽ dẹp tan sự lan rộng cuộc nổi loạn tới ROK. USAMGIK từ chối công nhận chính phủ lâm thời của Cộng hòa Nhân dân Triều Tiên ở miền Bắc (PRK) do nghi ngờ sự thân cộng sản của họ.

Tháng 12 năm 1945, Triều Tiên được quản lí bởi 1 Ủy ban chung Hoa Kì- Liên Xô, khi đã đồng ý tại Hội nghị Moscow, với việc nhằm thừa nhận sự độc lập sau 1 sự ủy thác trong 5 năm. Ý tưởng đã không được người dân đồng tình giữa những người Triều Tiên và những cuộc náo loạn nổ ra.Để ngăn chặn họ, USAMGIK đã cấm đình công vào ngày 8 tháng 12/ 1945 và đặt Chính phủ cách mạng PRK và Ủy ban nhân dân PRK ngoài vòng pháp luật vào ngày 12 tháng 12/1945. Theo sau những bất ổn dân sự qui mô lớn, USAMGIK tuyên bố thiết quân luật.

Dẫn ra sự thiếu khả năng của Ủy ban chung( Joint Comission) để tiến bộ, chính phủ Hoa Kì đã quyết định tổ chức bầu cử dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc với mục đích tạo ra sự độc lập Triều Tiên. Các viên chức Liên Xô và Đảng cộng sản Triều Tiên từ chối để hợp tác lên những vấn đề mà nó sẽ là không công bằng, và nhiều nhà chính trị Nam Hàn tẩy chay nó. Một cuộc bầu cử phổ thông đã được tổ chức trong phía Nam vào 10/5/1948. Bắc Hàn tổ chức bầu cử quốc hội 3 tháng sau vào ngày 25 tháng 8.

Như một kết quả chính phủ Hàn Quốc (Nam Hàn)công bố một hiến pháp chính trị quốc gia vào 17/7/1948, và bầu Syngman Rhee với tư cách Tổng thống (President) vào ngày 20/7/1948. Cuộc bầu cử được xem như được vận động bởi chính quyền Rhee. Cộng hòa Triều Tiên (Nam Triều Tiên) đã được thành ập vào ngày 15/8/1948. Trong khu vực chiếm đóng Triều Tiên của Liên Xô, Liên Xô đã đồng ý tới việc thành lập một chính phủ cộng sản lãnh đạo bởi Kim II-sung.

Như thỏa thuận, Liên Xô đã rút khỏi Triều Tiên vào năm 1948, và lực lượng Hoa Kì rút khỏi vào năm 1949.

Nội chiến Trung Quốc (1945-1949)[sửa | sửa mã nguồn]

Với sự kết thúc chiến tranh với Nhật Bản, cuộc nội chiến Trung Quốc đã bắt đầu lại dữ dội giữa Đảng cộng sản và Quốc dân Đảng. Trong khi Đảng cộng sản đang vật lộn cho ưu thế tại Mãn Châu, họ đã được ủng hộ bởi chính quyền Bắc Hàn với tài sản và nhân sự. Theo nguồn của Trung Quốc, những người Bắc Hàn đã quyên góp 2000 toa xe lửa chứa hàng tiêu dùng trong khi hàng nghìn người Triều Tiên đã phục vụ trong Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA- viết tẳt của People's Liberation Army) trong suốt cuộc chiến. Bắc Hàn cũng cung cấp ở Mãn Châu với một nơi trú ẩn an toàn cho những người làm dân sự và liên lạc với phần còn lại của Trung Quốc.

Những người Bắc Hàn đóng góp cho chiến thắng của Đảng cộng sản Trung Quốc đã không bị quên lãng sau sự thành lập của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (PRC: Viết tắt của People's Republic of China). Như biểu hiện của lòng biết ơn, khoảng giữa 50,000 và 70,000 người Bắc Hàn kì cựu mà đã phục vụ trong PLA đã đượ gửi trở lại cùng với vũ khí của họ, và họ sau đó giữ một vai trò quan trọng trong lần đầu xâm lược Nam Triều Tiên. Trung Quốc đã hứa để ủng hộ người Bắc Triều Tiên trong một sự kiện của cuộc chiến chống lại Nam Triều Tiên.

Sau sự thành lập của PRC, chính phủ Trung Quốc gọi tên những quốc gia phía Tây, dẫn đầu bởi Hoa Kì, như một mối đe dọa lớn nhất tới sự an toàn đất nước họ. Cơ sở sự phán xét này lên nỗi ô nhục 100 năm của Trung Quốc bắt đầu vào giữa thế kỉ 19. Hoa Kì ủng hộ Quốc dân đảng trong suốt cuộc Nội chiến Trung Quốc, và tư tưởng đối lập giữa những nhà cách mạng và những kẻ phản động, lãnh tụ Cộng hòa nhân dân Trung Quốc tin rằng Trung Quốc sẽ trở thành một chiến trường then chốt trong cuộc vận động của Hoa Kì chống lại Cộng sản. Như một biện pháp đối phó và để nâng cao vị thế của Trung Quốc giữa sự biến động của Cộng sản khắp thế giới, lãnh tụ PRC chọn một chính sách đối ngoại mà hành động đẩy mạnh các mạng Cộng sản ra khắp lãnh thổ rìa xung quoanh Trung Quốc.

Cuộc nổi dậy của những người Cộng sản ở Nam Triều Tiên (1948-1950)[sửa | sửa mã nguồn]

Đến năm 1948, một cuộc nổi dậy của Bắc Triều Tiên qui mô lớn đã nổ ra ở nửa phía Nam bán đảo Triều Tiên. Điều đó được làm trầm trọng hơn bởi tiếp tục không công bố chiến tranh biên giới giữa hai miền Triều Tiên, nơi đã thấy mức độ chia rẽ các cam kết và hàng nghìn cái chết lên cả hai bên. Quân đội Hàn Quốc (ROK) trong thời gian này đã hầu như hoàn toàn được huấn luyện và tập trung trong việc chống nổi dậy, phần nào đó hơn chiến tranh qui ước.Họ đã được trang bị và chỉ bảo bởi một lực lượng của một vài trăm sĩ quan Hoa Kì những người đã thành công phần lớn trong việc giúp ROKA để khuất phục du kích và tổ chức bản thân nó chống lại lực lượng KPA dọc theo vĩ tuyến 38. Xấp xỉ 8000 lính Nam Triều Tiên và cảnh sát đã chết trong cuộc nổi dậy và xung đột biên giới.

Cuộc nổi dậy đầu tiên của những người cộng sản đã xảy ra mà không có sự tham dự trực tiếp của Bắc Triều Tiên, mặc dù du kích vẫn công khai ủng hộ cho chính quyền miền Bắc. Bắt đầu trong tháng 4 năm 1948 trên hòn đảo riêng lẻ Jeju, chiến dịch đã chứng kiến những vụ bắt giữ rộng lớn và trấn áp bởi chính phủ Nam Triều Tiên trong việc chiến đấu chống lại Đảng Lao động Nam Triều Tiên, kết quả dẫn tới tổng cộng 30,000 cái chết bạo lực, trong số họ có 14,373 dân thường ( của những người mà 2,000 bị giết bởi người nổi loạn và khoảng 12,000 bởi lực lượng an ninh ROK). Cuộc nổi dậy Yeosu-Suncheon gối lên với nó, khi hàng nghìn lính đào ngũ vẫy cờ đỏ đã tàn sát những gia đình có thiên hướng chính trị thuộc cánh hữu. Dẫn tới sự đánh dẹp tàn bạo bởi chính phủ và khoảng 2,976 - 3,392 bị chết. Tới tháng 5 1949, cả hai cuộc nổi dậy đã bị dẹp tan.

Khi cuộc nổi dậy đang tiếp diễn, ROKA và KPA giao chiến cấp tiểu đoàn dọc theo biên giới, bắt đầu trong tháng 5/1949, khi hàng ngàn lính Bắc Triều Tiên tấn công lính Nam Triều Tiên đang chiếm giữ lãnh thổ phía Bắc của vĩ tuyến 38. Trung đoàn bộ binh số 2 và số 18 ROK đã đẩy lui cuộc tấn công ban đầu trong Kuksa-bong( trên vĩ tuyến 38 và Ch'ungmu và tại thời điểm kết thúc xung đột ROK đã hoàn thành lộ trình (tên tiếng Anh: complete routed). Những sự cố biên giới giảm xuống đáng kể vào đầu năm 1950.

Trong khi đó, nỗ lực chống nổi dậy trong nội địa Nam Triều Tiên đã tăng cường; hoạt động bền bỉ, kết hợp với điều kiện thời tiết tồi tệ hon, rốt cục đã phủ nhận nơi nuơng náu du kích và làm suy yếu sức chiến đấu của họ. Bắc Triều Tiên đã phản ứng bằng cách gửi nhiều lính hơn để liên kết với những cuộc nổi dậy hiện tại và xây dựng nhiều cán bộ đảng viên; số lượng người Bắc Triều Tiên cài vào đặt tới 3,000 nam giới trong 12 đơn vị vào đầu năm 1950, nhưng tất cả những đơn vị này đã bị phá hủy hoặc bị đuổi tản ra bởi ROKA. Vào 1/10/1949, ROKA đã ném ra 3 đợt đột kích lên quân nổi dậy trong Nam Cholla và Taegu. Tháng 3/1950, ROKA tuyên bố 5,621 du kích bị giết hoặc bị bắt và tịch thu 1,066 vũ khí. Sự hoạt động đã làm quân nổi dậy suy yếu. Nhanh sau đó, Bắc Triều Tiên đã thực hiện 2 nỗ lực cuối cùng để giữ hoạt động những cuộc nổi dậy, gửi hai đơn vị cấp tiểu đoàn cài vào dưới sự chỉ huy của Kimg Sang-ho và Kim Moo-hyon. Tiểu đoàn đầu tiên đã bị tiêu diệt qua quá trình nhiều cuộc giao chiến với sư đoàn số 8 ROKA. Tiểu đoàn thứ 2 đã bị tiêu diệt bởi 2 tiểu đoàn -búa và đe điều động bởi những đơn vị của Sư đoàn số 6 ROKA, kết quả trong một tổn thất của 584 du kích KPA (480 bị giết; 104 bị bắt) và 69 lính ROK bị giết, thêm 184 bị thuơng. Đầu mùa xuân 1950, hoạt động du kích hầu hết lắng xuống; biên giới, cũng, tạm yên.

Khơi mào chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Thừa VãnKim Nhật Thành đều mong muốn thống nhất bán đảo và đã tiến hành các cuộc tấn công quân sự dọc theo ranh giới suốt năm 1949 và đầu năm 1950.[37] Mặc dù Kim Nhật Thành và những đồng sự thân tín tin vào việc thống nhất đất nước bằng vũ lực, Stalin thì do dự không muốn bị lôi cuốn vào cuộc chiến mà có thể kích động gây ra một cuộc chiến với Mỹ.[38]

Ngày 12 tháng 1 năm 1950, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Dean Acheson đã nói rằng chu vi phòng thủ Thái Bình Dương được hình thành gồm có Quần đảo Aleutian, Nhật Bản, và Philippines, điều đó ám chỉ rằng Mỹ có thể không chiến đấu vì Triều Tiên. Acheson nói sự phòng thủ Triều Tiên sẽ là trách nhiệm của Liên hiệp quốc.[39]

Vào giữa năm 1949, Kim Nhật Thành gây áp lực với Stalin rằng thời cơ đã đến để thống nhất bán đảo Triều Tiên. Kim Nhật Thành cần sự giúp đỡ của Liên Xô để tiến hành thành công một cuộc tấn công ngang qua bán đảo nhiều đồi núi và địa hình khó khăn. Tuy nhiên, I. V. Stalin giữ quan điểm cho rằng công việc nội bộ của Triều Tiên phải do chính người Triều Tiên giải quyết, các thế lực bên ngoài không nên can thiệp.[cần dẫn nguồn]

Phía Nam Triều Tiên do Mỹ chiếm đóng đoạt lại quyền lực từ những "Ủy ban Nhân dân" được điều hành theo từng địa phương và đã thiết lập lại nhiều địa chủ và cảnh sát cũ, những người đã từng phục vụ Nhật Bản khi Triều Tiên còn dưới sự đô hộ của Nhật Bản. Những động thái này gặp phải sự chống đối nặng nề và sự phản kháng công khai ở một số phần của Nam Triều Tiên như các đảo ở phía Nam[40].

Sau một số vụ đụng độ ở biên giới (được cho là xuất phát từ lệnh của Mỹ), dường như cuộc chiến là không thể tránh khỏi. Những nhân chứng cho rằng việc đề xướng tái thống nhất đất nước của phía Bắc đã nhận được nhiều sự ủng hộ ở phía Nam[40]. Các tài liệu lưu trữ cho thấy[41][42][43] quyết định tấn công phía Nam là một quyết định của chính Kim Nhật Thành chứ không phải ý đồ từ Liên Xô.[44]

Do có một số lượng lớn số xe tăng của Liên Xô tuy đã lỗi thời nhưng vẫn là loại tối tân ở Triều Tiên cộng với các vũ khí nặng khác, Bắc Triều Tiên đã có thể leo thang các cuộc đụng độ ở biên giới và ngày càng chuyển sang công kích trong khi Nam Triều Tiên với hậu thuẫn giới hạn của Hoa Kỳ có ít sự chọn lựa hơn. Chính phủ Hoa Kỳ lúc đó tin rằng Khối Xã hội chủ nghĩa là một khối thống nhất, và những hành động của Bắc Triều Tiên là chủ trương của cái khối này như là một cái móng vuốt của Liên Xô. Vì thế, Hoa Kỳ xem đây như là một cuộc xung đột quốc tế hơn là một cuộc nội chiến.[cần dẫn nguồn]

Suốt một năm sau, Bắc Triều Tiên đã rèn luyện quân đội của họ thành một cỗ máy chiến tranh có tính tấn công khá ghê gớm, một phần dựa theo khuôn mẫu của một lực lượng cơ giới Liên Xô nhưng được tăng cường sức mạnh chính yếu bởi một làn sóng trở về của những người Triều Tiên đã phục vụ trong Quân Giải phóng Nhân dân của Trung Quốc từ thập niên 1930.[45] Đầu năm 1950 thời gian quyết định tấn công càng gấp rút đối với cả Bình NhưỡngMoskva vì thời gian này các lực lượng an ninh của Lý Thừa Vãn đã quét sạch được gần như tất cả các du kích quân do Bình Nhưỡng gửi vào Nam Triều Tiên trong năm 1949. Khả năng thống nhất đất nước dường như tiêu tan, và chính thể của Lý Thừa Vãn đang giành được lợi thế. Kim Nhật Thành đã có một chọn lựa cuối cùng là tấn công quân sự quy ước để thống nhất Triều Tiên dưới sự kiểm soát của ông trước khi Nam Triều Tiên trở nên đủ mạnh để có thể tự vệ.[38]

Vào năm 1950, quân đội Bắc Triều Tiên được trang bị với những vũ khí Xô Viết tuy đã lỗi thời nhưng nó vẫn có lợi thế vượt trội hơn nhiều so với lực lượng Nam Triều Tiên về mọi mặt. Ngày 30 tháng 1 năm 1950, Stalin, qua điện báo, thông báo cho Kim Nhật Thành hay rằng ông sẵn lòng giúp Kim Nhật Thành trong kế hoạch thống nhất Triều Tiên. Trong những cuộc thảo luận theo sau đó với Kim Nhật Thành, Stalin đề nghị: ông muốn lãnh đạo cuộc chiến và nói rằng một năm tối thiểu 25 ngàn tấn hàng viện trợ có lẽ sẽ giúp ích cho Bắc Triều Tiên chiến thắng. Sau những lần viếng thăm Moskva của Kim Nhật Thành trong tháng ba và tháng 4 năm 1950, Stalin chấp thuận một cuộc tấn công.[46]

Mao Trạch Đông đã phản đối mạnh mẽ kế hoạch của Bắc Triều Tiên xâm chiếm Hàn Quốc cho đến 6 tuần trước khi nổ ra cuộc tấn công và ông chỉ thay đổi chính sách sau khi có chỉ thị của Josef Stalin. Mao Trạch Đông đã bỏ qua lời khuyên của phần còn lại trong chính quyền phản đối cuộc chiến và trở thành người khởi xướng mạnh mẽ cho nó. Sự phản đối quyết liệt của Lâm Bưu, người đáng lẽ đã thống lĩnh các lực lượng Trung Quốc trong cuộc chiến khiến nhân vật này phải rời Trung Quốc sang Liên Xô một thời gian.[47][cần nguồn tốt hơn]

Ngày 19 tháng 1 năm 1950, Kim Nhật Thành nói với đại sứ Liên Xô rằng ông ta có kế hoạch tấn công xuống phía Nam để thống nhất đất nước. Stalin gửi một bức điện thể hiện ủng hộ kế hoạch, nhưng không nói gì với Mao Trạch Đông và cũng đồng ý cung cấp trong năm 1950 vũ khí và trang thiết bị đã cam kết cho năm 1951, để Kim Nhật Thành có thể tăng thêm 3 sư đoàn, nâng quân đội Bắc Triều Tiên lên 10 sư đoàn. Kim Nhật Thành bảo đảm với Stalin rằng ông có thể chiếm xong Hàn Quốc trước khi người Mỹ có thời gian cũng như ý định can thiệp. Mục đích của Stalin là muốn kiểm soát bán đảo Triều Tiên và dùng các cảng không bao giờ bị đóng băng là Inchon và Pusan cho hải quân Liên Xô, thay thế cho việc mất cảng Đại Liên (Trung Quốc) mà quân đội Liên Xô đã kiểm soát trong tháng 8 năm 1945.[cần dẫn nguồn]

Về mặt chính thức, Bắc Triều Tiên được cho là bên nổ súng trước và ngày 25 tháng 6 năm 1950 được coi là ngày mở màn chiến tranh. Tuy nhiên các tài liệu gần đây cho thấy thực ra trước đó khoảng 1 năm, tình hình Triều Tiên vốn đã trở nên căng thẳng và Nam Triều Tiên đã mở nhiều cuộc đột kích nhỏ mang tính khiêu khích nhằm vào Bắc Triều Tiên. Ngay từ tháng 6 năm 1949, hơn 250 biệt kích Nam Triều Tiên được cho là đã phát động một cuộc tấn công vào các làng ở Bắc Triều Tiên dọc theo bờ biển phía đông, với kết quả là đã có 200 biệt kích Nam Triều Tiên tử trận chỉ sau 2 tuần. Cuộc tấn công ngày 25 tháng 6 năm 1950 của Bắc Triều Tiên chỉ là kết quả của một loạt xung đột đã xảy ra từ trước và thực ra đến nay vẫn chưa rõ ai là bên khai chiến trước[48]

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ sơ lược Chiến tranh Triều Tiên.

