Chiến tranh Trung-Nhật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chiến tranh Trung-Nhật
Một phần của Giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranhChiến tranh Thái Bình Dương thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai
Japanese Occupation - Map.jpg
Bản đồ vùng Nhật Bản chiếm đóng vào năm 1940.
Thời gian 7 tháng 7 năm 19379 tháng 9 năm 1945
Địa điểm Trung Quốc đại lục Miến Điện
Nguyên nhân bùng nổ Nhật Bản chiếm Mãn Châu (1931)
Sự kiện Lư Câu Kiều (1937)
Kết quả Nhật Bản đầu hàng phe đồng minh, Trung Quốc trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
Thay đổi lãnh thổ Trung Hoa chiếm lại Mãn Châu, Đài LoanBành Hồ, nhưng phải chấp nhận việc Mông Cổ độc lập
Tham chiến
Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949)
Trung Hoa Dân Quốc
và đồng minh

Đế quốc Nhật Bản
Đế quốc Nhật Bản
và đồng minh

Chỉ huy và lãnh đạo
Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949) Tưởng Giới Thạch
Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949) Trần Thành
Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949) Diêm Tích Sơn
Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949) Phùng Ngọc Tường
Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949) Lý Tông Nhân
Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949) Thang Ân Bá
Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949) Phó Tác Nghĩa
Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949) Vệ Lập Hoàng
Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949) Tiết Nhạc
Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949) Tôn Lập Nhân
Đài Loan Đỗ Duật Minh
Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949) Bạch Sùng Hy
Flag of the Chinese Communist Party.svg Mao Trạch Đông
Flag of the Chinese Communist Party.svg Bành Đức Hoài
Flag of the Chinese Communist Party.svg Chu Đức
Flag of the Chinese Communist Party.svg Hạ Long
Hoa Kỳ Joseph Stilwell
Claire Chennault
Albert Wedemeyer
Thiên hoàng Hirohito
Anami Korechika

Yasuhiko Asaka
Hata Shunroku
Itagaki Seishiro
Kan'in Kotohito
Iwane Matsui
Nishio Toshizo
Okamura Yasuji
Sugiyama Hajime
Tojo Hideki
Yoshijiro Umezu
Cờ của Chính phủ Uông Tinh Vệ Uông Tinh Vệ
Cờ của Chính phủ Uông Tinh Vệ Trần Công Bác
Mãn Châu quốc Phổ Nghi

Lực lượng
* 1.700.000 quân Trung Hoa Dân Quốc và 92.000 quân Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 1937)
  • 5.700.000 quân Trung Hoa Dân Quốc và 910.000 quân Đảng Cộng sản Trung Quốc (1945)[1]
  • 900 máy bay Mĩ (năm 1945)[2]
* 600.000 (năm 1937)[3]
  • 1.124.900 (năm 1945) [4]
Thương vong và tổn thất
*Quân Trung Hoa Dân Quốc
Chết: 1.320.000
Bị thương: 1.797.000
Không rõ số mất tích
*Theo Trung Quốc: Ước tính khoảng 2.100.000 thương vong, trong đó có khoảng 480.000 người chết[6]

Chiến tranh Trung-Nhật là chiến tranh giữa Trung QuốcNhật Bản bắt đầu từ 7 tháng 7 năm 1937 khi quân Thiên hoàng tiến chiếm Bắc Trung Hoa, khởi đầu từ Sự kiện Lư Câu Kiều và kết thúc khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh ngày 9 tháng 9 năm 1945 vào cuối cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945). Đây là cuộc chiến tranh lớn nhất ở châu Á thế kỷ 20.[7]. Sử sách Trung Quốc và Đài Loan gọi tên cuộc chiến là Chiến tranh kháng Nhật, giải phóng nhân dân hoặc Kháng chiến chống Nhật, cứu quốc.

Bối cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc của chiến tranh Trung-Nhật có thể là Chiến tranh Thanh-Nhật diễn ra trong hai năm 1894-1895, khi Trung Quốc dưới triều Thanh, bị Nhật Bản đánh bại phải nhường Đài Loan và công nhận Triều Tiên độc lập qua Hiệp ước Shimonoseki (Mã Quan). Triều Thanh đang trong buổi hoàng hôn sụp đổ bởi các cuộc khởi nghĩa bên trong và chủ nghĩa đế quốc bên ngoài, trong lúc Nhật Bản đã trở thành một cường quốc sau công cuộc Minh Trị Duy tân.[8]. Trung Hoa Dân quốc được thành lập năm 1912 sau cuộc cách mạng Tân Hợi lật đổ triều Thanh. Nước Cộng hòa non trẻ thậm chí còn trở nên suy yếu hơn bởi sự xung đột của các quân phiệt. Một vài sứ quân thậm chí còn liên kết với nước ngoài nhằm nỗ lực quét sạch các đối thủ khác. Ví dụ, quân phiệt Trương Tác Lâm của Mãn Châu hợp tác rộng rãi với Nhật để nhận viện trợ quân sự và kinh tế.[9]

