Bước tới nội dung

Chiến tranh cơ động

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trực thăng cơ động Kỵ binh bay là khí tài quan trọng cho hình thái chiến tranh cơ động
Lực lượng Spetsnaz GRU (Biệt kích Nga) đang diễn tập tác chiến trong môi trường rừng rậm

Chiến tranh cơ động (Maneuver warfare) hay còn gọi là Vận động chiến (Mobile warfare/运动战/Yùndòngzhàn) là một chiến lược quân sự nhấn mạnh vào việc di chuyển, chủ động và bất ngờ để giành lợi thế. Chiến thuật cơ động tìm cách gây tổn thất gián tiếp bằng cách bao vây, lấn dũi và đột phá, đồng thời giảm thiểu giao chiến trực diện quy ước. Trái ngược với chiến tranh tiêu hao nơi mà sức mạnh thường được sử dụng để chống lại sức mạnh, chiến thuật cơ động cố gắng sử dụng sức mạnh để thọc vào điểm yếu nhằm hoàn thành nhiệm vụ.[1] Chiến tranh cơ động sử dụng các yếu tố sáng tạo, mưu trí, táo bạo và bất ngờ, kết hợp với quyết tâm chiến thắng không khoan nhượng,[1] tìm cách né tránh điểm mạnh của đối phương trong khi khai thác điểm yếu và tấn công vào những điểm yếu chí mạng, là khái niệm đối lập với chiến tranh tiêu hao. Thay vì tìm kiếm chiến thắng bằng cách áp dụng lực lượng và đội hình vượt trội để áp đảo và tiêu diệt thì chiến thuật cơ động sử dụng các đòn phủ đầu, nghi binh, gây rối loạn và đột phá để hủy đi ý chí và khả năng chiến đấu của đối phương.[2]

Tổng quan

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử, chiến tranh cơ động được các quân đội nhỏ, gắn kết hơn, được huấn luyện tốt hơn hoặc tiên tiến hơn về mặt công nghệ so với chiến tranh tiêu hao, đặc biệt nhấn mạnh. Thuật ngữ "cơ động chiến thuật" được các nhà lý luận chiến tranh cơ động sử dụng để chỉ sự di chuyển của các lực lượng nhằm giành "vị thế thuận lợi so với kẻ thù", trái ngược với cách sử dụng trong cụm từ "chiến tranh cơ động".[3] Chiến tranh cơ động nhấn mạnh vào tốc độ, sự đột phá và các mũi thọc sâu để bao vây, tiêu diệt đối phương, đây là một học thuyết, một triết lý quân sự đặt trọng tâm vào việc đánh bại đối phương bằng cách làm tê liệt khả năng chỉ huy, phối hợp và ý chí chiến đấu của họ, thay vì tiêu diệt họ một cách đơn thuần về mặt vật chất trong các trận đánh trực diện, nó sử dụng sự di chuyển (cơ động) như là vũ khí chính để giành chiến thắng quyết định. Thay vì dàn trải lực lượng trên toàn mặt trận, học thuyết này chủ trương tập trung sức mạnh đột phá (xe tăng, bộ binh cơ giới) vào một khu vực phòng thủ yếu nhất của đối phương để tạo ra một "đột phá khẩu". Ngay khi chọc thủng được phòng tuyến, các đơn vị cơ động sẽ không dừng lại để đánh các vị trí còn lại ở các ổ đề kháng, mà sẽ nhanh chóng luồn sâu vào hậu phương của địch. Ở Liên Xô trong những năm 1920 và 1930, khái niệm "tác chiến chiều sâu" đã được Nguyên soái Mikhail Tukhachevsky phát triển và đưa vào học thuyết quy định chiến trường của Hồng quân.[4] Điều đó dẫn đến việc thành lập nhóm kỵ binh cơ giới trong Thế chiến II và thành lập nhóm cơ động tác chiến trong Chiến tranh Lạnh.[5]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Mông Cổ