Bắc Triều Tiên tấn công[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc tấn công của Quân đội Nhân dân Triều Tiên xảy ra vào sáng sớm ngày chủ nhật 25 tháng 6 năm 1950 bằng cách vượt qua vĩ tuyến 38 và được hậu thuẫn bởi một trận địa pháo bắn phá dữ dội vào phía trước.[45]

Được trang bị tốt với 135.438 binh sĩ[49] và 242 xe chiến đấu (bao gồm 150 xe tăng T-34 và vài chục pháo tự hành hạng nhẹ SU-76) của Liên Xô chế tạo, quân đội Bắc Triều Tiên bắt đầu cuộc chiến với khoảng 180 máy bay, gồm có 40 máy bay tiêm kích Yak và 70 máy bay ném bom tấn công. Tuy vậy, lực lượng hải quân vẫn còn khá thô sơ (so với hải quân Hoa Kỳ gần đó). Điểm yếu trầm trọng nhất của Bắc Triều Tiên là thiếu một hệ thống tiếp vận đáng tin cậy để di chuyển đồ tiếp liệu về miền Nam khi quân đội của họ tiến lên về phía trước, nhưng lực lượng Nam Triều Tiên còn yếu hơn nếu đem so với Bắc Triều Tiên. Hàng ngàn người dân chạy loạn về phía nam bị quân đội Nam Triều Tiên bắt buộc xách tay đồ tiếp liệu.

Quân đội Nam Triều Tiên có 64.697 binh sĩ[49] được quân đội Mỹ huấn luyện và trang bị. Tuy nhiên, quân Hàn Quốc không có xe tăng và rất thiếu xe bọc thép và pháo binh. Quân đội Nam Triều Tiên cũng không có máy bay tiêm kích, hoặc bất cứ pháo chống tăng nào. Không có đơn vị chiến đấu nào của ngoại quốc hiện diện tại đất nước khi chiến tranh bắt đầu, nhưng có nhiều lực lượng Hoa Kỳ đóng quân ở Nhật Bản gần đó.[50]

Cuộc tấn công được quân đội Bắc Triều Tiên hoạch định tốt với khoảng 135.000 quân, họ đạt được những thành công chớp nhoáng và bất ngờ.[50] Bắc Triều Tiên tấn công một số nơi quan trọng gồm có Kaesŏng, Chuncheon, UijeongbuOngjin.

Trong mấy ngày đầu giao chiến, các lực lượng Nam Triều Tiên, bị thua sút về quân số và vũ khí, ý chí chiến đấu thấp và thiếu lòng trung thành với chính phủ miền Nam, đã tháo lui toàn bộ hoặc đào ngũ hàng loạt sang quân đội Bắc Triều Tiên.[51] Quân đội Hàn Quốc từ 100.000 người nhanh chóng giảm xuống còn 25.000 người do thương vong hoặc đào ngũ. Chính Lý Thừa Vãn và các quan chức cao cấp của ông ta cũng trốn chạy khỏi Seoul, chuẩn bị thành lập "Chính phủ lưu vong” ở Nhật Bản.

Khi cuộc tấn công trên bộ tiếp tục, không quân Bắc Triều Tiên tiến hành oanh tạc Phi trường Kimpo gần Seoul. Các lực lượng Bắc Triều Tiên chiếm được Seoul trưa ngày 28 tháng 6, chỉ 3 ngày sau khi phát động tấn công. Trong cuộc tháo lui hoảng loạn, quân Nam Triều Tiên đã giật mìn đánh sập nhiều cây cầu để ngăn đà tiến của Bắc Triều Tiên, bất chấp việc có nhiều thường dân vẫn còn đi trên đó. Các hành động này không có tác dụng là bao, quân đội Bắc Triều Tiên nhanh chóng chiếm được 80% lãnh thổ miền nam, quân Nam Triều Tiên chỉ còn kiểm soát một vùng nhỏ ở quanh thành phố cảng Busan.

Tuy nhiên, niềm hy vọng của Bắc Triều Tiên về việc chính phủ của Lý Thừa Vãn đầu hàng, sự giải tán quân đội Nam Triều Tiên và đất nước thống nhất đã tan thành mây khói, khi Hoa Kỳ can thiệp vào cuộc chiến để giúp đỡ cho Nam Triều Tiên.

Phản ứng của phương Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc tấn công Nam Triều Tiên đến rất bất ngờ đối với Hoa Kỳ và các cường quốc phương Tây khác. Trong tuần trước đó, Acheson đã nói trước Quốc hội Hoa Kỳ vào ngày 20 tháng 6 là một cuộc chiến tranh như vậy khó có thể xảy ra.

Lính Mỹ từ giã gia đình lên đường tham chiến ở Triều Tiên

Việc Mỹ tham chiến có một số lý do như sau. Harry Truman là tổng thống thuộc Đảng Dân chủ Hoa Kỳ đang bị nhiều áp lực từ trong nước vì quá nhẹ tay đối với các nước theo chủ nghĩa cộng sản. Trong số những người gây áp lực với tổng thống có Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòaJoseph McCarthy, đặc biệt gay gắt nhất là những người tố cáo Đảng Dân chủ đã "làm mất Trung Hoa" vào tay Đảng cộng sản Trung Quốc. Sự can thiệp quân sự cũng là một việc áp dụng quan trọng học thuyết mới có tên là Học thuyết Truman, chủ trương chống đối lại chủ nghĩa cộng sản ở bất cứ nơi đâu mà nó tìm cách mở rộng. Những bài học của Hiệp ước Munich năm 1938 cũng có ảnh hưởng đến quyết định của Washington, khiến họ tin rằng nhân nhượng các quốc gia hiếu chiến chỉ khuyến khích thêm những hành động bành trướng.

Thay vì hối thúc Quốc hội tuyên chiến, Truman nghĩ rằng hành động như vậy làm mất thời giờ và gây náo động không cần thiết trong khi tình hình đang rất là cấp bách, ông quay sang xin chấp thuận từ Liên Hiệp quốc.

Ngay ngày chiến tranh chính thức bắt đầu (25 tháng 6), Liên Hiệp quốc nhanh chóng thảo ra Nghị quyết số 82 kêu gọi:[52]

  1. Chấm dứt Tất cả các hoạt động thù địch và Bắc Triều Tiên rút lui về Vĩ tuyến 38;
  2. Thành lập một Ủy ban Đặc trách về Triều Tiên của Liên Hiệp quốc để giám sát tình hình và báo cáo lại cho Hội đồng Bảo an;
  3. Yêu cầu tất cả các thành viên của Liên Hiệp quốc ủng hộ nghị quyết này của Liên Hiệp quốc, và tự kiềm chế không giúp đỡ cho chính phủ Bắc Triều Tiên.
Thủy quân lục chiến Hoàng gia Anh trong một nhiệm vụ chặn phá tiếp vận của quân địch, tháng 4 năm 1951.

Giải pháp được thông qua dễ dàng tại Hội đồng Bảo an do có sự vắng mặt tạm thời của Liên Xô trong Hội đồng Bảo an — Liên Xô tẩy chay Hội đồng Bảo an và phản đối rằng chiếc ghế của Trung Quốc ở Hội đồng Bảo an phải được chuyển từ tay Trung Hoa Dân Quốc sang Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Do Liên Xô vắng mặt nên giải pháp không bị phủ quyết (5 thành viên thường trực có quyền phủ quyết là Anh, Pháp, Trung Hoa Dân quốc, Liên XôHoa Kỳ), và chỉ có Nam Tư bỏ phiếu trắng, Liên Hiệp quốc bỏ phiếu thông qua việc giúp Nam Triều Tiên vào ngày 27 tháng 6. Giải pháp đưa đến hành động trực tiếp của Mỹ. Lực lượng Mỹ có thêm binh sĩ và tiếp liệu đến từ 15 thành viên khác của Liên Hiệp quốc: Canada, Úc, New Zealand, Anh, Pháp, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Hy Lạp, Hà Lan, Ethiopia, Colombia, Philippines, Bỉ, và Luxembourg. Tuy nhiên, Mỹ góp 50% lực lượng bộ binh (Nam Triều Tiên phần còn lại), 86% lực lượng hải quân, và 93% không quân.[53]

Liên Xô và đồng minh của họ không thừa nhận giải pháp này với lý do là nó bất hợp pháp vì có một thành viên thường trực của hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc vắng mặt trong cuộc bỏ phiếu. Đối đầu lại điều này, quan điểm đưa ra là một thành viên thường trực của hội đồng phải thật sự phủ quyết để đánh bại giải pháp. Chính phủ Bắc Triều Tiên cũng không đồng ý và lý giải rằng cuộc xung đột này là một cuộc nội chiến, và vì vậy không nằm trong tầm giải quyết của Liên Hiệp Quốc. Năm 1950, một giải pháp của Liên Xô đưa ra kêu gọi chấm dứt thù địch và rút các lực lượng ngoại quốc đã bị bác bỏ.[54]

Dư luận công chúng Mỹ đồng lòng đứng sau cuộc can thiệp này. Tuy nhiên, sau đó Truman bị chỉ trích nặng nề vì không xin phép tuyên chiến từ Quốc hội trước khi gửi quân sang Triều Tiên. Vì thế, một số người gọi đây là "Cuộc chiến tranh của Truman", và rằng việc Hoa Kỳ tham chiến ở Triều Tiên đã vi phạm tinh thần và nội dung của Hiến pháp Hoa Kỳ.

Can thiệp của Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Pháo tự hành SU-76 Liên Xô viện trợ cho Bắc Triều Tiên bị lực lượng Mỹ tiêu diệt

Mặc dù việc giảm bớt lực lượng Hoa Kỳ và Đồng minh sau Chiến tranh thế giới thứ hai gây ra nhiều vấn đề tiếp vận trầm trọng cho quân đội Mỹ trong vùng nhưng Mỹ vẫn có đủ lực lượng tại Nhật Bản để đối phó với quân đội Bắc Triều Tiên với các trang bị đa số đã lỗi thời của Liên Xô. Các lực lượng này của Mỹ nằm dưới quyền chỉ huy của Thống tướng Douglas MacArthur. Ngoài các đơn vị của Khối thịnh vượng chung, không có quốc gia nào khác cung cấp nguồn nhân lực đáng kể.

Sau khi nghe báo cáo về chiến sự toàn diện nổ ra tại Triều Tiên, Tổng thống Truman ra lệnh cho Tướng MacArthur chuyển đạn dược đến cho quân đội của Nam Triều Tiên trong lúc đó dùng phương tiện hàng không để che chở việc di tản các công dân Hoa Kỳ. Truman không đồng ý tiến hành các cuộc không kích đơn phương của Mỹ chống lại các lực lượng Bắc Triều Tiên theo ý kiến các cố vấn của ông, nhưng ông đã ra lệnh cho Hạm đội Một bảo vệ Đài Loan của Tưởng Giới Thạch, chấm dứt chính sách không can thiệp vào chuyện nội bộ của Trung Hoa vẫn được Mỹ thực hiện trước đó. Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc yêu cầu được tham chiến tại Triều Tiên tuy nhiên bị người Mỹ từ chối vì người Mỹ sợ chuyện này chỉ khiến Cộng hòa Nhân dân Trung hoa can thiệp vào cuộc chiến.

Binh sĩ Hoa Kỳ tại Triều Tiên.

Sự can thiệp lớn nhất và đầu tiên của quân đội ngoại quốc là Lực lượng Đặc nhiệm Smith (Task Force Smith) của Hoa Kỳ, một đơn vị của Sư đoàn Bộ binh số 24 Bộ binh của Mỹ đóng ở Nhật Bản. Ngày 5 tháng 7, lực lượng này chiến đấu lần đầu tiên ở Osan và bị bại trận với thương vong cao. Lực lượng chiến thắng của Bắc Triều Tiên tiến quân về phía Nam, và Sư đoàn bộ binh số 24 với sức mạnh còn phân nửa bị buộc phải rút quân về Taejeon là nơi cũng bị rơi vào tay quân Bắc Triều Tiên. Tướng William F. Dean bị bắt làm tù binh.

Vào tháng tám, các lực lượng Nam Triều Tiên và Quân đoàn 8 Hoa Kỳ bị đẩy lui vào một vùng nhỏ trong cạnh Đông Nam của bán đảo Triều Tiên quanh thành phố Pusan. Trong khi quân đội Bắc Triều Tiên tiến công, họ vây bắt và tàn sát những công chức dân sự.[55] Ngày 20 tháng 8, MacArthur gởi một thông điệp cảnh báo Kim Nhật Thành rằng ông ta phải chịu trách nhiệm cho các hành động tàn bạo chống quân đội Liên Hiệp Quốc.[46]

Vào tháng chín, chỉ có vùng xung quanh thành phố Pusan—khoảng 10% Bán đảo Triều Tiên—vẫn còn nằm trong tay lực lượng đồng minh. Với sự hỗ trợ tiếp vận lớn lao của Mỹ, không quân yểm trợ, và viện quân, các lực lượng của Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên đã giữ vững được phòng tuyến dọc theo sông Nakdong. Hành động bám giữ liều lĩnh này trở thành nổi tiếng tại Hoa Kỳ với tên gọi là Vành đai Pusan. Mặc dù có thêm lực lượng của Liên Hiệp Quốc đến tiếp tay, tình thế trở nên nguy kịch, và dường như Bắc Triều Tiên sẽ thành công trong việc thống nhất bán đảo.

Đồng minh củng cố lực lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trận Vành đai Pusan
Xe tăng M-24 tại phòng tuyến sông Naktong ngày 17 tháng 8 năm 1950

Đối diện với các cuộc tấn công dữ dội của Bắc Triều Tiên, phòng tuyến của đồng minh trở thành một trận đánh liều lĩnh mà người Mỹ gọi là Trận Vành đai Pusan. Tuy nhiên, Bắc Triều Tiên đã không thành công trong việc chiếm Pusan.

Không lực Hoa Kỳ đến với số lượng lớn, thực hiện 40 phi vụ một ngày trong những hành động hỗ trợ bộ binh, nhắm vào các lực lượng Bắc Triều Tiên nhưng cũng gây ra sự tàn phá to lớn đến người dân cũng như các thành phố. Các máy bay ném bom chiến thuật (đa số là oanh tạc cơ B-29 có căn cứ ở Nhật Bản) gây ngừng lưu thông đường sá và đường xe hỏa trong ban ngày, và tàn phá 32 cây cầu thiết yếu không chỉ cần thiết cho chiến tranh mà còn quan trọng đối với việc di tản của người dân. Xe lửa dùng cho cả quân sự và dân sự đều phải nằm chờ đợi lúc ban ngày bên trong các đường hầm.