Năm 1915, Nhật đưa ra 21 yêu sách nhằm tăng cường quyền lợi chính trị và thương mại ở Trung Quốc.[10] Tiếp sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Nhật giành lấy khu vực ảnh hưởng của Đế quốc Đức ở Sơn Đông.[11] Trung Quốc dưới thời chính phủ Bắc Dương còn bị chia cắt không thể chống lại sự xâm nhập của nước ngoài cho đến Chiến tranh Bắc phạt năm 1926 - 1928, do Trung Quốc Quốc dân đảng đối lập ở Quảng Châu tiến hành.[12]

Ngày 18-9-1931, Nhật bắt đầu xâm lược Đông bắc Trung Quốc. Chính quyền Tưởng Giới Thạch chủ trương không kháng cự, nên chỉ trong vòng vài tháng toàn bộ vùng Mãn Châu (Đông bắc Trung Quốc) rộng lớn đã rơi vào tay Nhật. Sau đó, tháng 1/1932, Nhật tấn công Thượng Hải. Năm 1933, Nhật chiếm Nhiệt Hà và miền bắc Sát Cáp Nhĩ; năm 1935, chiếm miền đông bắc tỉnh Hà Bắc.

Ngày l-8-1935, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ra lời kêu gọi “đình chỉ nội chiến, đoàn kết chống Nhật”, được nhân dân hưởng ứng. Phong trào biểu tình thị uy chống Nhật lan rộng khắp trong nước. Từ tháng 5/1936, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhiều lần đề nghị Quốc dân đảng đình chiến, hợp tác thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật. Tuy nhiên, chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch vẫn dồn sức tiêu diệt Đảng cộng sản Trung Quốc chứ không lo chống Nhật.

Ngày 4/12/1936, 2 tướng của Quốc dân đảng là Trương Học LươngDương Hổ Thành được lệnh của Tưởng Giới Thành tấn công đại bản danh của Đảng cộng sản tại Diên An. Do ủng hộ phong trào kháng chiến chống Nhật của Đảng cộng sản Trung Quốc nên 2 ông cố tình trì hoãn việc tiến công. Ngày 6/12, hai tướng thỉnh cầu Tưởng Giới Thạch đình chỉ nội chiến và cùng Đảng cộng sản chống Nhật nhưng bị Tưởng cự tuyệt. Do căm ghét thái độ "hàng Nhật chống Cộng" của Tưởng, tối 12/12/1936 hai tướng cho quân bao vây Hoa Thanh trì và bắt sống Tưởng cùng bộ hạ đưa về Tây An tống giam, đó chính là Sự biến Tây An. Sau sự kiện này, Tưởng Giới Thạch đã phải đồng ý hợp tác với Đảng cộng sản Trung Quốc để kháng chiến chống Nhật.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 7-7-1937, quân đội Nhật tấn công bất ngờ vào Lư Câu Kiều ở ngoại ô phía nam Bắc Bình (Bắc Kinh), đó là sự biến 7 tháng 7. Không đầy một tháng sau vụ Lư Cầu Kiều, Bắc Kinh, Thiên Tân đều rơi vào tay Nhật. Đến tháng 3-1938, Hoa Bắc bị chiếm gần hết. Ở Hoa Trung, tháng 11-1937, Nhật chiếm Thượng Hải; tháng 12 chiếm Nam Kinh. Đến tháng 10-1938, Vũ Hán, Quảng Châu đều rơi vào tay Nhật.

Sau sự biến 7 tháng 7, ngày hôm sau, Đảng cộng sản Trung Quốc đã ra lời tuyên ngôn kháng Nhật trước toàn quốc, ngày 9 tháng 7 Hồng quân Trung Quốc gửi điện kêu gọi xung phong tới Hoa Bắc kháng Nhật. Ngày 15 tháng 7, Trung ương đảng cộng sản Trung Quốc công bố “Tuyên bố hợp tác Quốc Cộng của đảng cộng sản Trung Quốc”. Ngày 22-9, do chịu sức ép dư luận, Quốc dân đảng phải chính thức công bố bản Tuyên ngôn đó.

