Chiến tranh Trung-Nhật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến tranh Trung-Nhật
Một phần của Chiến tranh Thái Bình Dương thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai
Japanese Occupation - Map.jpg
Bản đồ vùng Nhật Bản chiếm đóng vào năm 1940.
.
Thời gian 7 tháng 7, 19379 tháng 9, 1945
Địa điểm Trung Quốc
Nguyên nhân bùng nổ Sự kiện Lư Câu Kiều
Kết quả Nhật Bản đầu hàng phe đồng minh, Trung Quốc trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
Thay đổi lãnh thổ Trung Hoa chiếm lại Mãn Châu, Đài LoanBành Hồ, mất Mông Cổ
Tham chiến
Đài Loan
Trung Hoa Dân Quốc
và đồng minh của họ
Đế quốc Nhật Bản
Đế quốc Nhật Bản
và đồng minh của họ
Chỉ huy
Đài Loan Tưởng Giới Thạch
Đài Loan Trần Thành
Đài Loan Diêm Tích Sơn
Đài Loan Phùng Ngọc Tường
Đài Loan Lý Tông Nhân
Đài Loan Thang Ân Bá
Đài Loan Phó Tác Nghĩa
Đài Loan Vệ Lập Hoàng
Đài Loan Tiết Nhạc
Đài Loan Tôn Lập Nhân
Đài Loan Đỗ Duật Minh
Đài Loan Bạch Sùng Hy
Flag of the Chinese Communist Party.svg Mao Trạch Đông
Flag of the Chinese Communist Party.svg Bành Đức Hoài
Flag of the Chinese Communist Party.svg Chu Đức
Flag of the Chinese Communist Party.svg Hạ Long
Hoa Kỳ Joseph Stilwell
Hoa Kỳ Claire Chennault
Hoa Kỳ Albert Wedemeyer
Đế quốc Nhật Bản Thiên hoàng Hirohito
Đế quốc Nhật Bản Anami Korechika

Đế quốc Nhật Bản Yasuhiko Asaka
Đế quốc Nhật Bản Hata Shunroku
Đế quốc Nhật Bản Itagaki Seishiro
Đế quốc Nhật Bản Kan'in Kotohito
Đế quốc Nhật Bản Iwane Matsui
Đế quốc Nhật Bản Nishio Toshizo
Đế quốc Nhật Bản Okamura Yasuji
Đế quốc Nhật Bản Sugiyama Hajime
Đế quốc Nhật Bản Tojo Hideki
Đế quốc Nhật Bản Yoshijiro Umezu
Cờ của Chính phủ Uông Tinh Vệ Uông Tinh Vệ
Mãn Châu quốc Phổ Nghi

Lực lượng
*600.000 (1937)[3]
*1.124.900 quân (1945) [4]
Tổn thất

(bao gồm cả người bị thương, thiệt mạng và mất tích)

  • 17.530.000 thường dân[5]
*Theo Trung Quốc: Ước tính khoảng 2.100.000 thương vong, trong đó có khoảng 480.000 người chết[6]
.

Chiến tranh Trung-Nhật là chiến tranh giữa Trung QuốcNhật Bản bắt đầu từ 7 tháng 7 năm 1937 khi quân Thiên hoàng tiến chiếm Bắc Trung Hoa, khởi đầu từ Sự kiện Lư Câu Kiều và kết thúc khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh ngày 9 tháng 9 năm 1945 vào cuối cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945). Đây là cuộc chiến tranh lớn nhất ở châu Á thế kỷ 20.[7]