Khắp nơi trên Triều Tiên, các máy bay ném bom Hoa Kỳ thi nhau đánh bom các kho tiếp liệu chính và phá hủy các nhà máy lọc dầu và hải cảng nhận hàng nhập cảng cũng như tiếp liệu quân sự để làm cạn kiệt lực lượng Bắc Triều Tiên. Không lực hải quân cũng tấn công các điểm chuyển vận. Lực lượng Bắc Triều Tiên đã bị kéo giãn ra trên toàn bán đảo, và sự tàn phá do bị các máy bay ném bom của Hoa Kỳ gây ra đã ngăn ngừa đồ tiếp liệu cần thiết tới lực lượng Bắc Triều Tiên ở miền nam.

Pháo 57 mm chống tăng của Nam Triều Tiên tại phi trường Suwon năm 1950

Kim Nhật Thành khiếp sợ khi chứng kiến hiệu quả tàn phá của không quân Mỹ mà quân Bắc Triều Tiên không có cách nào ngăn chặn được. Kim khẩn cầu Stalin hỗ trợ quân sự, nếu không từ Liên Xô thì cũng từ các quốc gia cộng sản khác nhưng không muốn gửi quân và đối mặt với nguy cơ gây chiến cùng Mỹ, Stalin gửi một bức điện cho Mao Trạch Đông: "Theo tình hình hiện nay, nếu Trung Quốc có thể hỗ trợ quân sự cho Bắc Triều Tiên thì 5-6 sư đoàn sẽ là ổn thỏa để tiến tới vĩ tuyến 38. Vai trò của họ sẽ là quân tình nguyện và dĩ nhiên, họ nằm dưới sự chỉ huy của Trung Quốc".[47]

Trong lúc đó, các căn cứ tiếp liệu tại Nhật Bản đưa vũ khí và binh sĩ Liên hiệp quốc ào ạt vào Pusan. Các tiểu đoàn xe tăng Hoa Kỳ từ San Francisco được cấp bách đưa vào Triều Tiên; vào cuối tháng tám, Hoa Kỳ có trên 500 xe tăng loại trung tại vành đai Pusan. Đầu tháng chín, các lực lượng Liên Hiệp Quốc và Nam Triều Tiên được củng cố mạnh hơn và đông hơn lực lượng quân sự Bắc Triều Tiên (đồng minh 180.000 quân so với Bắc Triều Tiên 100.000 quân). Vào thời điểm đó, đồng minh bắt đầu một cuộc phản công.[50]

Sau nhiều yêu cầu trợ giúp từ Trung Quốc và Bắc Triều Tiên để chống lại sức mạnh của không quân Mỹ, Stalin buộc phải cử hàng trăm máy bay chiến đấu MiG sang Triều Tiên. Không quân Liên Xô đào tạo các phi công Trung Quốc hoặc dùng phi công của mình mặc quân phục Trung Quốc và nói tiếng Trung để vẫn giữ danh nghĩa rằng Liên Xô không can thiệp và tránh xung đột trực tiếp với Mỹ.

Tái chiếm Nam Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng Hoa Kỳ đổ bộ lên bến cảng một ngày sau khi Trận Incheon bắt đầu.

Đối diện với các cuộc tăng viện áp đảo của Liên Hiệp Quốc, lực lượng Bắc Triều Tiên tự nhận thấy mình có quân số ít hơn và có hỗ trợ tiếp liệu yếu kém. Họ cũng thiếu hỗ trợ của không quân và hải quân so với Mỹ. Để giảm sức ép đối với Vành đai Pusan, Tướng MacArthur, tổng tư lệnh lực lượng Liên Hiệp Quốc tại Triều Tiên, đã ra lệnh cho một cuộc đổ bộ từ biển vào bờ xa phía sau phòng tuyến của Bắc Triều Tiên tại Incheon (인천; 仁川, Nhân Xuyên), một thành phố và là hải cảng lớn ven bờ biển Hoàng Hải của Nam Triều Tiên, gần Seoul.

Thủy triều cao và sự hiện hữu của một lực lượng quân địch mạnh làm cho cuộc đổ bộ này trở thành một chiến dịch cực kỳ mạo hiểm. MacArthur bắt đầu hoạch định chiến dịch này vài ngày sau khi chiến tranh khởi sự nhưng Lầu Năm Góc mạnh mẽ bác bỏ kế hoạch này. Cuối cùng khi được phép, MacArthur tập hợp Quân đoàn X dưới quyền của Tướng Edward Almond gồm có 70.000 quân từ Sư đoàn Thủy quân lục chiến số 1, Sư đoàn Bộ binh số 7 và tăng phái với 8.600 quân người Triều Tiên và ra lệnh cho họ đổ bộ tại Incheon trong Chiến dịch Chromite. Vào lúc tấn công đổ bộ ngày 15 tháng 9, nhờ vào thám báo của các du kích quân Nam Triều Tiên, sự cố tình tạo ra thông tin sai lạc và các cuộc pháo kích kéo dài trước khi đổ bộ, thêm vào đó lực lượng Bắc Triều Tiên có rất ít quân đóng tại Incheon nên lực lượng Mỹ chỉ gặp sự chống trả yếu ớt khi họ đổ bộ lên Incheon.

Cuộc đổ bộ là một chiến thắng quyết định khi Quân đoàn 10 tiến công tràn ngập quân phòng thủ vốn ít hơn và đe dọa bao vây quân đội chính quy của Bắc Triều Tiên. MacArthur nhanh chóng tái chiếm Seoul. Quân đội Bắc Triều Tiên bị cắt đứt tuyến tiếp vận, nên phải nhanh chóng rút lui về phía bắc; khoảng 25.000 đến 30.000 quay trở lại.[56][57]

Sau khi tái chiếm lại Nam Triều Tiên, Lý Thừa Vãn ra lệnh tiến hành thảm sát hàng loạt những người dân bị tình nghi ủng hộ Bắc Triều Tiên, gây ra Thảm sát Bodo League (giết chết 100.000[58][cần số trang] tới 200.000[59] người), diễn ra suốt mùa hè năm 1950. Đây là một trong những vụ thảm sát lớn nhất châu Á kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Đánh lên Bắc Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng Liên Hiệp Quốc (gồm chủ yếu là quân Mỹ) đẩy lui quân Bắc Triều Tiên ngược qua Vĩ tuyến 38. Mục tiêu cứu chính phủ Nam Triều Tiên của Mỹ đã đạt được nhưng vì bị quyến rũ bởi sự thành công và viễn cảnh thống nhất Triều Tiên dưới tay chính phủ Lý Thừa Vãn nên lực lượng Liên Hiệp Quốc tiến quân vào Bắc Triều Tiên. Sự kiện này đánh dấu khoảnh khắc quan trọng trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ khi các nhà lãnh đạo của Hoa Kỳ quyết định đi xa hơn là chỉ đơn thuần "ngăn chặn" mối đe dọa thấy rõ của cộng sản. Các vấn đề khác gồm có tác dụng tâm lý về việc tiêu diệt được một quốc gia cộng sản chủ nghĩa và giải thoát các tù nhân chiến tranh.

Chiến sự trong thành phố tại Seoul, 1950, khi Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ chiến đấu giữ thành phố chống quân Bắc Triều Tiên.

Các lực lượng Liên Hiệp Quốc vượt qua biên giới tiến vào Bắc Triều Tiên đầu tháng 10 năm 1950. Quân đoàn 10 của Mỹ đổ bộ từ biển vào bờ tại WonsanIwon. Hai nơi này đã bị quân đội Nam Triều Tiên tiến công trên bộ chiếm được. Các lực lượng còn lại của Hoa Kỳ sát cánh với quân Nam Triều Tiên tiến quân theo phía bờ tây của Triều Tiên và chiếm được Bình Nhưỡng ngày 19 tháng 10. Đến cuối tháng 10, quân đội Bắc Triều Tiên tan rã nhanh chóng, và quân Liên Hiệp Quốc bắt được 135.000 tù binh.

Cuộc tiến công của Liên Hiệp Quốc gây lo ngại rất lớn cho Trung Quốc. Họ lo lắng lực lượng Liên Hiệp Quốc sẽ không dừng lại ở Sông Áp Lục là ranh giới giữa Triều Tiên và Trung Quốc mà sẽ mở rộng chiến tranh vào lãnh thổ Trung Quốc. Nhiều người ở Tây phương bao gồm Tướng MacArthur nghĩ rằng mở rộng chiến tranh vào Trung Quốc là cần thiết. Tuy nhiên, Truman và những nhà lãnh đạo khác không đồng ý, và MacArthur được lệnh phải cẩn trọng khi tiến tới biên giới Trung Quốc. Dần dần, MacArthur không còn quan tâm đến lệnh của Tổng thống nữa và cho rằng quân đội Bắc Triều Tiên sẽ được tiếp tế qua các căn cứ tại Trung Quốc nên các căn cứ đó phải bị dội bom. Tuy nhiên, trừ một vài dịp hiếm hoi, các máy bay ném bom Liên Hiệp Quốc vẫn cách xa tầm bay đến Mãn Châu trong suốt cuộc chiến.

Trung Quốc tham chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Xác 1 binh sĩ Trung Quốc

Trung Quốc cảnh cáo các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ qua các nhà ngoại giao trung lập rằng họ sẽ can thiệp để bảo vệ nền an ninh quốc gia. Truman xem các lời cảnh báo này như "một mưu toan táo bạo để hù dọa Liên Hiệp Quốc" và không coi trọng nó lắm. Ngày 15 tháng 10 năm 1950, Truman đến Đảo Wake để họp ngắn ngủi với MacArthur. Cục Tình báo Trung ương Mỹ trước đây có cho Truman biết rằng việc Trung Quốc tham chiến là không thể xảy ra. MacArthur suy đoán rằng có ít rủi ro về một cuộc chiến với Trung Quốc. MacArthur cho rằng Trung Quốc đã mất dịp giúp Bắc Triều Tiên. Ông ước tính Trung Quốc có 300.000 quân tại Mãn Châu với khoảng từ 100.000-125.000 quân dọc theo Sông Áp Lục; phân nửa quân số đó có thể vượt qua sông Áp Lục. Nhưng Trung Quốc không có lực lượng không quân, vì thế, "nếu Trung Quốc cố tràn xuống Bình Nhưỡng thì sẽ có một cuộc đại tàn sát."[56][60] MacArthur nhận định rằng Trung Hoa muốn tránh bị thiệt hại nặng nề.

Binh sĩ Mỹ dùng pháo binh 105 mm gần Uirson tháng 8 năm 1950.

Ngày 8 tháng 10 năm 1950, một ngày sau khi quân đội Mỹ vượt vĩ tuyến 38, Chủ tịch Mao Trạch Đông phát lệnh tập kết Chí nguyện quân Nhân dân Trung Quốc. Bảy mươi phần trăm thành viên của Chí nguyện quân là quân đội hiện dịch của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Mao ra lệnh quân đội di chuyển đến sông Áp Lục, sẵn sàng vượt sông. Mao Trạch Đông tìm sự trợ giúp của Liên Xô và coi sự can thiệp vào Triều Tiên là một hành động tự vệ cần thiết: "Nếu chúng ta để cho Hoa Kỳ chiếm đóng toàn Triều Tiên...chúng ta phải chuẩn bị chờ Hoa Kỳ tuyên chiến với Trung Hoa," ông nói với Stalin như vậy. Thủ tướng Chu Ân Lai được phái đến Moskva để tăng thêm cường độ cho những lý lẽ qua điện thoại của Mao. Mao trì hoãn trong lúc chờ đợi sự chi viện lớn từ Liên Xô, hủy bỏ cuộc tấn công đã hoạch định từ 13 tháng 10 đến 19 tháng 10. Tuy nhiên, sự giúp đỡ của Liên Xô chỉ giới hạn cung cấp yểm trợ bằng không quân không quá 60 dặm Anh (100 km) từ mặt trận. Các phi cơ MiG-15 của Liên Xô trong màu sắc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một sự thách thức nghiêm trọng đối với các phi công Liên Hiệp Quốc. Tại một khu vực có biệt danh là "Hành lang MiG" (MiG Alley - do các lực lượng Liên Hiệp Quốc đặt), các phi cơ của Liên Xô có ưu thế hơn đối thủ với các phi cơ F-80 do Hoa Kỳ chế tạo (Lockheed F-80 Shooting Stars) cho đến khi các phi cơ F-86 (North American F-86 Sabre) được triển khai. Người Trung Quốc rất giận dữ trước việc tham chiến có giới hạn của Liên Xô vì họ cứ đinh ninh rằng họ đã được hứa cung ứng yểm trợ không quân toàn diện. Mỹ biết rõ vai trò của Liên Xô nhưng vẫn giữ im lặng để tránh một khả năng leo thang chiến tranh thành một cuộc chiến tranh hạt nhân.

Chạng vạng tối ngày 19 tháng 10 năm 1950, trong cơn mưa lạnh, các quân đoàn 40, 39, 42, 38 và ba sư đoàn pháo binh Quân Chí nguyện nhân dân Trung Quốc cùng một lúc lần lượt vượt sông Áp Lục ở ba bến An Lạc, Trường Miến, và Tập An bí mật tiến vào Triều Tiên.

Quân Trung Quốc đối mặt với quân đội Hoa Kỳ ngày 25 tháng 10 năm 1950 với 270.000 quân dưới quyền tư lệnh của tướng Bành Đức Hoài khiến cho Liên Hiệp Quốc rất ngạc nhiên vì không lường trước được mức độ quân số đông đảo đến như vậy lại đột ngột xuất hiện. Tuy nhiên, sau những vụ đụng độ ban đầu, các lực lượng Trung Quốc rút lui vào vùng núi. Các nhà lãnh đạo Liên Hiệp Quốc coi sự rút lui của Trung Quốc như là một dấu hiệu yếu thế và đánh giá sai lầm trầm trọng khả năng tác chiến của Trung Quốc. Thế nên các lực lượng Liên hiệp quốc tiếp tục tiến công về sông Áp Lục không đếm xỉa gì đến những lời cảnh cáo của Bắc Kinh.

Tình báo Mỹ, sơ sài trong suốt giai đoạn này vì nhiều lý do, đã không làm việc hiệu quả tại Bắc Triều Tiên cũng như đã từng không hiệu quả tại Nam Triều Tiên trong những ngày có cuộc bao vây tại Vành đai Pusan. Để giữ bí mật, quân Trung Quốc hành quân bằng cách đi bộ và ngủ trong rừng nên giảm thiểu tối đa sự phát hiện của đối phương. Trong một trường hợp có ghi chép kỹ càng, một quân đoàn của Trung Quốc gồm có ba sư đoàn hành quân bằng chân đất từ An Tung ở Mãn Châu, phía bắc cách sông Áp Lục khoảng 286 dặm (460 km) đến nơi tập kết tại Bắc Triều Tiên trong khoảng một thời gian dài từ 16 đến 19 ngày. Một sư đoàn của quân đoàn này hành quân vào ban đêm trên những con đường núi ngoằn ngoèo, trung bình đi được 18 dặm (29 km) một ngày trong vòng 18 ngày. Cuộc hành quân trong bắt đầu từ sau khi chập tối lúc 19 giờ và kết thúc lúc 3 giờ sáng hôm sau. Những phương án trú ẩn chống phi cơ phải hoàn thành trước 5 giờ 30 sáng. Tất cả mọi người, thú vật và các trang bị được che giấu hay ngụy trang. Trong ban ngày chỉ có các nhóm trinh sát được ngụy trang di chuyển về phía trước để chọn lựa khu đóng quân ngoài trời của ngày hôm sau. Khi các đơn vị của Trung Quốc bắt buộc phải hành quân vào ban ngày vì bất cứ lý do gì, họ luôn tuân thủ lệnh dừng lại ngay tại chỗ và không cử động khi có máy bay xuất hiện trên đầu. Các sĩ quan có quyền bắn hạ bất cứ binh sĩ nào vi phạm lệnh này.[50]

Từ ngày 25 tháng 10 đến ngày 5 tháng 11 (1950) là chiến dịch đầu tiên của Trung Quốc. Quân Trung Quốc dùng 2 sư đoàn của quân đoàn 42 tổ chức phòng ngự ở khu vực Hoàng Thảo Lĩnh, Phó Chiến Lĩnh thuộc mặt trận miền đông, lại dùng 3 quân đoàn và một sư đoàn của quân đoàn 42 (sau tăng thêm 2 quân đoàn) phản kích ở mặt trận miền Tây. Chiến dịch này đã đánh lui quân Mỹ đến phía nam sông Thanh Xuyên. Ngày 7 tháng 11, các quân đoàn 20, 26, 27 thuộc Binh đoàn 9 quân Chí nguyện dưới quyền chỉ huy của Tư lệnh kiêm Chính uỷ Tống Thời Luân tiến vào Triều Tiên. Tới lúc này, binh lực tác chiến của Trung Quốc lên tới 9 quân đoàn gồm 30 sư đoàn, tổng cộng hơn 380.000 quân, chiếm ưu thế hơn so với quân Liên Hợp Quốc gồm 5 quân đoàn, 13 sư đoàn, 3 lữ đoàn, tổng cộng 220.000 quân.