Trong 8 năm chiến tranh, quân đội Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc đã hợp tác với nhau. Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến hành nhiều trận đánh với Nhật và chịu tổn thất lớn trước một đạo quân trang bị tốt hơn của Nhật Bản, tuy nhiên chiến thuật du kích của họ cũng phát huy hiệu quả khiến quân Nhật sa lầy. Để tỏ thiện chí hợp tác, Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng cử một phần lực lượng tới trợ giúp cho hàng ngũ của Quốc dân đảng (xem Tân Tứ quânSư đoàn Cộng sản của Quân đội Cách mạng Quốc dân). Hai bên thỏa thuận đơn vị này được Quốc dân đảng cho mang huy hiệu giống binh sĩ của họ để được di chuyển trong cùng do Quốc dân đảng kiểm soát, nhưng công tác chỉ huy thì vẫn do Đảng Cộng sản nắm giữ.

Trong khi quân Quốc dân đảng rút lui thì lực lượng vũ trang của Đảng Cộng sản ở vùng Tây Bắc (lúc này được đổi tên là Bát lộ quân) và ở vùng Hoa Nam (được gọi là Tân tứ quân) đã thực hiện hiện phương châm độc lập tiến hành chiến tranh nhân dân, tiến vào vùng địch hậu, phát động nhân dân mở rộng chiến tranh du kích, lập nhiều khu căn cứ địa chống Nhật. Hơn 30.000 bát lộ quân vượt Hoàng Hà tiến về Hoa Bắc, 12.000 tân tứ quân tiến về phía bắc và nam Trường Giang. Cuối tháng 9/1937, sư đoàn 115 của Bát lộ quân đã đánh thắng tại Trận Bình Hình quan (Sơn Tây), tiêu diệt hơn 3.000 quân tinh nhuệ của Nhật. Đây là chiến thắng quân sự đầu tiên của người Trung Quốc trong cuộc chiến, có ý nghĩa cổ vũ tinh thần người dân cả nước.

Do trang bị yếu cũng như sự hợp tác lỏng lẻo giữa Quốc Dân đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc nên cuộc chiến của Trung Quốc gặp nhiều khó khăn. Quân Quốc dân Đảng chủ yếu tham chiến ở khu vực Đông Nam, trong khi Đảng Cộng sản chủ yếu tham chiến ở khu vực Đông Bắc. Tuy lực lượng nhỏ hơn nhiều so với Quốc Dân đảng song quân của Đảng Cộng sản tỏ ra tác chiến hiệu quả hơn do có tinh thần chiến đấu cao hơn và biết sử dụng chiến tranh du kích, các chiến khu của họ được giữ vững trong chiến tranh. Đảng cộng sản Trung Quốc đề ra chiến lược "chiến tranh nhân dân - trường kỳ kháng chiến", trước sau đã thành lập các căn cứ địa Tân Sát Kỳ, Tấn Tây Bắc, Tấn Kỳ Dự, Tấn Tây Nam, Tô Nam, Tô Bắc, Hoản Nam, Hoản Trung, Dự Hoản Tô... các căn cứ đó ngày càng được mở rộng. Bát lộ quân đánh bại nhiều cuộc càn quét của quân Nhật và những hành động chống cộng của Quốc dân đảng, củng cố và phát triển căn cứ địa kháng Nhật. Trong giai đoạn này, Bát lộ quân đã chiến đấu hơn 20.000 trận, diệt hàng chục vạn quân Nhật, làm cho quân Nhật bị suy yếu. Cùng với Bát lộ quân, Tân tứ quân trên cơ sở vốn có, tiếp tục phát triển đến 50 vạn người, lực lượng vũ trang địa phương cũng tương đối phát triển.

Bất chấp những thiệt hại khi chiến đấu chống Nhật, lực lượng của Đảng Cộng sản đã tăng từ 92.000 quân (năm 1937) lên 900.000 quân (năm 1945), chưa kể hàng triệu du kích do họ chỉ đạo. Ngoài ra, uy tín Đảng Cộng sản còn được nâng cao, họ nhận được sự ủng hộ của đông đảo người dân do những thành tích chiến đấu trong công cuộc kháng Nhật, đây sẽ là nguyên nhân chính Đảng Cộng sản đánh bại Quốc dân đảng trong nội chiến Trung Quốc lần 2.