Bối cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc của chiến tranh Trung-Nhật có thể là Chiến tranh Thanh-Nhật diễn ra trong hai năm 1894-1895, khi Trung Quốc dưới triều Thanh, bị Nhật Bản đánh bại phải nhường Đài Loan và công nhận Triều Tiên độc lập qua Hiệp ước Shimonoseki (Mã Quan). Triều Thanh đang trong buổi hoàng hôn sụp đổ bởi các cuộc khởi nghĩa bên trong và chủ nghĩa đế quốc bên ngoài, trong lúc Nhật Bản đã trở thành một cường quốc sau công cuộc Minh Trị Duy tân.[8]. Trung Hoa Dân quốc được thành lập năm 1912 sau cuộc cách mạng Tân Hợi lật đổ triều Thanh. Nước Cộng hòa non trẻ thậm chí còn trở nên suy yếu hơn bởi sự xung đột của các quân phiệt. Một vài sứ quân thậm chí còn liên kết với nước ngoài nhằm nỗ lực quét sạch các đối thủ khác. Ví dụ, quân phiệt Trương Tác Lâm của Mãn Châu hợp tác rộng rãi với Nhật để nhận viện trợ quân sự và kinh tế.[9]

Năm 1915, Nhật đưa ra 21 yêu sách nhằm tăng cường quyền lợi chính trị và thương mại ở Trung Quốc.[10] Tiếp sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Nhật giành lấy khu vực ảnh hưởng của Đế quốc Đức ở Sơn Đông.[11] Trung Quốc dưới thời chính phủ Bắc Dương còn bị chia cắt không thể chống lại sự xâm nhập của nước ngoài cho đến Chiến tranh Bắc phạt năm 1926 - 1928, do Trung Quốc Quốc dân đảng đối lập ở Quảng Châu tiến hành.[12]

Sau khi Nhật xâm chiếm Trung Quốc, chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch vẫn dồn sức tiêu diệt Đảng cộng sản Trung Quốc chứ không lo chống Nhật. Ngày 4/12/1936, 2 tướng của Quốc dân đảng là Trương Học LươngDương Hổ Thành được lệnh của Tưởng Giới Thành tấn công đại bản danh của Đảng cộng sản tại Diên An. Do ủng hộ phong trào kháng chiến chống Nhật của Đảng cộng sản Trung Quốc nên 2 ông cố tình trì hoãn việc tiến công. Ngày 6/12, hai tướng thỉnh cầu Tưởng Giới Thạch đình chỉ nội chiến và cùng Đảng cộng sản chống Nhật nhưng bị Tưởng cự tuyệt. Do căm ghét thái độ "hàng Nhật chống Cộng" của Tưởng, tối 12/12/1936 hai tướng cho quân bao vây Hoa Thanh trì và bắt sống Tưởng cùng bộ hạ đưa về Tây An tống giam, đó chính là Sự biến Tây An. Sau sự kiện này, Tưởng Giới Thạch đã phải đồng ý hợp tác với Đảng cộng sản Trung Quốc để kháng chiến chống Nhật.

Trong 8 năm chiến tranh, quân đội Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc đã hợp tác với nhau. Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến hành nhiều trận đánh với Nhật và chịu tổn thất lớn trước một đạo quân trang bị tốt hơn của Nhật Bản, tuy nhiên chiến thuật du kích của họ cũng phát huy hiệu quả khiến quân Nhật sa lầy. Để tỏ thiện chí hợp tác, Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng cử một phần lực lượng tới trợ giúp cho hàng ngũ của Quốc dân đảng (xem Tân Tứ quânSư đoàn Cộng sản của Quân đội Cách mạng Quốc dân). Hai bên thỏa thuận đơn vị này được Quốc dân đảng cho mang huy hiệu giống binh sĩ của họ để được di chuyển trong cùng do Quốc dân đảng kiểm soát, nhưng công tác chỉ huy thì vẫn do Đảng Cộng sản nắm giữ.