Cuối tháng 11, Trung Quốc đánh vào phía tây, dọc theo sông Chongchon, hoàn toàn áp đảo một số sư đoàn của Nam Triều Tiên và đánh một đòn chí tử vào sườn các lực lượng còn lại của Liên Hiệp Quốc. Ở mặt trận phía tây, quân Chí nguyện tiêu diệt sư đoàn 7 quân Nam Triều Tiên, đánh quị sư đoàn 2 quân Mỹ. Ở mặt trận phía đông, đánh quị sư đoàn thủy quân lục chiến 1, sư đoàn bộ binh 2 quân Mỹ. Tình hình đó buộc McAthur phải ra lệnh cho quân Mỹ và quân Nam Triều Tiên rút lui toàn bộ. Tư lệnh tập đoàn quân số 8 quân Mỹ trong khi rút lui đã chết vì tai nạn xe.

Thất bại của Quân đoàn 8 đã tạo nên một cuộc rút lui dài nhất của một đơn vị quân đội Mỹ trong lịch sử.[61] Tại miền đông, trong Trận hồ nước Chosin, một đơn vị 30.000 người của Sư đoàn Bộ binh số 7 Mỹ cũng chưa chuẩn bị kịp cho những cuộc tấn công chiến thuật của Trung Quốc và chẳng bao lâu bị bao vây, mặc dù cuối cùng họ phá được vòng vây nhưng bị thương vong 15.000 người. Tại trận này, Thủy quân lục chiến Mỹ cũng bị đánh bại và bắt buộc rút lui sau khi gây ra những thiệt hại nặng nề cho sáu sư đoàn quân Trung Quốc.[62]

Chí nguyện quân Trung Hoa chiến đấu bằng súng Degtyarov DP

Các chiến thắng của quân đội Trung Quốc cho thấy họ là một đối thủ đáng gờm với quân Mỹ, ngay cả khi quân Trung Quốc yếu thế hơn nhiều về hỏa lực. Quân Trung Quốc không có xe tăng, cũng không có không quân yểm trợ, nhưng họ có các binh sỹ có tinh thần chiến đấu tốt, kỷ luật cao cùng chiến thuật hợp lý. Trong khi các binh sĩ Trung Quốc ban đầu thiếu yểm trợ của hỏa lực nặng và vũ khí bộ binh hạng nhẹ, chiến thuật của họ nhanh chóng điều chỉnh thích hợp cho sự bất lợi này như Bevin Alexander giải thích trong cuốn "How Wars Are Won" (Cách thế nào để thắng các cuộc chiến tranh):

Phương cách thông thường là xâm nhập các đơn vị nhỏ của địch từ một trung đội 50 người đến một đại đội 200 người, bằng cách phân tán thành nhiều nhóm riêng lẻ. Trong lúc một đội cắt đường rút lui của người Mỹ, các đội khác đánh thẳng cả mặt trước và hai bên sườn trong các cuộc tiến công phối hợp nhịp nhàng. Các cuộc tiến công tiếp tục vào các phía cho đến khi những người phòng thủ bị tiêu diệt hoặc bắt buộc phải rút lui. Người Trung Quốc bò lên phía trước đến sườn mở nơi đóng chốt của trung đội kế tiếp và lập lại chiến thuật này.

Roy Appleman làm sáng tỏ hơn các chiến thuật ban đầu của Trung Quốc như sau:

Trong giai đoạn đầu tiến công, các lực lượng bộ binh thiện chiến nhẹ đã thực hiện các cuộc tấn công của Trung Quốc, nói chung không được yểm trợ với bất kỳ loại vũ khí hạng nặng nào ngoài súng cối (mortars). Các cuộc tấn công đã chứng minh rằng binh sĩ Trung Quốc là những chiến binh có kỷ luật và được huấn luyện kỹ lưỡng, và đặc biệt lão luyện trong chiến đấu về đêm. Họ có tài về nghệ thuật ngụy trang. Các đội trinh sát rất thành công đáng kể trong việc phát hiện các vị trí của các lực lượng Liên Hiệp Quốc. Họ hoạch định các cuộc tấn công vào phía sau lưng của các lực lượng này, cắt đường rút lui và đường tiếp vận của quân địch, và rồi sau đó xung trận đánh vào mặt trước và bên sườn để kết thúc trận chiến. Họ cũng áp dụng một chiến thuật gọi là Hachi Shiki tạo thành một đội hình chữ V mà họ để cho quân địch di chuyển trong đó; hai cạnh của chữ V sau đó được khép lại quanh quân địch trong khi đó một lực lượng khác di chuyển phía dưới miệng chữ V để đón chặn bất cứ lực lượng nào cố giải vây cho đơn vị bị bao vây. Các chiến thuật như thế của Trung Hoa đã được sử dụng với những thành công to lớn tại Onjong, Unsan, và Ch'osan, nhưng chỉ thành công một phần tại Pakch'on và Ch'ongch'on.[50]
Pháo binh Hoa Kỳ yểm trợ cho Bộ binh tiến công tại Soyong, Nam Triều Tiên

Lực lượng Hoa Kỳ tại đông bắc Triều Tiên, từng tiến công chớp nhoáng chỉ một vài tháng trước đây, bị bắt buộc phải rút chạy về miền nam nhanh hết mức có thể để hình thành một vành đai phòng thủ quanh thành phố hải cảng Hungnam, nơi mà sau đó một cuộc di tản lớn được thực hiện cuối tháng 12 năm 1950. Trước nguy cơ đối diện với sự bại trận hoàn toàn và đầu hàng, 193 lượt tàu chở các quân nhân Mỹ và trang thiết bị đã rời bến di tản khỏi Bến cảng Hungnam. Khoảng 105.000 binh sĩ, 98.000 thường dân, 17.500 xe các loại, và 350.000 tấn tiếp liệu được tàu chở đến Pusan trong vòng trật tự. Khi họ đã bỏ đi, các lực lượng Mỹ đã đánh sập phần lớn thành phố để không cho quân đội Trung Quốc sử dụng, khiến nhiều người dân Triều Tiên không có nơi trú thân trong mùa đông.[56][63]

Chiến sự ngang qua Vĩ tuyến 38 (đầu năm 1951)[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay B-26 oanh tạc những kho tiếp liệu tại Wonsan, Bắc Triều Tiên, 1951.

Đối với Trung Quốc, Kim Nhật Thành là một đối tác khó tính. Đầu tiên, ông từ chối hợp nhất các lực lượng của mình dưới sự chỉ huy của Bành Đức Hoài cho dù lính Trung Quốc chiếm đa số quân đội. Kim chỉ đồng ý sau khi nhận được một chỉ thị từ Stalin. Kim Nhật Thành cũng tranh cãi với Bành Đức Hoài vào đầu năm 1951 xung quanh việc liệu có nên vượt vĩ tuyến 38 vì Kim Nhật Thành ra lệnh tiến quân, song Bành Đức Hoài từ chối và vấn đề chỉ được dàn xếp sau khi có một chỉ thị từ Stalin ủng hộ Bành Đức Hoài.[47]

Nhà sử học Trung Quốc Trần Lâm cho rằng Mao Trạch Đông đã gửi ra chiến trường các binh sĩ từ quân đội Quốc dân đảng đã đầu hàng: "Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc thực tế không muốn thu nhận họ. Động cơ của Mao Trạch Đông khi tham chiến là để thu hút sự chú ý và công nhận Trung Quốc như một cường quốc, đồng thời đoàn kết người dân trong một cuộc chiến yêu nước".

Tháng giêng năm 1951, các lực lượng Trung Quốc và Bắc Triều Tiên lại đánh mạnh trong giai đoạn tiến công thứ ba (được biết với tên gọi Cuộc tiến công mùa đông của Trung Quốc). Quân Trung Quốc lặp lại các chiến thuật trước đây của họ là tấn công chủ yếu là vào đêm với cách đánh thăm dò từ các vị trí xa mặt trận theo sau là một đợt xung phong với số lượng quân áp đảo, và dùng kèn, cồng chiêng để liên lạc và đánh lạc hướng quân địch. Các lực lượng Liên Hiệp Quốc không có phương cách hữu hiệu để chống lại chiến thuật này, và sức kháng cự của họ sa sút nên họ rút lui nhanh về miền nam. Seoul bị bỏ lại và bị các lực lượng Trung Quốc và Bắc Triều Tiên chiếm được vào ngày 4 tháng 1 năm 1951.

Khó khăn thêm gia tăng cho Quân đoàn 8 khi Tướng Walker bị giết chết trong một vụ tai nạn. Trung tướng Matthew Ridgway, một cựu chiến binh nhảy dù trong Chiến tranh thế giới thứ hai lên thay và nhanh chóng nâng sĩ khí và tinh thần chiến đấu của Quân đoàn 8 vốn đã quá kiệt quệ và sa sút trong cuộc rút lui. Tuy nhiên tình thế quá khắc nghiệt đến nỗi Tướng Douglas MacArthur thậm chí nói đến việc sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại Trung Quốc, gây nhiều lo ngại cho các đồng minh của Mỹ.

Tù binh Trung Quốc bị bắt giữ tại Koto-ri

Các lực lượng Liên Hiệp Quốc tiếp tục rút lui cho đến khi họ tới phòng tuyến chạy dài từ phía nam Suwon ở miền tây, Wonju ở giữa, và phía bắc Samchok ở miền đông là nơi mặt trận được ổn định. Quân Chí nguyện của Trung Quốc đã bỏ xa đường tiếp vận của họ nên gặp khó khăn khi tiến ra xa khỏi Seoul vì họ đang ở cuối đường vận chuyển tiếp liệu. Do thiếu phương tiện cơ giới, lại bị không quân Hoa Kỳ đe dọa nên tất cả lương thực và đạn dược của quân Trung Quốc phải được vận chuyển vào ban đêm bằng chân hoặc xe đạp từ sông Áp Lục, cách cận chuyển này không thể đủ đáp ứng nhu cầu của mặt trận ở xa hàng trăm km. Tướng Bành Đức Hoài ra lệnh cho các lực lượng của ông ngừng tiến công và chuyển sang phòng ngự.

Cuối tháng giêng, sau khi nhận thấy các phòng tuyến phía trước lực lượng của ông bị bỏ hoang, Tướng Ridgway ra lệnh tiến hành thám thính mà sau đó biến thành một cuộc tiến công toàn diện có tên gọi là "Operation Roundup" (Chiến dịch Bố ráp). Chiến dịch được hoạch định tiến hành từng bước một, tận dụng ưu thế hỏa lực trên mặt đất và trên không của Liên Hiệp Quốc. Vào lúc kết thúc Chiến dịch Bố ráp vào đầu tháng hai, các lực lượng Liên Hiệp Quốc đã tiến tới sông Hán và tái chiếm Wonju.

Một binh sĩ Trung Quốc bị giết bởi Thủy quân lục chiến Mỹ thuộc Sư đoàn Thủy quân lục chiến số một trong một cuộc tấn công trên Đồi 105 năm 1951.

Trung Quốc phản công vào giữa tháng hai bằng Cuộc tiến công giai đoạn bốn từ Hoengsong ở miền trung chống các vị trí của Quân đoàn IX Mỹ quanh Chipyong-ni. Các đơn vị của Sư đoàn Bộ binh số 2, gồm có Tiểu đoàn Pháp tại Triều Tiên đã đánh trả một cuộc bao vây ngắn ngủi nhưng dữ dội và cuối cùng phá vỡ được cuộc tiến công này. Trong trận đánh này, Liên Hiệp Quốc đã học được cách đối phó với các chiến thuật tấn công của Trung Quốc và có thể giữ vững trận địa của họ.

Chiến dịch Bố ráp được theo sau trong hai tuần cuối của tháng 2 năm 1951 bằng Chiến dịch Sát thủ (Operation Killer) do Quân đoàn 8 được tái sinh của Mỹ đảm nhiệm. Đây là một cuộc tấn công toàn diện ngang qua mặt trận, lần nữa được hoạch định tăng cường tối đa hỏa lực với mục đích gây thiệt hại nặng nề cho các quân đoàn Bắc Triều Tiên và Trung Quốc. Cuối Chiến dịch Sát thủ, Quân đoàn I đã tái chiếm lại được tất cả các lãnh thổ phía nam sông Hán, trong khi Quân đoàn IX tái chiếm Hoengsong.

Ngày 7 tháng 3 năm 1951, Quân đoàn 8 lại thọc mạnh về phía trước trong "Chiến dịch 'Ripper, và vào ngày 14 tháng 3 họ đã đẩy lui các lực lượng Trung Quốc và Bắc Triều Tiên ra khỏi Seoul, đây là lần thứ tư trong một năm thành phố này đổi chủ. Seoul ở trong cảnh hoang tàn đổ nát; dân số của thành phố trước chiến tranh là 1,5 triệu người đã giảm xuống còn 200.000 người và thiếu thực phẩm trầm trọng.[57]

Binh sĩ Hiroshi N. Miyamura thuộc lực lượng Liên Hợp Quốc canh giữ vị trí bị tấn công bất ngờ bởi lực lượng Trung Quốc

Douglas MacArthur bị tước quyền tự lệnh bởi Tổng thống Harry Truman ngày 11 tháng 4 năm 1951 vì bất tuân lệnh Tổng thống, gây ra một cơn bão lửa phản đối ở Hoa Kỳ. Tư lệnh tối cao mới là Tướng Ridgway tiến hành củng cố các lực lượng Liên Hiệp Quốc để chuẩn bị cho một loạt các cuộc phản công hiệu quả. Vị trí Tư lệnh Quân đoàn 8 được chuyển cho Tướng James Van Fleet.

Một loạt các cuộc tấn công sau đó từ từ đẩy lui quân Trung Quốc và Bắc Triều Tiên như các chiến dịch CourageousTomahawk, một cuộc công kích kết hợp giữa bộ binh và không quân giam lực lượng cộng sản giữa KaesongSeoul. Các lực lượng Liên Hiệp Quốc tiếp tục tiến công cho đến khi họ tới được phòng tuyến Kansas, cách vĩ tuyến 38 một khoảng mấy dặm về phía bắc.

Tuy nhiên, tháng 4 năm 1951, Trung Quốc mở đợt tiến công giai đoạn năm. Đây là một nỗ lực chính có sự tham dự của ba quân đoàn (lên đến 700.000 quân). Quả đấm chính rơi trúng Quân đoàn I của Mỹ nhưng sự chống trả quyết liệt trong các trận đánh tại sông Imjin và Kapyong đã chặn bước tiến của quân đội Trung Quốc ở phòng tuyến phía bắc Seoul.

Một cuộc tiến công khác của Trung Quốc sau đó ở miền trung chống lại Quân đoàn X và lực lượng Nam Triều Tiên vào ngày 15 tháng 5 cũng đạt được những thành công ban đầu, nhưng vào 20 tháng 5 cuộc tấn công dừng lại. Quân đoàn 8 phản công và đến cuối tháng 5 thì chiếm lại phòng tuyến Kansas.

Quyết định của Liên Hiệp Quốc dừng lại ở phòng tuyến Kansas, nằm ở phía bắc Vĩ tuyến 38, và không tiếp tục các hành động tiến công vào Bắc Triều Tiên đã đẩy cuộc chiến vào giai đoạn bế tắc, là điểm điển hình cho phần còn lại của cuộc xung đột.

Bế tắc (tháng 7 năm 1951 - tháng 7 năm 1953)[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh thổ đổi chủ trong phần đầu của cuộc chiến cho đến khi mặt trận được ổn định.