Trong khi đó, quân Quốc Dân đảng tuy đông về số lượng nhưng thành phần thì hỗn tạp. Lực lượng này bao gồm nhiều quân phiệt các nơi tập trung lại nên nội bộ khá lủng củng, nhiều quân phiệt vốn không ưa hoặc không chịu nghe lệnh Tưởng Giới Thạch, khi có biến động thì Tưởng Giới Thạch cũng chẳng thể ra lệnh hiệu quả. Tháng 10/1937, quân Nhật chiếm được Thái Nguyên, đưa quân đánh Thượng Hải. Quốc dân đảng do sợ đường bị cắt đứt, ngày 9 tháng 11 đã bỏ Thượng Hải, quân chủ lực rút về phía nam dời thủ đô về Trùng Khánh, chiến tranh chính quy của Quốc dân đảng chuyển hướng về Đường Tân Phổ và lưu vực Trường Giang. Sau khi chiếm được Thượng Hải, ngày 13 tháng 12, quân Nhật chiếm Nam Kinh, thảm sát hơn 300.000 người Trung Quốc. Chỉ trong 4 tháng, Quốc dân đảng đã tổn thất hơn 40 vạn quân. Quân Nhật men theo đường Tân Phổ, đến mùa xuân năm 1938 chiếm được Bạng Phụ và Duyện Châu, sau đó lại chiếm Từ Châu. Sau khi Từ Châu thất thủ, quân Nhật tiếp tục tiến về phía nam, lần lượt chiếm được Vũ Hán, Quảng Châu. Cả một vùng rộng lớn vùng Trung Nguyên và Hoa Nam đã rơi vào tay Nhật.

Quân Quốc Dân đảng không biết phát động chiến tranh du kích mà thường đánh trực diện kiểu quy ước với quân Nhật. Do kém hơn quân Nhật cả về trang bị lẫn tinh thần chiến đấu nên kết quả là quân Quốc Dân đảng thường bị thất trận, họ chịu một loạt thất bại lớn tại Trận Thượng Hải (1937), Trận Từ Châu, Trận Vũ Hán, Trận Nam Xương... Quốc Dân đảng đã phải bỏ thủ đô Nam Kinh để chạy tới Trùng Khánh và để mất vùng duyên hải Đông nam với nhiều thành phố lớn như Thượng Hải, Nam Kinh, Quảng Châu... Quân đội Tưởng Giới Thạch từng bước phải rút lui và cuối cùng tập trung tại khu vực Tây Nam Trung Quốc để bảo toàn lực lượng. Uy tín của Quốc Dân đảng trong nhân dân bị suy sụp do những thất bại này. Một số chiến lược tiêu cực của Quốc Dân đảng cũng gây mất lòng dân, như Sự kiện phá đê Hoa Viên Khẩu để ngăn quân Nhật, nhưng đã khiến 500.000 dân thường thiệt mạng vì lũ lụt.

Tính đến tháng 1/1941 quân Tưởng Giới Thạch được Mỹ-Anh viện trợ 500 triệu USD vay lãi suất thấp, 630 triệu USD dưới hình thức quân trang, quân dụng, vũ khí. Đến tháng 3/1942 thêm khoản tín dụng 50 triệu bảng Anh và 500 triệu USD. Và rất nhiều thứ không thể quy ra tiền như: cầu, đường, sân bay, sĩ quan và cố vấn quân sự, tình báo. Khoản viện trợ này đã giúp Quân đội Tưởng Giới Thạch trụ lại được trước sự tấn công của Nhật.

Tám năm chiến tranh gây ra tổn thất lớn cho Trung Quốc về nhân mạng, ước từ 15 đến 25 triệu. Người Nhật đã thực hiện Chiến dịch Hoa huệ vàng nhằm lấy đi số vàng bạc trên khắp châu Á trong đó bao gồm cả Trung Quốc. Số vàng lấy được tại Trung Quốc đã được chuyển về Nhật an toàn hơn các phần ở Đông Nam Á.