Do trang bị yếu cũng như sự hợp tác lỏng lẻo giữa Quốc Dân đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc nên cuộc chiến của Trung Quốc gặp nhiều khó khăn. Quân Quốc dân Đảng chủ yếu tham chiến ở khu vực Đông Nam, trong khi Đảng Cộng sản chủ yếu tham chiến ở khu vực Đông Bắc. Tuy lực lượng nhỏ hơn nhiều so với Quốc Dân đảng song quân của Đảng Cộng sản tỏ ra tác chiến hiệu quả hơn do có tinh thần chiến đấu cao hơn và biết sử dụng chiến tranh du kích, các chiến khu của họ được giữ vững trong chiến tranh. Bất chấp những thiệt hại khi chiến đấu chống Nhật, lực lượng của Đảng Cộng sản đã tăng từ 92.000 quân (năm 1937) lên 900.000 quân (năm 1945), chưa kể hàng triệu du kích do họ chỉ đạo. Ngoài ra, uy tín Đảng Cộng sản còn được nâng cao, họ nhận được sự ủng hộ của đông đảo người dân do những thành tích chiến đấu trong công cuộc kháng Nhật, đây sẽ là nguyên nhân chính Đảng Cộng sản đánh bại Quốc dân đảng trong nội chiến Trung Quốc lần 2.

Trong khi đó, quân Quốc Dân đảng không biết phát động chiến tranh du kích và thường đánh trực diện kiểu quy ước với quân Nhật. Kết quả là quân Quốc Dân đảng thường bị thất trận, họ đã phải bỏ Nam Kinh để chạy tới Trùng Khánh và để mất vùng duyên hải Đông nam với nhiều thành phố lớn như Thượng Hải, Quảng Châu... Uy tín của Quốc Dân đảng trong nhân dân cũng bị suy sụp do những thất bại này.

Tám năm chiến tranh gây ra tổn thất lớn cho Trung Quốc về nhân mạng, ước từ 15 đến 25 triệu. Người Nhật đã thực hiện Chiến dịch Hoa huệ vàng nhằm lấy đi số vàng bạc trên khắp châu Á trong đó bao gồm cả Trung Quốc. Số vàng lấy được tại Trung Quốc đã được chuyển về Nhật an toàn hơn các phần ở Đông Nam Á.

Chiến tranh đã chấm dứt do Nhật Bản đầu hàng phe Đồng minh vào tháng 8 năm 1945. Tuy Trung Quốc đã không thể thắng Nhật Bản trên lục địa châu Á trong cuộc chiến Trung - Nhật này nhưng chiến thắng chung cuộc của phe Đồng minh cũng khiến Trung Quốc trở thành nước thắng trận.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ David Horner - Essential Histories 018 - The Second World War (1)Pacific[Osprey Essential Histories 018] Nhà xuất bản Osprey
  2. ^ Taylor, Jay, The Generalissimo, tr.645.
  3. ^ Nhật Bản trong chiến tranh Thái Bình Dương – Nhà xuất bản Công an Nhân dân tr 144
  4. ^ http://www.geocities.co.jp/WallStreet/2687/siryo/siryo16.html
  5. ^ Hsu Long-hsuen "Lịch sử của cuộc chiến tranh Trung-Nhật (1937-1945)" Đài Bắc 1972
  6. ^ Hà Bỉnh Lệ. Các nghiên cứu về dân số của Trung Quốc, 1368-1953. Cambridge: Harvard University Press, 1959.
  7. ^ Bix, Herbert P. (1992), “The Showa Emperor's 'Monologue' and the Problem of War Responsibility”, Journal of Japanese Studies 18 (2): 295–363, doi:10.2307/132824 
  8. ^ Wilson, Dick, When Tigers Fight: The story of the Sino-Japanese War, 1937-1945, tr.5
  9. ^ “Foreign News: Revenge?”. Time magazine. 13 tháng 8 năm 1923. 
  10. ^ Hoyt, Edwin P., Japan's War: The Great Pacific Conflict, tr.45
  11. ^ Palmer and Colton, A History of Modern World, tr.725
  12. ^ Taylor, Jay, tr.57

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]