Phần còn lại của cuộc chiến bao gồm chút ít sự thay đổi về lãnh thổ, các cuộc oanh tạc tầm mức rộng lớn của không quân Mỹ vào các thành phố ở Bắc Triều Tiên, và các cuộc thương thuyết hòa bình kéo dài bắt đầu từ 10 tháng 7 năm 1951 tại Kaesong. Thậm chí trong suốt các cuộc thương thuyết hòa bình, chiến sự vẫn tiếp tục. Đối với các lực lượng Nam Triều Tiên và đồng minh, mục tiêu của họ là phải tái chiếm hoàn toàn miền Nam trước khi một thỏa ước đạt được để tránh mất bất cứ lãnh thổ nào. Trung Quốc và Bắc Triều Tiên đã cố mở các chiến dịch tương tự, và sau đó còn tiến hành các chiến dịch nhằm thử quyết tâm của Liên Hiệp Quốc có tiếp tục cuộc xung đột. Các cuộc đụng độ quân sự chính yếu trong giai đoạn này là những hành động quanh lòng chảo phía đông như Bloody Ridge và Heartbreak Ridge năm 1951, các trận đánh như Trận Old Baldy ở giữa và Trận Hook ở phía tây trong suốt năm 1952–53, Trận Đồi Eerie năm 1952, và Trận Đồi Pork Chop năm 1953.

Binh sĩ trung đoàn 24, sư đoàn 25 Bộ binh dùng súng máy chống lại quân Trung QuốcSongnimbong, Nam Triều Tiên, 21 tháng 2 năm 1951

Các cuộc thương thuyết hòa bình kéo dài trong hai năm, đầu tiên là ở Kaesong và sau đó là ở Bàn Môn Điếm. Một vấn đế chính yếu trong các cuộc thương thuyết là việc trao trả tù binh chiến tranh. Phía miền Bắc đồng ý trao trả theo tự nguyện của tù binh nhưng với điều kiện là đa số tù binh sẽ trở về Trung Quốc hoặc Bắc Triều. Nhưng vì có quá nhiều tù binh từ chối được trao trả về Trung Quốc và Bắc Triều Tiên, chiến tranh tiếp tục cho đến khi phía Trung Quốc và Bắc Triều Tiên từ bỏ điều kiện này.

Tháng 10 năm 1951, các lực lượng Mỹ tiến hành Chiến dịch Cảng Hudson với ý định thiết lập khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử. Một số phi cơ B-29 thực hiện các phi vụ tập ném bom giả từ Okinawa đến Bắc Triều Tiên mang theo các quả bom nguyên tử "hình nộm" hoặc các loại bom thông thường hạng nặng. Chiến dịch được điều hợp từ Căn cứ Không quân Yokota tại Nhật Bản. Cuộc tập trận này có ý định thử chức năng thực sự của tất cả các hoạt động sẽ cần dùng trong một tấn công bằng vũ khí nguyên tử, bao gồm việc lắp ráp vũ khí và thử nghiệm, hướng dẫn, kiểm soát mặt đất về mục tiêu ném bom. Kết quả cho thấy bom nguyên tử không hiệu quả như là tiên đoán bởi vì việc phát hiện số đông lực lượng địch kịp thời thì quả là hiếm hoi.[64][65]

Vào ngày 29 tháng 11 năm 1952, tổng thống mới đắc cử là Dwight D. Eisenhower đã thực hiện lời hứa lúc tranh cử là đến Triều Tiên để tìm ra giải pháp để kết thúc cuộc xung đột. Với việc Liên Hiệp Quốc chấp thuận lời đề nghị ngừng bắn của Ấn Độ, lệnh ngừng bắn được thiết lập vào ngày 27 tháng 7 năm 1953 vào thời điểm tuyến đầu mặt trận quay trở lại quanh vĩ tuyến 38, và vì vậy một vùng phi quân sự được thiết lập quanh nó, hiện tại được quân đội Bắc Triều Tiên phòng thủ một phía và phía bên kia là quân đội Nam Triều Tiên và Mỹ. Kaesong, nơi diễn ra các cuộc đàm phán hòa bình, vốn cố đô của Triều Tiên, là phần đất của miền Nam trước khi các cuộc xung đột bùng nổ nhưng bây giờ là một thành phố đặc khu của miền Bắc. Cho đến bây giờ cũng không có một hiệp định hòa bình nào được ký kết, theo kỹ thuật, Nam và Bắc Triều Tiên vẫn đang ở trong tình trạng chiến tranh. Mặc dù Bắc Triều Tiên và Mỹ đã ký kết Hiệp định Đình chiến nhưng Lý Thừa Vãn từ chối ký kết vào văn kiện này.[66]

Thương vong[sửa | sửa mã nguồn]

Tù binh Trung Quốc bị bắt giữ bởi lực lượng Mỹ phía nam Koto-ri

Tổng số thương vong của tất cả mọi phía nhập lại có thể không thể nào biết được. Tại các nước phương Tây, các con số đã và đang là đề tài của vô số các cuộc nghiên cứu và tra cứu của các học giả, và trong trường hợp của một ước tính do Mỹ thực hiện, con số đã được điều chỉnh lại sau khi một lỗi đánh máy được phát hiện. Con số thương vong được tự báo cáo từ từng quốc gia phần lớn dựa vào các cuộc di chuyển quân đội, bảng phân công các đơn vị, các báo cáo thương vong lúc chiến sự, và các hồ sơ y tế.[cần dẫn nguồn]

Các con số của phương Tây về thương vong của Trung Quốc và Bắc Triều Tiên chủ yếu được dựa vào những báo cáo từ mặt trận về ước tính thương vong, việc hỏi cung các tù nhân và các tài liệu tịch thu được. Ước tính của Trung Quốc về số thương vong của Liên Hiệp Quốc cho rằng "Tuyên bố chung sau chiến tranh của Quân Chí nguyện Trung Quốc và Quân đội Nhân dân Triều Tiên công bố rằng họ đã "loại trừ" 1,09 triệu quân địch, bao gồm 390.000 quân của Mỹ, 660.000 quân Nam Triều Tiên, và 29.000 quân các nước khác. Con số "loại trừ" mập mờ không nêu chi tiết có bao nhiêu người chết, bị thương và bị bắt."

Nói về thương vong của chính Trung Quốc, cũng là nguồn đó nói rằng "Trong suốt thời gian chiến tranh, 70 phần trăm các lực lượng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã được khai triển đến Triều Tiên như Quân Chí nguyện Nhân dân Trung Quốc (tổng lượt lên đến 2,97 triệu) cùng với hơn 600.000 dân công. Quân Chí nguyện bị thiệt hại tổng cộng 148.000 người chết, trong đó có 114.000 tử trận, 34.000 chết do tai nạn, bệnh tật hoặc chết rét; và số người bị thương là 380.000 người. Cũng có 7.600 người mất tích. Có 7.110 tù binh Trung Quốc được trao trả sau chiến tranh." Cũng nguồn tương tự kết luận con số thương vong của Bắc Triều Tiên, "Quân đội Nhân dân Triều Tiên có 290.000 thương vong và 90.000 bị bắt. Có một con số tổn thất dân sự rất lớn tại miền bắc Triều Tiên nhưng không có con số chính xác nào được xác nhận."[67]

Các con số thương vong của các lực lượng Liên Hiệp Quốc được ghi trên bảng tổng kết cùng với các con số đưa ra của họ về lực lượng Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.[cần dẫn nguồn]

Tính chất và đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh cơ giới[sửa | sửa mã nguồn]

Tăng T34 Bắc Triều Tiên tại phía Nam Suwon, Nam Hàn

Khi các binh sĩ Bắc Triều Tiên tràn qua vĩ tuyến 38 vào Nam Triều Tiên, xe tăng Liên Xô T-34/85 gần như không có đối thủ khi chống lại tại các phòng tuyến của Nam Triều Tiên. Trong thời gian này, quân đội Nam Triều Tiên không có xe tăng, chỉ có một ít pháo chống tăng và bazooka. Thật sự thì gần như toàn thể binh sĩ Nam Triều Tiên không quen với việc đối diện với xe tăng và cách chống lại chúng.

Quân đội Nam Triều Tiên có súng chống tăng, nhưng những súng này là loại M9 bazooka 60 mm lỗi thời từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Những vũ khí này đã lỗi thời và không thể công phá phần bọc thép phía trước của T-34/T-85. Trước khi Hoa Kỳ đưa loại súng M20 bazooka 89 mm (3.5 inch) hạng nặng vào, quân đội Nam Triều Tiên không thể chống lại xe tăng Bắc Triều Tiên một cách hữu hiệu.

Một Xe tăng Sherman bắn đại bác 76 mm vào các công sự của quân địch trên "Đỉnh đồi Napalm," để hỗ trợ Sư đoàn 8 Đại Hàn Dân Quốc ngày 11 tháng 5 năm 1952.

Lúc bắt đầu chiến tranh, một số lực lượng Nam Triều Tiên được chia thành những toán cảm tử quân và áp sát các xe tăng T-34 để quăng chất nổ vào trong ổ đại bác hoặc dưới bụng xe tăng nơi mà vỏ bọc thép là mỏng nhất. Những chiến thuật này ít hiệu quả (phần lớn bộ binh bị hạ trước khi kịp tới gần xe) và không đủ để giúp chặn sự tiến công bằng xe tăng của Bắc Triều Tiên. Nhờ các ưu thế của lực lượng thiết giáp, quân đội Bắc Triều Tiên đã đạt được nhiều chiến thắng lớn trong giai đoạn đầu chiến tranh.

So sánh giữa bazooka cũ M9 và loại lớn hơn bazooka M20.

Các xe tăng đầu tiên của Mỹ đến Triều Tiên và tham chiến là các xe tăng hạng nhẹ M24 Chaffee được để lại Nhật Bản cho nhiệm vụ chiếm đóng sau Chiến tranh thế giới thứ hai (các xe tăng hạng nặng có thể làm hỏng đường sá Nhật Bản). Các xe tăng hạng nhẹ này có rất ít cơ hội chống lại xe tăng T-34/85 hạng trung vượt trội hơn của các lực lượng Bắc Triều Tiên. Các chuyến tàu vận chuyển sau đó gồm các xe tăng hạng nặng của Mỹ như M4 ShermanM26 Pershing, xe tăng Centurion của Anh Quốc cũng như các khu trục cơ tấn công mặt đất của phe Đồng minh và Mỹ đã có thể vô hiệu hóa lợi thế về xe tăng của Bắc Triều Tiên.

Tuy nhiên, khác với việc sử dụng cơ giới nhiều trong Chiến tranh thế giới thứ hai, có rất ít các trận đấu xe tăng đã xảy ra trong suốt cuộc chiến Triều Tiên. Địa hình rừng núi dày đặc của đất nước khiến cho xe tăng hoạt động không hữu hiệu, nhưng nó có thể được dùng như một loại vũ khí yểm trợ từ xa, chuyên dùng pháo để bắn vào kẻ địch phòng thủ trên một ngọn đồi hay vách đá.

Chiến tranh trên không[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh Triều Tiên là cuộc chiến tranh chính cuối cùng mà các loại khu trục cơ cánh quạt như F-51 Mustang, F4U Corsair và loại phi cơ sử dụng trên hàng không mẫu hạmSupermarine Seafire được sử dụng, và loại khu trục cơ tuốc bin phản lực F-80F9F Panther xuất hiện làm chủ bầu trời, áp đảo các phi cơ cánh quạt của Bắc Hàn như Yakovlev Yak-9Lavochkin La-9.

Từ năm 1950, Bắc Hàn bắt đầu bay các loại phản lực cơ tiêm kích MiG-15 của Liên Xô chế tạo, một số phi cơ này được các phi công có kinh nghiệm của Không quân Liên Xô đảm nhận. Các lực lượng đồng minh Liên hiệp quốc với lý do chính đáng tham dự cuộc chiến rất lo ngại đương đầu một cuộc chiến mở rộng với Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trước tiên, các khu trục cơ Liên hiệp quốc trong đó bao gồm các phi cơ Gloster Meteor của Không quân Hoàng gia Úc có một số thành công, nhưng các phi cơ MiG với chất lượng vượt trội hơn đã giữ thế thượng phong đối với các phản lực cơ thế hệ đầu mà Liên hiệp quốc sử dụng vào đầu cuộc chiến.[68]

oanh tạc cơ B-29 tấn công mục tiêu năm 1951.

Tháng 12 năm 1950, Không quân Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng phi cơ F-86 Sabre. Các phi cơ MiG có thể bay cao hơn, 50.000 ft so với 42.000 ft (12.800 mét) của phi cơ đồng minh, cho thấy lợi thế rõ ràng lúc khởi đầu của không chiến của MiG. Trong lúc bay đường trường thì tốc độ tối đa của chúng bằng nhau - khoảng 660 dặm Anh một giờ (1.060 km/giờ). Phi cơ MiG có thể vượt lên cao tốt hơn; phi cơ Sabre có thao tác bay tốt hơn và có thể chúi xuống dưới tốt hơn. Về mặt vũ khí, phi cơ MiG mang hai khẩu pháo 23 mm và một đại bác 37 mm, so với phi cơ Sabre có sáu khẩu súng máy nòng cỡ 0,5 inch (12,7 mm). Các khẩu súng máy nòng cỡ 0,5 inch của Mỹ có tốc độ bắn nhanh hơn, trong khi các khẩu pháo của MiG lại có sức phá hủy lớn hơn. Bảo trì là một vấn đề đối với phi cơ Sabre, và phần lớn phi cơ của Liên hiệp quốc đã bị giữ dưới mặt đất để sửa chữa trong suốt cuộc chiến.

Thậm chí sau khi Không quân Hoa Kỳ đưa vào sử dụng phi cơ tiên tiến hơn là F-86, các phi công của Liên hiệp quốc thường vật lộn vất vả chống lại các phản lực cơ do các phi công thiện chiến của Liên Xô cầm lái. Dần dần sau đó Liên hiệp quốc giành được lợi thế về số lượng phi cơ, và sự năng nổ tấn công của họ đã cho họ một ưu thế trên không kéo dài cho đến hết chiến tranh — một nhân tố quyết định trong việc giúp Liên hiệp quốc tiến quân vào miền bắc, và sau đó chống trả cuộc xâm lăng Nam Triều Tiên của Trung Hoa. Người Trung Hoa cũng có sức mạnh của phản lực cơ, nhưng các lực lượng Hoa Kỳ đã huấn luyện các phi công của họ trội hơn. Với việc sử dụng các phi cơ F-86F vào cuối năm 1952, các phi cơ của Liên Xô và Hoa Kỳ coi như có các đặc điểm thao tác tương tự.

Trong số các nhân tố khác giúp xoay chuyển cán cân về phía các phản lực cơ Liên hiệp quốc là chất lượng ống ngắm radar tốt hơn của các phản lực cơ F-86 (dẫn đến việc gắn các hệ thống cảnh báo radar lần đầu tiên trên các máy bay tiêm kích MiG), các mặt số dễ nhìn hơn trong phòng lái, hệ thống điều khiển và giữ thăng bằng lúc bay nhanh và bay cao tốt hơn, và sự đưa vào sử dụng bộ đồ bay chống gia tốc. Các phi công F-86 của Hoa Kỳ cho là họ đã bắn rơi 792 phi cơ MiG-15 và 108 phi cơ khác trong khi chỉ mất 78 phi cơ Sabres, một tỉ lệ vượt xa 10:1. Một số nghiên cứu sau chiến tranh chỉ có thể xác nhận 379 lần chiến thắng, mặc dù không quân Hoa Kỳ tiếp tục duy trì con số chính thức này và việc tranh luận không thể nào hòa giải được. Vừa qua, các tài liệu Liên Xô thời Stalin được tiết lộ cho là chỉ có 345 MiG-15 của Liên Xô bị mất trong suốt Chiến tranh Triều Tiên.

Liên Xô tuyên bố họ đã 1.300 bắn hạ máy bay Liên quân và 335 MiG bị mất vào thời gian đó. Con số mất mát chính thức của Trung Hoa là 231 phi cơ bị bắn rơi trong các cuộc chiến đấu không đối không (đa số là MiG-15) và 168 mất mát khác. Con số mất mát của không quân Bắc Triều Tiên không được tiết lộ. Ước tính là họ mất khoảng 200 phi cơ trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, và thêm 70 phi cơ sau khi Trung Hoa can thiệp. Liên Xô công bố bắn hạ 650 máy bay F-86, và Trung Hoa tuyên bố là hạ thêm 211 phi cơ F-86 nữa trong không chiến - có lẽ đây là sự thổi phồng. Theo một công bố của Hoa Kỳ vừa qua, con số phi cơ F-86 từng có mặt tại Bán đảo Triều Tiên suốt cuộc chiến tổng cộng chỉ có 674 và tổng số phi cơ F-86 mất vì nhiều lý do là khoảng 230 chiếc.[69]

So sánh trực tiếp các mất mát của phi cơ Sabre và MiG có lẽ là không hợp lý, vì các mục tiêu chính yếu của các phi cơ MiG là oanh tạc cơ hạng nặng B-29, trong khi mục tiêu chính yếu của các phi cơ Sabre là MiG-15 (có nghĩa là khi không chiến, phi công MiG-15 thường sẽ nhắm vào những chiếc B-29 chứ không chủ động giao chiến với F-86).