Việc phát xít Nhật đem quân tấn công Trung Quốc vào năm 1937 đã gián tiếp giúp cho Đảng Cộng sản tăng cường lực lượng. Đến thời điểm đó, lực lượng hai bên là rất chênh lệch, tuy nhiên cuộc xâm lược của Nhật đã khiến cho Tưởng Giới Thạch buộc phải tạm thời liên kết với Đảng Cộng sản để tiến hành kháng chiến, do đó Đảng Cộng sản đã tránh được mũi nhọn tấn công của Quốc dân Đảng. Sau khi cuộc nội chiến kết thúc và Đảng Cộng sản lên nắm quyền lãnh đạo Trung Quốc, Mao Trạch Đông đã rất nhiều lần "cảm ơn" quân đội Nhật đã gián tiếp "giúp" ông và ĐCS đánh bại Quốc dân Đảng. Vào năm 1970, khi trả lời phỏng vấn của nhà báo Mỹ Edgar Snow, Mao Trạch Đông đã nói rằng: "Nếu không có sự giúp đỡ của người Nhật, cuộc cách mạng [của Đảng Cộng sản] tại Trung Quốc sẽ không thể thành công. Tôi đã nói điều này với một người Nhật, một nhà tư bản, tên là Saburo Nanxiang. Ông ấy nói với tôi rằng: 'Chúng tôi xin lỗi vì đã xâm lược Trung Quốc'. Tôi nói với ông ấy rằng: 'Đừng nói vậy, ngược lại, Nhật Bản đã "giúp" chúng tôi (những người Cộng sản) rất nhiều, đặc biệt là các quân phiệt Nhật Bản và Nhật hoàng. Các ông chiếm hơn một nửa Trung Quốc, người dân Trung Quốc đã đoàn kết chiến đấu với các ông, nhờ đó chúng tôi đã xây dựng được một triệu quân và kiểm soát được những vùng có 100 triệu dân. Đây không phải là sự giúp đỡ của các ông sao?". Trong một cuộc gặp vào năm 1972 để đàm phán về việc thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ giữa 2 nước, khi Thủ tướng Nhật Tanaka Kakuei đưa ra lời xin lỗi vì đã xâm lược Trung Quốc vào năm 1937, Mao Trạch Đông đã trả lời rằng: "Nếu Nhật Bản không xâm chiếm Trung Quốc, chúng tôi không thể có được sự hợp tác với Quốc Dân Đảng, chúng tôi không thể phát triển, và cuối cùng lên nắm quyền, và cũng sẽ không có cuộc đàm phán ngày hôm nay tại Bắc Kinh" [13]

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh đã chấm dứt do Nhật Bản đầu hàng phe Đồng minh vào tháng 8 năm 1945. Tuy Trung Quốc đã không thể thắng Nhật Bản trên lục địa châu Á trong cuộc chiến Trung - Nhật này nhưng chiến thắng chung cuộc của phe Đồng minh cũng khiến Trung Quốc trở thành nước thắng trận.

Kết quả của cuộc chiến là Trung Quốc đã chiếm lại được Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ (những lãnh thổ đã bị rơi vào tay Nhật từ trước chiến tranh), tuy nhiên Trung Quốc phải chấp nhận việc Mông Cổ độc lập. Ngoài ra, Trung Hoa Dân Quốc còn có ghế trong Hội đồng Thường trực của Liên Hiệp Quốc. Ghế này của Trung Hoa Dân Quốc sau đó được chuyển lại cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ David Horner - Essential Histories 018 - The Second World War (1)Pacific [Osprey Essential Histories 018] Nhà xuất bản Osprey
  2. ^ Taylor, Jay, The Generalissimo, tr.645.
  3. ^ Nhật Bản trong chiến tranh Thái Bình Dương – Nhà xuất bản Công an Nhân dân tr 144
  4. ^ http://www.geocities.co.jp/WallStreet/2687/siryo/siryo16.html
  5. ^ Hsu Long-hsuen "Lịch sử của cuộc chiến tranh Trung-Nhật (1937-1945)" Đài Bắc 1972
  6. ^ Hà Bỉnh Lệ. Các nghiên cứu về dân số của Trung Quốc, 1368-1953. Cambridge: Harvard University Press, 1959.
  7. ^ Bix, Herbert P. (1992), “The Showa Emperor's 'Monologue' and the Problem of War Responsibility”, Journal of Japanese Studies 18 (2): 295–363, doi:10.2307/132824 
  8. ^ Wilson, Dick, When Tigers Fight: The story of the Sino-Japanese War, 1937-1945, tr.5
  9. ^ “Foreign News: Revenge?”. Time magazine. 13 tháng 8 năm 1923. 
  10. ^ Hoyt, Edwin P., Japan's War: The Great Pacific Conflict, tr.45
  11. ^ Palmer and Colton, A History of Modern World, tr.725
  12. ^ Taylor, Jay, tr.57
  13. ^ 中共官方记载 毛泽东至少六次感谢日本侵华

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]