Vào đầu năm 1951, các chiến tuyến được củng cố và không thay đổi nhiều trong suốt phần còn lại của cuộc chiến. Qua mùa hè và đầu mùa thu năm 1951, các phi cơ Sabre vượt trội về số lượng (ít nhất là 44 chiếc tại một địa điểm) của Không đoàn tiêm kích đánh chặn số 4 (4th Fighter Interceptor Wing) tiếp tục tìm mục tiêu tại Hàng lang MiG gần sông Áp Lục chống lại một vùng không phận địch có đến 500 phi cơ. Jabara, Becker, và Gibson trở thành những phi công Sabre ưu tú. Theo sau thông điệp nổi tiếng của Đại tá Harrison Thyng gởi về Lầu Năm Góc, Không đoàn tiêm kích đánh chặn số 51 đến tiếp viện Không đoàn số 4 đang bị bao vây vào tháng 12 năm 1951.[70] Trong khoảng thời gian một năm rưởi tiếp theo, cả hai không đoàn tiếp tục các trận không chiến tương tự tại vùng Hành lang MiG.

Hoa Kỳ ném bom Bắc Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 5 tháng 11 năm 1950, Tướng Stratemeyer đã đưa ra mệnh lệnh: "Máy bay dưới sự kiểm soát của nhóm Không lực số 5 sẽ phá hủy tất cả các mục tiêu bao gồm tất cả các tòa nhà có khả năng trú ẩn." Cùng ngày, 22 chiếc B-29 tấn công Kanggye, phá hủy 75% thành phố. Sau khi MacArthur bị cách chức Tư lệnh Tối cao ở Triều Tiên vào tháng 4 năm 1951, những người kế nhiệm ông vẫn tiếp tục chính sách này và cuối cùng đã mở rộng nó cho toàn bộ Bắc Triều Tiên. Hoa Kỳ đã ném tổng cộng 635.000 tấn bom, trong đó có 32.557 tấn napalm tại Triều Tiên, nhiều hơn số bom dùng trong toàn bộ mặt trận Thái Bình Dương hồi Chiến tranh thế giới thứ hai.[71][72]

Hầu như mọi tòa nhà lớn ở Bắc Triều Tiên đều bị phá hủy.[73][74] Đại tá Mỹ William F. Dean, báo cáo rằng phần lớn các thành phố và làng quê Bắc Triều Tiên chỉ còn là đất đá vôi hoặc hoang mạc.[75][76] Ngày 28 tháng 11 năm 1951, Bộ Tư lệnh không quân ném bom báo cáo về kết quả của chiến dịch ném bom của Mỹ: 95% của Manpojin, cùng với 90% của Hoeryong, NamsiKoindong, 85% của Chosan, 75% của SakchuHuichon, và 20% của Uiju đã bị phá hủy. Theo đánh giá thiệt hại từ phía Mỹ, "18 trong số 22 thành phố lớn ở Bắc Triều Tiên ít nhất đã bị phá hủy một nửa".[77]

Mối đe dọa chiến tranh nguyên tử từ Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 4 năm 1950, Bộ Tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ (JCS) ra các chỉ thị dội bom trả đũa vào các căn cứ quân sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bằng vũ khí nguyên tử nếu như bất cứ tập đoàn quân nào của Trung Hoa vượt biên giới vào Triều Tiên hoặc nếu các oanh tạc cơ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hay của Quân đội Nhân dân Triều Tiên mở các cuộc không kích Triều Tiên từ các căn cứ đó. Tổng thống Hoa Kỳ ra lệnh chuyển 9 quả bom hạt nhân Mark 4 "cho liên đoàn oanh tạc cơ số 9 của Không quân Hoa Kỳ, đây là đơn vị được giao phó mang loại vũ khí này... [và] ký lệnh sử dụng chúng chống lại các mục tiêu Triều Tiên và Trung Quốc". Tuy nhiên ông chưa bao giờ truyền lệnh sử dụng chúng.[78]

Tổng thống Truman không đe dọa chiến tranh hạt nhân ngay sau khi Trung Quốc can thiệp vào tháng 10 năm 1950 nhưng 45 ngày sau đó, ông có lưu ý về sự khả dĩ sử dụng vũ khí nguyên tử sau khi Quân Chí nguyện Trung Hoa đẩy lui Bộ Tư lệnh Liên Hiệp Quốc khỏi Bắc Triều Tiên.[cần dẫn nguồn]

Trong cuốn The Origins of the Korean War (1981, 1990), sử gia Hoa Kỳ Bruce Cumings cho biết rằng trong một cuộc họp báo ngày 30 tháng 11 năm 1950, những lời ám chỉ tấn công Quân đội Nhân dân Triều Tiên bằng vũ khí hạt nhân của Tổng thống Truman "là lời đe dọa dựa trên kế hoạch bất ngờ sử dụng bom hạt nhân, chớ không phải lở lời như nhiều người lầm tưởng như vậy." Ngày 30 tháng 11 năm 1950, Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược của Không quân Hoa Kỳ được lệnh "gia tăng khả năng của mình, và sự gia tăng này gồm có khả năng nguyên tử."[cần dẫn nguồn]

Đại sứ Ấn Độ, Kavalam Panikkar, cho biết "Truman đã thông báo rằng ông đang nghĩ đến việc sử dụng bom nguyên tử tại Triều Tiên. Nhưng người Trung Hoa dường như hoàn toàn chẳng hề lay động bởi mối đe dọa này... Họ gia tăng cường độ tuyên truyền chống sự xâm lấn của người Mỹ. Chiến dịch 'Kháng Mỹ viện Triều' trở thành khẩu hiệu thúc đẩy tăng gia sản xuất, đoàn kết quốc gia hơn, và kiểm soát chặt chẽ hơn đối với các hoạt động chống phá quốc gia. Có người còn nghĩ rằng lời đe dọa của Truman rất là hữu ích đối với các nhà lãnh đạo Cách mạng Trung Hoa, giúp cho họ giữ vững nhịp điệu hoạt động của họ."[56][79][80]

Vụ thử bom nguyên tử năm 1951. Đây là vụ nổ mang tên "Dog shot" trong Chiến dịch Buster-Jangle ngày 1 tháng 11.

Tổng thống Truman lưu ý rằng chính phủ của ông tích cực xem xét đến việc sử dụng bom nguyên tử để kết thúc chiến tranh tại Triều Tiên nhưng ông cũng nói rằng chỉ có ông - với tư cách là Tổng thống Hoa Kỳ - mới có quyền ra lệnh sử dụng bom nguyên tử, và rằng ông đã chưa cho phép. Vấn đề chiến tranh nguyên tử là quyết định riêng của Hoa Kỳ, không phải là quyết định chung của Liên Hiệp Quốc. Ngày 4 tháng 12 năm 1950, Truman họp với Thủ tướng Anh và phát ngôn viên Khối Thịnh vượng chung Anh Clement Attlee, Thủ tướng Pháp René Pleven, và Ngoại trưởng Robert Schuman để thảo luận những mối quan tâm của họ về chiến tranh nguyên tử và việc khả dĩ mở rộng nó trên lục địa. Hoa Kỳ kiềm chế phát động cuộc chiến tranh nguyên tử không phải vì "Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không muốn leo thang" Chiến tranh Triều Tiên mà vì các đồng minh Liên Hiệp Quốc - đáng nói là Vương quốc Anh, Khối thịnh vượng chung Anh, và Pháp - quan tâm về sự thiếu cân bằng địa chính trị khiến cho khối NATO khó phòng vệ trong lúc Hoa Kỳ đánh nhau với Trung Quốc. Trung Quốc khi đó có thể thuyết phục Liên Xô tiến công đánh chiếm Tây Âu.[56][81]

Ngày 6 tháng 12 năm 1950, sau khi Trung Quốc can thiệp và đẩy lui các lục quân thuộc Bộ tư lệnh Liên Hiệp Quốc khỏi phía bắc Bắc Triều Tiên, Đại tướng J. Lawton Collins (Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ), Đại tướng MacArthur, Đô đốc C. Turner Joy, Đại tướng George E. Stratemeyer, và các sĩ quan tham mưu là Thiếu tướng Doyle Hickey, Thiếu tướng Charles A. Willoughby, và Thiếu tướng Edwin K. Wright họp tại Tokyo để thảo chiến lược đối đầu cuộc can thiệp của Trung Quốc; họ xét đến ba kịch bản tiềm năng về chiến tranh nguyên tử bao gồm những tuần và tháng kế tiếp của chiến tranh.[56]

  • Trong kịch bản đầu tiên: Nếu Quân chí nguyện Trung Hoa tiếp tục tấn công toàn lực, Bộ Tư lệnh Liên Hiệp Quốc bị cấm phong tỏa và không kích Trung Quốc, không có sự tiếp viện từ phe Trung Hoa Quốc gia (Quốc Dân Đảng Trung Quốc), và không có sự gia tăng lực lượng Hoa Kỳ đến tháng 4 năm 1951 (bốn sư đoàn Vệ binh Quốc gia được dự trù đến tiếp viện) thì bom nguyên tử có lẽ được dùng tại Triều Tiên.[56]
  • Trong kịch bản thứ hai: Nếu Quân chí nguyên Trung Hoa tiếp tục tấn công toàn lực, Bộ Tư lệnh Liên Hiệp Quốc đã phong tỏa được Trung Quốc, thực hiện việc thám thính trên không hữu hiệu và không kích bên trong lãnh thổ Trung Quốc, binh sĩ Trung Hoa Quốc gia được sử dụng triệt để, và việc không kích bằng bom nguyên tử chiến thuật được thực hiện thì các lực lượng Liên Hiệp Quốc có thể giữ vững các vị trí sâu bên trong Bắc Hàn.[56]
  • Trong kịch bản thứ ba: Nếu Quân chí nguyện Trung Hoa đồng ý không vượt ranh giới vĩ tuyến 38 độ thì Đại tướng MacArthur sẽ đề nghị Liên Hiệp Quốc chấp nhận một cuộc đình chiến, không cho phép Quân chí nguyện Trung Hoa và Quân đội Nhân dân Triều Tiên hiện diện ở phía nam vĩ tuyến, và yêu cầu các du kích quân của Quân chí nguyện và Quân đội Nhân dân Triều Tiên rút về phía bắc. Lục quân 8 của Hoa Kỳ sẽ ở lại để bảo vệ khu vực Seoul–Incheon trong khi đó Quân đoàn X sẽ rút về Pusan. Một ủy ban Liên Hiệp Quốc sẽ giám sát việc thực thi đình chiến.[56]

Năm 1951, Hoa Kỳ leo thang gần sát đến chiến tranh nguyên tử tại Triều Tiên. Vì Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã triển khai thêm các tập đoàn quân mới đến biên giới Trung-Triều nên các quả bom nguyên tử được lắp ráp sẵn sàng cho Chiến tranh Triều Tiên, "chỉ còn thiếu có lõi nguyên tử thiết yếu" tại Căn cứ Không quân Kadena, Okinawa. Tháng 10 năm 1951, Hoa Kỳ thực hiện Chiến dịch Hudson Harbor để thử khả năng của vũ khi hạt nhận. Các oanh tạc cơ B-29 của Không quân Hoa Kỳ thực hiện các vụ thực tập ném bom riêng lẻ xuất phát từ Okinawa đến Bắc Hàn (sử dụng các quả bom thông thường và hạt nhân giả), được điều hợp từ Căn cứ Không quân Yokota nằm ở giữa phía đông Nhật Bản. Chiến dịch Hudson Harbor đã thử nghiệm về "chức năng thật sự của tất cả các hoạt động mà một cuộc tấn công nguyên tử cần có trong đó gồm có việc lắp ráp và thử nghiệm, dẫn dắt, kiểm soát mục tiêu không kích từ mặt đất". Dữ liệu về cuộc thử nghiệm không kích cho thấy rằng về chiến thuật bom nguyên tử không có hiệu quả chống lại bộ binh địch vì "việc phát hiện đúng lúc quân số địch đông đảo thì rất hiếm có."[82][83][84][85][86]

Tội ác chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Tội ác đối với thường dân[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu giải mã của Hoa Kỳ nói rằng: "Có báo cáo nói rằng nhiều nhóm thường dân đông đảo, có nhóm bao gồm và có nhóm bị điều khiển bởi binh sĩ Bắc Triều Tiên, đang thâm nhập vào các vị trí của Hoa Kỳ. Quân đội đã yêu cầu chúng ta ngăn chặn tất cả các đoàn thường dân tiến về vị trí của chúng ta. Cho đến bây giờ, chúng ta đã thực thi yêu cầu của quân đội theo mối quan tâm này." Tài liệu nói tiếp là đề nghị thiết lập một chính sách cứu xét lại việc thi hành.
Vụ xử bắn hàng loạt tại Hamhung, 10/1950. Thi thể của 300 tù nhân bị quân Bắc Triều Tiên xử bắn

Khi phần lớn lãnh thổ của Nam Triều Tiên nằm dưới quyền kiểm soát của Bắc Triều Tiên, việc tàn sát chính trị được báo cáo là hàng chục ngàn người đã xảy ra tại các thành phố và làng mạc. Bắc Triều Tiên xử bắn một cách có hệ thống các quan chức của chính phủ Nam Triều Tiên và những ai thù địch đối phía họ, và các vụ tử hình như thế này gia tăng cường độ khi quân Bắc Triều Tiên rút lui khỏi miền Nam.[55]

Về phía mình, các lực lượng bán quân sự và cảnh sát, quân đội Nam Triều Tiên, thường có sự chứng kiến của giới quân sự Hoa Kỳ và những người không bị xét xử, đã hành quyết hàng chục ngàn tù nhân cánh tả và những người có cảm tình với Bắc Triều Tiên trong những sự kiện như vụ tàn sát tù nhân chính trị của Nhà tù Daejeon và cuộc đàn áp đẫm máu trong vụ Thảm sát Jeju.[cần dẫn nguồn]

Tù chính trị bị lính Nam Triều Tiên hành quyết tập thể ở Taejon, Nam Triều Tiên, tháng 7 năm 1950, ảnh chụp bởi sĩ quan Mỹ

Ngay trong ngày nổ ra chiến tranh, 28/6/1950, tổng thống Lý Thừa Vãn của Nam Triều Tiên ra lệnh tử hình toàn bộ tù nhân chính trị, bao gồm cả những người bất đồng chính kiến với Lý Thừa Vãn. Họ bị gom hết vào tội danh "ủng hộ Cộng sản" (dù thực tế phần lớn số này không phải là đảng viên Cộng sản mà chỉ tỏ ra chống đối chế độ Lý Thừa Vãn). Đầu tiên là tại trại tù ở đảo Jeju cực nam Hàn Quốc, nơi các tù chính trị phạm được chia làm bốn loại là A, B, C, D, tù chính trị phạm thuộc nhóm C, D bị xử bắn lập tức theo lệnh "Hành hình toàn bộ các tù nhân thuộc nhóm C,D bằng cách xử bắn không muộn hơn ngày 6 tháng 9 (năm 1950)" của Lý Thừa Vãn. Trên quy mô toàn quốc, tất cả tù chính trị, nghi can có liên hệ với Đảng Lao động Triều Tiên trên toàn quốc, đặc biệt tại trại cải tạo Bodo League (보도연맹 사건), bị tử hình lập tức bằng mọi cách mà không có bất kì phiên tòa, phiên xét xử nào.Tù nhân bị xử bắn tập thể, hầu hết bị tống xuống hố chôn tập thể, một số bị dùng báng súng đập chết hoặc bị quăng xuống biển. Nhiều đối thủ chính trị, gia đình các tù Cộng sản, chính trị phạm bao gồm cả trẻ em cũng bị đưa vào danh sách tử hình, bản án được các binh sĩ Hàn Quốc thực thi triệt để. Gregory Henderson, một nhà ngoại giao Hoa Kỳ tại Triều Tiên vào thời điểm đó, đưa ra con số tổng cộng là 100.000 người đã bị Nam Triều Tiên hành quyết, và xác chết của những người này bị quăng vào các hố chôn tập thể.[87]

Tàn sát tại động Daranshi tại Jeju do quân đội Nam Triều Tiên thực hiện nhằm tiêu diệt cuộc Khởi nghĩa Jeju

Gần đây, Ủy ban Hòa giải và Tìm sự thật của Hàn Quốc đã nhận được các báo cáo của hơn 7.800 vụ tàn sát dân sự trong 150 địa điểm khắp đất nước nơi các vụ tàn sát dân sự tập thể xảy ra trước và trong suốt cuộc chiến. Theo nhà lịch sử Kim Dong-choon, những vụ tàn sát tập thể này là "chương tàn bạo và kinh hoàng nhất cuộc chiến Triều Tiên". Ủy ban Hòa giải và Tìm hiểu sự thật ước tính ít nhất 100.000 người đã bị hành quyết. Những ước tính này dựa trên các cuộc khảo sát của các địa phương và theo ông Kim, con số thực sự có thể cao gấp hai lần và hơn thế.[88] Trong những vụ khác, quân đội Nam Triều Tiên cũng đã cho phá hủy một số cây cầu có đông nghẹt các thường dân đang bỏ chạy khi họ không thể nào giải tỏa những cây cầu đó trước khi quân địch đến.[cần dẫn nguồn]

Các lực lượng Triều Tiên của cả hai phía thường xuyên vây bắt và buộc tất cả các nam và nữ trong vùng hoạt động của họ nhập ngũ; hàng ngàn người trong số đó không bao giờ thấy trở về nhà nữa. Theo ước tính của R. J. Rummel, giáo sư tại Đại Học Hawaii, khoảng 400.000 công dân Nam Triều Tiên bị bắt quân dịch phục vụ trong Quân đội Bắc Triều Tiên.[55] Trước khi Quân đội Hoa Kỳ tái chiếm Seoul vào tháng 9 năm 1950, theo chính phủ Nam Triều Tiên, ước tính có khoảng 83.000 công dân của thành phố này bị các lực lượng rút lui của Bắc Triều Tiên mang theo, số phận của họ đến nay vẫn không được biết rõ.[89] Bắc Triều Tiên thì tuyên bố rằng những người Nam Triều Tiên đã đi theo phục vụ quân đội của họ một cách tự nguyện và không hề bị giam giữ[90]

Quân đội Mỹ được lệnh xem bất cứ thường dân Triều Tiên nào hiện diện tại mặt trận mà tiến về các vị trí của họ là thù địch, và được lệnh "vô hiệu hóa" họ vì sợ bị xâm nhập. Việc này đưa đến các vụ tàn sát bừa bãi hàng trăm thường dân Nam Triều Tiên bởi lực lượng Hoa Kỳ tại những nơi như No Gun Ri trong đó nhiều người tị nạn không tự vệ - đa số là phụ nữ, trẻ con và người già - bị quân đội Mỹ bắn chết và có thể đã bị Không quân Hoa Kỳ dội bom lên đầu. Gần đây, Hoa Kỳ đã thừa nhận là có chính sách "ngăn chặn thường dân" tại một số nơi ở mặt trận ở một số thời điểm.

Tháng 9 năm 1952, Uỷ ban Khoa học Quốc tế về điều tra các sự kiện về chiến tranh vi khuẩn ở Triều Tiên và Trung Quốc (ISC) đã đưa ra một báo cáo cho thấy Mỹ đã tiến hành chiến tranh sinh học trong chiến tranh Triều Tiên. Một báo cáo công bố vào tháng 2 năm 2018 đề cập đến việc Hoa Kỳ đã sử dụng vũ khí sinh học đối với thường dân Triều Tiên. Máy bay Hoa Kỳ đã thả những con bọ chét nhiễm mầm bệnh dịch hạch vào Bắc Triều Tiên vào tháng 2 năm 1952. Kể từ đầu năm 1952, nhiều ổ bệnh dịch hạch đã xuất hiện ở Bắc Triều Tiên. Ví dụ như làng Bal-Nam-Ri bắt đầu xảy ra nạn dịch hạch vào ngày 25/2/1952, trong số 600 người trong làng, 50 người bị bệnh dịch hạch và 36 người đã chết[91]

Tội ác chống tù binh chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Một binh sĩ Hoa Kỳ bị các lực lượng Trung Hoa bắt làm tù binh và bị xử bắn từ sau lưng

Các tù binh chiến tranh bị cả hai phía của cuộc xung đột ngược đãi trầm trọng.

Nhiều kiểm chứng lịch sử đã cho thấy có các cuộc đánh đập thường xuyên, bỏ đói, lao động cưỡng bức, hành quyết tập thể. Có những cuộc đi bộ đường xa được biết với tên gọi "đường tử thần" do Bắc Triều Tiên và Trung Hoa thực hiện chống các tù binh Liên hiệp quốc.[92] Các lực lượng Bắc Triều Tiên đã gây ra một số cuộc xử bắn hàng loạt các binh sĩ Hoa Kỳ bị bắt tại những địa danh như Đồi 312 và đồi 303[93] trong Vành đai Pusan, bên trong và xung quanh Daejeon; chuyện này xảy ra đặc biệt là trong các cuộc càn quét lúc đầu. Theo bản báo cáo của Quốc hội Hoa Kỳ: "Hơn 5.000 tù binh chiến tranh Mỹ chết vì hành động phạm tội ác chiến tranh của cộng sản và hơn 1.000 người sống sót là nạn nhân của tội ác chiến tranh. (…) Khoảng chừng 2/3 tổng số tù binh chiến tranh Mỹ tại Triều Tiên chết vì tội ác chiến tranh."[94][95]

Bắc Triều Tiên và Trung Hoa tuyên bố là họ đã bắt được trên 70.000 binh sĩ Nam Triều Tiên tất cả, nhưng họ chỉ trao trả 8.000 trong số đó. Ngược lại, 76.000 tù binh chiến tranh Bắc Triều Tiên được Hàn Quốc trao trả.[96] Ngoài con số khoảng 12.000 chết trong lúc bị bắt, theo Hoa Kỳ, có khoảng 50.000 tù binh chiến tranh Nam Triều Tiên có lẽ bị cưỡng bức gia nhập vào quân đội Bắc Triều Tiên.[55] Theo Bộ Quốc phòng Hàn Quốc, có ít nhất 300 tù binh chiến tranh vẫn còn bị giam giữ tại Bắc Triều Tiên trong năm 2003. Vừa qua, một binh sĩ Nam Triều Tiên đã trốn thoát từ Miền Bắc và trở về nhà trong năm 2003,[97] kể từ năm 1994 đã có hơn 30 tù binh Nam Triều Tiên đã trốn thoát khỏi Bắc Triều Tiên. Bình Nhưỡng tuyên bố rằng họ không còn giữ bất cứ tù binh chiến tranh nào.[cần dẫn nguồn]

Phía Nam Triều Tiên cũng có những hành động tương tự khi bị cáo buộc đã thảm sát hàng trăm nghìn lính Bắc Triều Tiên và Trung Hoa, trong đó rõ ràng nhất là cuộc thảm sát 1.800 tù nhân chính trị do quân đội miền Nam Triều Tiên thực hiện tại Daejeon, trong ba ngày của tháng 7/1950. Các nhà sử học và nhân chứng sống sót khẳng định binh lính Hàn Quốc đã hành quyết nhiều thường dân khi các lực lượng của Liên Hợp Quốc rút lui trước cuộc tấn công của quân đội Bắc Triều Tiên vào giữa năm 1950. Những nạn nhân này bị tình nghi có cảm tình với Bắc Triều Tiên và có thể cộng tác với đối phương nên bị xử bắn.[98]

Một điều rất đặc biệt là binh sĩ Nam Triều Tiên lại trở thành nạn nhân bị ngược đãi của chính quân đội này. Trong tháng 12 năm 1950, Ủy ban Quốc phòng của Nam Triều Tiên được thành lập, quản lý 406.000 binh lính Nam Triều Tiên. Vào mùa đông năm 1951, 50.000 tới 90.000 binh lính Nam Triều Tiên đã bị bỏ đói đến chết trong khi hành quân về phía nam dưới sự tấn công của Trung Quốc, bởi các sĩ quan chỉ huy của Nam Triều Tiên đã tham ô ngân quỹ dành cho thực phẩm của binh sĩ. Sự kiện này được gọi là Khủng hoảng tại Ủy ban Quốc phòng.[cần dẫn nguồn]

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Sự hồi phục sau chiến tranh khác nhau trong hai miền Triều Tiên. Nam Hàn đã trì trệ trong 10 năm đầu sau chiến tranh.Trong năm 1953, Nam Hàn và Hoa Kì đã kí Hiệp ước phòng thủ lẫn nhau. Năm 1960, Cách mạng tháng tư xảy ra và sinh viên gia nhập biểu tình chống chính quyền Syngman Rhee(Lý Thừa Vãn); 142 người đã bị giết bởi cảnh sát, kết quả Syngman Rhee từ chức và rời đi tị nạn ở Hoa Kì. Cuộc đảo chính 16 tháng 5 của Park Chung-hee làm cho xã hội ổn định. Trong những năm thập niên 60, nạn mãi dâm và những dịch vụ liên quan biểu thị 25% của GNP Nam Hàn. Từ năm 1965 tới 1973, Nam Hàn đã gửi lính tới Bắc Việt Nam và nhận được 235 triệu đô la tiền trợ và viện trợ quân sự từ Hoa Kì. GNP đã tăng lên gấp 5 lần trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Nam Hàn đã công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Nam Hàn là một tong nhưng nền kinh tế đang -phát- triển phát triển nhanh nhất từ đầu những năm 1960 tới cuối những năm thập niên 90. Năm 1957 Nam Hàn có GDP theo đầu người thấp hơn Ghana, và năm 2010 nó đã là một nước phát triển và xếp thứ 13 trên thế giới (Ghana xếp thứ 86).

Tiếp sau những cuộc dội bom trên diện rộng của Không lực Hoa Kì USAF, Bắc Hàn gần như bị phá hủy. Sau đình chiến, Kim Il-Sung thỉnh cầu sự giúp đỡ kinh tế và công nghiệp từ Liên Xô. Vào tháng 9, 1953, chính phủ Liên Xô đồng ý để xóa hoặc hoãn tất cả khoản nợ tồn đọng và đã hứa cấp cho Bắc Hàn một tỉ rubles trong gói viện trợ, đồ trạng bị công nghiệp và hàng tiêu dùng. Những thành viên khối Đông Âu cũng đóng góp với ủng hộ hậu cần, viện trợ kĩ thuật và vật tư y tế. Trung Quốc đã xóa nợ trong chiến tranh, cung cấp 800 triệu yan, đã hứa hợp tác thuơng mại, và gửi hàng nghìn lính tới xây dựng lại những thiệt hại về cơ sở hạ tầng. Bắc Hàn nay vẫn còn kém phát triển.

Sự ước lượng dựa trên hầu hết điều tra dân số Bắc Hàn gần đây gợi ý ằng 240,000 tới 420,000 người đã chết như một kết quả của nạn đói những năm thập kỉ 90 và rằng có khoảng 600,000 tới 850,000 cái chết khác thường trong Bắc Hàn từ năm 1993 tới 2008. Một nghiên cứu bởi những nhà nghiên cứu Nam Hàn lên nhưng đứa trẻ Băc Hàn, những người đã bỏ trốn tới Trung Quốc đã phát hiện rằng những bé nam Bắc Hàn thấp hơn những những bé trai Nam Hàn cùng lứa tuổi 13 cm bởi vì sự thiếu dinh dưỡng.

Chủ nghĩa bài Hoa Kì ở Nam Hàn sau chiến tranh được thúc đẩy bởi sự hiện diện và hành vi của nhân viên quân sự Hoa Kì (USFK) và Hoa Kì ủng hộ cho một chế độ độc tài Nam Hàn, một thực tế vẫn còn hiển nhiên trong khoảng thời gian quá độ đất nước dân chủ trong những năm thập niên 80s. Tuy nhiên chủ nghĩa bài Hoa Kì đã giảm xuống ý nghĩa trong Nam Hàn những năm gần đây, 46% thiện chí trong 2003 tới 74% có thiện chí với Hoa Kì trong năm 2011, làm cho Nam Hàn là một trong những nước thân thiện Hoa Kì nhiều nhất trên thế giới.

Một số lượng lớn của những đứa trẻ con lai (tiếng Anh: mixed-race) (con cái của những lính Mĩ hoặc Liên hợp quốc và phụ nữ Triều Tiên) đang tràn đầy tại những trại mồ côi của đất nước. Bởi vì truyền thống xã hội Triều Tiên đặt nặng lên sợi dây ràng buộc gia đình đằng nội, dòng dõi huyết thống và sự trong sạch của chủng tộc, những đứa trẻ lại hoặc không có cha không dễ dàng được chấp nhận trong xã hội Nam Triều Tiên. Việc nhận con nuôi quốc tế đối với những đứa trẻ Triều Tiên đã bắt đầu trong 1954. Đạo luật Di trú Hoa Kỳ năm 1952 đã hợp pháp hóa việc nhập quốc tịch của những người không phải là người da đen và không phải là người da trắng với tư cách là công dân Hoa Kỳ, và có thể nhập cảnh vợ chồng và con cái từ Hàn Quốc sau Chiến tranh Triều Tiên. Với việc thông qua Đạo luật Di trú năm 1965, đã thay đổi đáng kể chính sách nhập cư của Hoa Kỳ đối với những người không phải là người châu Âu, người Hàn Quốc đã trở thành một trong những nhóm châu Á phát triển nhanh nhất ở Hoa Kỳ.

Quyết định của Mao Trạch Đông để giao chiến với Hoa Kì ở cuộc chiến Triều Tiên đã là một phép thử để đối đầu với những quan điểm của khối Cộng sản coi Hoa Kì là cường quốc chống cộng sản mạnh nhất, được cam kết tại một thời điểm khi chế độ Cộng Sản Trung Quốc vẫn đang củng cố quyền lực của nó sau chiến thắng trong cuộc nội chiến. Mao ủng hộ sự thiệp không để cứu Bắc Triều Tiên, nhưng bởi vì ông đã tin rằng một cuộc xung đột quân sự với Hoa Kì là không thể tránh được sau khi Hoa Kì tham gia cuộc chiến, và làm dịu Liên Xô để đảm bảo sự phân tán quân sự và đạt được mục đích của Mao làm Trung Quốc thành một cường quốc quân sự lớn trên thế giới. Mao cũng tham vọng trong cải thiện uy tín của ông trong cộng đồng cộng sản quốc tế bằng chứng minh rằng mối quan tâm chủ nghĩa Marx của ông là quốc tế cộng sản. Trong những năm cuối Mao đã tin rằng Stalin chỉ duy nhất đạt được một quan điểm tích cực của ông sau khi Trung Quốc tham chiến tại Triều Tiên. Bên trong đại lục Trung Quốc, cuộc chiến đã cải thiện uy tín dài hạn của Mao, Zho và Peng, cho phép Đảng Cộng sản Trung Quốc tăng tính hợp pháp của nó, trong khi sự bất đồng chống cộng sản giảm xuống.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Ngày này 29 tháng 8 năm 1950”. BBC. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2007. 
  2. ^ “Cựu chiến binh vụ Canada - Chiến tranh Triều Tiên”. Cựu chiến binh vụ Canada. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2007. [liên kết hỏng]
  3. ^ Walker, Jack D. “Thống kê sơ lược về Chiến tranh Triều Tiên”. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2007. 
  4. ^ “Sự tham chiến của Pháp vào Chiến tranh Triều Tiên”. Đại sứ quán Pháp. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2007. [liên kết hỏng]
  5. ^ Thomas, Nigel; Chappell, Mike (1986). The Korean War 1950-53. Oxford: Osprey Publishing. pp. 22–23. ISBN 0-85045-685-1.
  6. ^ a ă THE 60th ANNIVERSARY OF THE KOREAN WAR COMMEMORATION COMMITTEE
  7. ^ a ă â b “Ministry of National Defense of Republic of Korea”. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2011. 
  8. ^ “Tất cả các tổn thất của Chiến tranh Triều Tiên”. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2007. [liên kết hỏng]
  9. ^ “Quan hệ phòng thủ Vương quốc Anh và Triều Tiên”. Văn phòng Tham tán Quốc phòng, Đại sứ quán Anh, Seoul. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2007. 
  10. ^ Hickey, Michael. “Chiến tranh Triều Tiên: tổng quan”. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2007. 
  11. ^ “Thổ Nhĩ Kỳ trong Chiến tranh Triều Tiên”. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2007. 
  12. ^ “Veterans Affairs Canada”. Ngày 6 tháng 10 năm 1998. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2011. 
  13. ^ Korean War 1950–53 | Australian War Memorial
  14. ^ Tiểu đoàn Pháp lên đường. Tài liệu dạng phim tin tức cuộn lưu trữ của Pháp (Les Actualités Françaises). Ngày 11 tháng 5 năm 2003. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2007. [liên kết hỏng]
  15. ^ http://www.armada.mil.co/?idcategoria=86359[liên kết hỏng]
  16. ^ “Oprichting van Nederlands VN-detachement bestemd voor Korea”. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2011. 
  17. ^ "Filipino Soldiers in the Korean War (video youtube)". Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2011. 
  18. ^ a ă “www.belgian-volunteercorps-korea.be.”. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2011. 
  19. ^ New Zealand in the Korean War | NZHistory, New Zealand history online
  20. ^ So. Africa in the Korean War
  21. ^ a ă Xu, Yan. “Chiến tranh Triều Tiên: Trong quan điểm Chi phí Hữu hiệu”. Tổng lãnh sự quán Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại New York. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2007. 
  22. ^ a ă Hickey, Michael. “The Korean War: An Overview”. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2011. 
  23. ^ Chen, Hui; Hao Yan (2010-10-26). “183108:抗美援朝纪念馆公布朝鲜战争志愿军牺牲人数” (Bằng tiếng Trung). Xinhuanet. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2011. [liên kết hỏng]
  24. ^ Yang, Tiehu (2010-06-27). “徐焰少将:中国抗美援朝牺牲18万人” (Bằng tiếng Trung). People's Daily Online. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2011. 
  25. ^ Кривошеев Г. Ф., Россия и СССР в войнах XX века: потери вооруженных сил. Статистическое исследование (Krivosheev G. F., Nga và Liên Xô trong những cuộc chiến của thế kỷ thứ XX: những tổn thất của Quân đội. Greenhill nghiên cứu thống kê năm 1997, (bằng tiếng Nga)
  26. ^ “Chiến tranh chống Mỹ xâm lược và giúp đỡ Triều Tiên tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên”. Nhật báo Nhân dân (bản tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2007. 
  27. ^ “Tưởng nhớ cuộc chiến bị lãng quên: Triều Tiên, 1950-1953”. Trung tâm Lịch sử Hải quân. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2007. 
  28. ^ James F, Schnabel. “Quân đội Hoa Kỳ trong Chiến tranh Triều Tiên, Chính sách và Hướng dẫn: Năm thứ nhất, Chương 1”. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2007. 
  29. ^ “Hiệp ước Sáp nhập (Nhật Bản sáp nhập Triều Tiên)”. Trung tâm Nghiên cứu Đông Á phối hợp của Đại học USC và UCLA. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2007. 
  30. ^ a ă â Goulden, Joseph C (1983). Triều Tiên: Câu chuyện chưa được kể về chiến tranh. McGraw-Hill. tr. tr. 17. ISBN 0070235805. 
  31. ^ Rustow, Dankwart A. “Trật tự thế giới thay đổi và có dấu hiệu cho sự thống nhất Triều Tiên”. Viện nghiên cứu Trung-Xô, Đại học Hanyang. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2007. [liên kết hỏng]
  32. ^ McCune, Shannon C (tháng 5 năm 1946), “Cơ bản địa lý cho biên giới Triều Tiên”, Far Eastern Quarterly, tháng 5 năm 1946 (số. 5): 286–287 
  33. ^ Grajdanzev, Andrew (tháng 10 năm 1945), “Triều Tiên chia cắt”, Far Eastern Survey XIV: 282 
  34. ^ Grajdanzev, Andrew, Lịch sử về chiếm đóng Triều Tiên I (chương 4), tr. 16 
  35. ^ Halberstam 2007, tr. 63.
  36. ^ Hermes, Walter, Jr. (2002) [1966]. Truce Tent and Fighting Front. United States Army in the Korean War. Trung tâm Lịch sử Quân sự Quân đội Hoa Kỳ. tr. 2, 6–9. Bản gốc lưu trữ 24 tháng 2 năm 2009. 
  37. ^ Lee Chong-sik (1978). Đảng Lao động Triều Tiên. Ấn bản Viện Hoover. 
  38. ^ a ă Concharov, Sergei N; Lewis, John W. và Xue Litai (1995). Những đồng minh bất thường: Stalin, Mao, và Chiến tranh Triều Tiên. Stanford University Press. ISBN 0804725217. 
  39. ^ Acheson, Dean (1969). Những năm của tôi ở Bộ ngoại giao. W.W. Norton, Inc. tr. tr.355–358. 
  40. ^ a ă Cumings, Bruce, The Origins of the Korean war, , Princeton University Press (1981, 1990)
  41. ^ Weathersby, Kathryn, The Soviet Role in the Early Phase of the Korean War, The Journal of American-East Asian Relations 2, no. 4 (Winter 1993): 432
  42. ^ Goncharov, Sergei N., Lewis, John W. and Xue Litai, Uncertain Partners: Stalin, Mao, and the Korean War (1993)
  43. ^ Mansourov, Aleksandr Y., Stalin, Mao, Kim, and China's Decision to Enter the Korean War, September 16-15 tháng 10 năm 1950: New Evidence from the Russian Archives, Cold War International History Project Bulletin, Issues 6-7 (Winter 1995/1996): 94-107
  44. ^ Sudoplatov, Pavel Anatoli, Schecter, Jerrold L., and Schecter, Leona P., Special Tasks: The Memoirs of an Unwanted Witness - A Soviet Spymaster, Little Brown, Boston (1994)
  45. ^ a ă Chiến tranh Triều Tiên từ tài liệu do Liên Xô cung cấp, "Đánh giá chính trị của Chiến tranh Triều Tiên, 1949-51 bởi Evgueni Bajanov. Tiến sĩ. Evgueni Bajanov là Giám đốc Học viện Các vấn đề đương đại, Bộ Ngoại giao Nga, Moskva, Nga. Bài này ban đầu được giới thiệu tại hội nghị về "Chiến tranh Triều Tiên: Một sự đánh giá về ghi chép lịch sử," được tổ chứ ngày 24-25 tháng 7 năm 1995 tại Đại học Georgetown, Washington, DC, và được bảo trợ bởi Hội Triều Tiên, Hội Triều-Mỹ và Đại học Georgetown. [1][liên kết hỏng]
  46. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên MacroHistory
  47. ^ a ă â [2][liên kết hỏng]
  48. ^ “US and S Korea accused of war atrocities”. the Guardian. Truy cập 23 tháng 9 năm 2015. 
  49. ^ a ă Roy E. Appleman South To The Naktong, North To The Yalu, CHAPTER II Armed Forces of North and South Korea
  50. ^ a ă â b c Appleman, Roy E (1998). Phía nam Naktong, phía bắc Sôn Áp Lục. Bộ Lục quân. tr. phần. 15, các trang 381, 545, 771, 719. ISBN 0160019184. 
  51. ^ Lịch sử Úc: Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953)
  52. ^ Tổng thống Harry S. Truman (25 tháng 6 năm 1950). “Giải pháp đề ngày 25 tháng 6 của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc kêu gọi Bắc Triều Tiên rút quân về vĩ tuyến 38 và ngưng các cuộc tấn công thù nghịch giữa Nam và Bắc Triều Tiên”. Thư viện Truman. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2007. 
  53. ^ LaFeber, Walter (1997). Mỹ, Nga và Chiến tranh lạnh, 1945-1996 (8ª ed.). Nhà xuất bản McGraw-Hill. 
  54. ^ Gromyko, Andrei A. “Về sự can thiệp của Mỹ tại Triều Tiên, 1950”. Modern History Sourcebook. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2007. 
  55. ^ a ă â b Rummel, R.J. Thống kê về tàn sái dân sự. tr. Chương 10, Thống kê về các vụ tàn sát dân sự của Bắc Hàn, ước tính, tính toán, và nguồn. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010. 
  56. ^ a ă â b c d đ e ê Schnabel, James F (1992). Quân đội Hoa Kỳ trong Chiến tranh Triều Tiên: Chính sách và Hướng dẫn: Năm đầu tiên. Trung tâm Lịch sử Quân sự. tr. 155–192, 212, 304. ISBN 0-16-035955-4. 
  57. ^ a ă Viện Lịch sử Quân sự Triều Tiên. Chiến tranh Triều Tiên: Viện lịch sử Quân sự Triều Tiên bộ 3 cuốn. Bison Books, Ấn bản Đại Học Nebraska. tr. cuốn 1, tr.730, cuốn 2, tr. 512–529. ISBN 0803277946. 
  58. ^ Historical Dictionary of the Korean War, Paul M. Edwards, Plymouth, UK: Scarecrow Press, 2010, p. 32, entry "Bodo League Massacre"
  59. ^ Kim 2004, tr. 535.
  60. ^ Donovan, Robert J (1996). Những năm náo động: Nhiệm kỳ tổng thống của Harry S. Truman 1949-1953. Ấn bản Đại học Missouri. tr. tr. 285. ISBN 0826210856. 
  61. ^ Cohen, Eliot A; Gooch, John (2005). Những điều không may về quân sự: Mổ xẻ nguyên nhân thất bại trong chiến tranh. Ấn bản Tự do. tr. tr. 165–195. ISBN 0743280822. 
  62. ^ Hopkins, William (1986). Không kèn trống: Thủy quân lục chiến tại Hồ Chosin. Algonquin. 
  63. ^ Chuẩn đô đốc Doyle, James H; Mayer, Arthur J (tháng 4 năm 1979), “Tháng 12 năm 1950 tại Hungnam”, U.S. Naval Institute Proceedings, vol. 105 (no. 4): pp. 44–65 
  64. ^ Watson, Robert J; Schnabel, James F. (1998). Bộ tổng tư lệnh và Chính sách quốc gia, 1950-1951, Chiến tranh Triều Tiên, 1951-1953, Chiến tranh Triều Tiên (Lịch sử Bộ tổng tham mưu, quyển III, phần I và II). Văn phòng Lịch sử kết hợp, Văn phòng Tổng tư lệnh Liên quân Hoa Kỳ. tr. phần 1, tr. v; phần 2, tr. 614. 
  65. ^ Tướng tư lệnh, Không lực Viễn Đông (1951), Bản ghi nhớ gởi Tư lệnh Không đoàn Oanh tạc cơ 98, Okinawa 
  66. ^ “Tiểu sử Lý Thừa Vãn: Lý chỉ trích các cuộc tiếp xúc hòa bình”. Tiểu sử Tưởng niệm Chiến tranh Triều Tiên. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2007. 
  67. ^ Xu, Yan (ngày 29 tháng 7 năm 2003). “Chiến tranh Triều Tiên: trong quan điểm chi phí hữu hiệu”. Tổng lãnh sự quán Trung Hoa tại New York. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2007. 
  68. ^ CW2 Sewell, Stephen L. “Các phi cơ của Không lực Viễn đông và Liên hiệp quốc sử dụng tại Triều Tiên và mất mát từng loại”. http://web.archive.org/web/20150801210934/http://korean-war.com/. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2007. 
  69. ^ “Các phi công xuất sắc trong Chiến tranh Triều Tiên, các phi công phản lực cơ USAF F-86 Sabre”. http://web.archive.org/web/20150801042505/http://acepilots.com/. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2007. 
  70. ^ “Harrison R. Thyng”. Các phản lực cơ cổ điển Sabre. Truy cập 2006. [liên kết hỏng]
  71. ^ Walkom, Thomas (25 tháng 11 năm 2010). “Walkom: North Korea's unending war rages on”. Toronto Star. Bản gốc lưu trữ 1 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2011. 
  72. ^ Armstrong, Charles (20 tháng 12 năm 2010). “The Destruction and Reconstruction of North Korea, 1950–1960”. The Asia-Pacific Journal 8 (51). 
  73. ^ Cumings 2005, tr. 297–98.
  74. ^ Jager 2013, tr. 237–42.
  75. ^ Cumings, Bruce (10 tháng 12 năm 2004). “Napalm über Nordkorea” (bằng tiếng Đức). Le Monde diplomatique. Bản gốc lưu trữ 6 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2011. 
  76. ^ William F Dean (1954) General Dean's Story, (as told to William L Worden), Viking Press, pp. 272–73.
  77. ^ Conway-Lanz, Sahr (15 tháng 9 năm 2014). “The Ethics of Bombing Civilians After World War II: The Persistence of Norms Against Targeting Civilians in the Korean War”. The Asia-Pacific Journal 12 (37). 
  78. ^ Cumings, Bruce (1997). Korea's Place in the Sun: A History. WW Norton & Company. tr. 289–92. ISBN 0393316815. 
  79. ^ Knightley, Phillip (1982). The First Casualty: The War Correspondent as Hero, Propagandist and Myth-maker. Quartet. tr. 334. ISBN 080186951X. 
  80. ^ Panikkar, Kavalam Madhava (1981). In Two Chinas: Memoirs of a Diplomat. Hyperion Press. ISBN 0830500138. 
  81. ^ Truman, Harry S (1955–1956). Memoirs (2 volumes). Doubleday. vol. II, pp. 394–5. ISBN 156852062X. 
  82. ^ Hasbrouck, SV (1951). “memo to file (ngày 7 tháng 11 năm 1951), G-3 Operations file, box 38-A”. Library of Congress. 
  83. ^ Army Chief of Staff (1951). “memo to file (ngày 20 tháng 11 năm 1951), G-3 Operations file, box 38-A”. Library of Congress. 
  84. ^ Watson, Robert J; Schnabel, James F. (1998). The Joint Chiefs of Staff and National Policy, 1950–1951, The Korean War and 1951–1953, The Korean War (History of the Joint Chiefs of Staff, Volume III, Parts I and II). Office of Joint History, Office of the Chairman of the Joint Chiefs of Staff. part 1, p. v; part 2, p. 614. 
  85. ^ Commanding General, Far East Air Force (1951). “Memo to 98th Bomb Wing Commander, Okinawa”. 
  86. ^ Far East Command G-2 Theater Intelligence (1951). “Résumé of Operation, Record Group 349, box 752”. 
  87. ^ Toussaint, Éric (ngày 11 tháng 4 năm 2006). “Nam Hàn: sự thần kỳ hé mở”. Ủy ban xóa nợ thế giới thứ ba của Bỉ. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2007. 
  88. ^ “Tiết lộ vụ tàn sát tập thể kinh hoàng ở Hàn Quốc năm 1950”. Báo điện tử Dân Trí. 21 tháng 5 năm 2008. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. [cần nguồn tốt hơn]
  89. ^ Choe, Sang-Hun (ngày 25 tháng 6 năm 2007). “Nữa thế kỷ chờ một người chồng bị Bắc Triều Tiên bắt cóc”. Báo International Herald Tribune:Á châu Thái Bình Dương. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2007. 
  90. ^ “Nam Hàn hối tiếc vụ người tị nạn lẫn lộn với binh sĩ địch”. Đài truyền thông Vương quốc Anh (BBC). Ngày 18 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2007. 
  91. ^ http://www.presstv.com/Detail/2018/04/06/557613/US-dropped-Plagueinfected-Fleas-on-N-Korea-in-1952-Report
  92. ^ Carlson, Lewis H (2003). Tưởng nhớ các tù binh của một cuộc chiến bị lãng quên: Lịch sử kể lại về tù binh Chiến tranh Triều Tiên. St. Martin's Griffin. ISBN 0312310072. 
  93. ^ Lakshmanan, Indira A.R (1999). “Vụ tàn sát Đồi 303”. Boston Globe. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2007. 
  94. ^ Van Zandt, James E (Tháng 2 năm 2003). “`Anh sắp phải chết, một cái chết kinh hoàng' - Chiến tranh Triều Tiên - tội ác mà quân Bắc Hàn gây ra trong Chiến tranh Triều Tiên”. VFW Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2007. 
  95. ^ Cựu tù binh chiến tranh Mỹ (PDF). Bộ Cựu chiến binh. 
  96. ^ Lee, Sookyung (2007). “Ít khi biết đến, nhưng vẫn chưa quên, tù binh chiến tranh Nam Hàn kể chuyện của họ”. AII POW-MIA InterNetwork. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2007. [liên kết hỏng]
  97. ^ “Tù binh chiến tranh Nam Hàn mừng rỡ vì trốn thoát”. Đài truyền thông BBC. 19-01-2004]]. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  98. ^ http://kienthuc.net.vn/kim-chi-da-lua/46-hinh-anh-cuc-soc-ve-cuoc-chien-trieu-tien-1-222525.html?p=12.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)[cần nguồn tốt hơn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]