[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Hãn Đế quốc Mông Cổ Thành Cát Tư Hãn đã sử dụng một hệ thống chiến tranh cơ động tập trung vào yếu tố cơ động nhanh chóng, quyết đoán, tận dụng kỹ năng và sức bền của kỵ binh Mông Cổ tạo thành các làn sóng xung kích với lối đánh thần tốc, ào ạt và hủy diệt. Thành Cát Tư Hãn đã sử dụng các chiến thuật tác chiến, chỉ huy và kiểm soát tình hình, nghi binh và chiến thuật chiến trường chính xác, vượt trội hơn hẳn so với các đối thủ của ông ở Trung Quốc, Nga, Ba Tư và Đông Âu, và đã đánh bại hầu như mọi đội quân địch mà ông phải đối mặt.[6] Một ví dụ về chiến thuật vận động chiến của ông là các chiến dịch đả bại và sáp nhập Đế chế Khwarazmia chỉ trong vài tháng giao tranh vào khoảng năm 1219 đến năm 1221 khi mà đối thủ có quân số gần gấp ba lần quân Mông Cổ. Sự di chuyển linh hoạt và vận động liên tục của quân Mông Cổ đã kìm hãm lực lượng Khwarazmia, tước đoạt khả năng giành thế chủ động của họ, đồng thời khiến Shah Khwarazmia Ala ad-Din Muhammad và quân đội của ông bị sốc và suy sụp tinh thần, qua đó kết thúc chiến dịch trước khi Shah kịp triển khai quân số đông đảo hơn nhiều.[7]

Trung Quốc

[sửa | sửa mã nguồn]

Vận động chiến là một chiến lược quân sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sử dụng lực lượng thông thường trên các mặt trận linh hoạt với các đơn vị cơ động để khai thác các cơ hội gây bất ngờ về mặt chiến thuật, hoặc nơi có thể đạt được ưu thế về lực lượng cục bộ. Là một trong ba hình thức chiến tranh (战争形式/zhànzhēng xíngshì) của Mao Trạch Đông, chiến tranh cơ động là hình thức chiến tranh chính được lực lượng cộng sản Trung Quốc sử dụng từ đầu những năm 1930 cho đến khi kết thúc nội chiến Trung Quốc (Nội chiến Quốc-Cộng)[8] Hai hình thức chiến tranh khác mà Mao Trạch Đông giải nghĩa trong Chiến tranh trường kỳ (Trường kỳ mai phục), chiến tranh du kích (游击战/yóujīzhàn/Du kích chiến) và giao tranh vị trí (阵地战/zhèndìzhàn/Trận địa chiến), ít được sử dụng hơn.[8] Ví dụ đáng chú ý nhất về vận động chiến của Trung Quốc là cuộc Vạn lý Trường chinh, một cuộc rút lui quân sự quy mô lớn, trong đó Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình đã chỉ huy hành quân luân hoàn ở Quý Châu cho đến khi đánh tan các đội quân lớn hơn rất nhiều đang truy đuổi, và sau đó có thể lẻn qua Vân Nam và Tứ Xuyên, mặc dù cuộc rút lui chỉ hoàn thành với một phần mười lực lượng đã lên đường tham gia Vạn lý Trường chinh tại Giang Tây. Năm chiến dịch đầu tiên của Quân đội Tình nguyện Nhân dân Trung Quốc (Chí nguyện quân) trong Chiến tranh Triều Tiên được đặc trưng bởi chiến lược chiến tranh cơ động, trong đó Quân đội Nhân dân Trung Hoa (PVA) bao vây kẻ thù bằng các cuộc diễn tập và tìm cách tiêu diệt địch. Sau đó, bước vào giai đoạn chiến tranh vị trí, khi cả lực lượng PVA và Liên Hợp Quốc đều giao tranh đến thế bế tắc dọc theo vĩ tuyến 38 bắc.

Việt Nam

[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Việt Nam, các nguyên tắc của chiến tranh cơ động đã được Quân đội Nhân dân Việt Nam vận dụng một cách sáng tạo, mưu trí và đạt thành công mang tính lịch sử. Mặc dù không phải lúc nào cũng có ưu thế về vũ khí cơ giới hạng nặng, nhưng tư duy về tốc độ, bất ngờ, luồn sâu, đánh hiểm, nở hoa trong lòng địch đã được thể hiện rõ nét. Đỉnh cao của nghệ thuật chiến tranh cơ động của Việt Nam chính là Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 với chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp "Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng". Bằng việc sử dụng các quân đoàn chủ lực cơ giới hóa (năm cánh quân với bốn binh đoàn), quân đội Việt Nam đã thực hiện các mũi thọc sâu, chia cắt, bao vây thần tốc, đồng thời kết hợp với sự nổi dậy của quần chúng, làm tan rã hoàn toàn bộ máy quân sự và chính quyền của Việt Nam Cộng hòa trong một thời gian chóng vánh.

Thế kỷ XXI

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến xâm lược Ukraina năm 2022, sau khi khai chiến bằng tuyên bố mở màn chiến dịch quân sự đặc biệt, quân Nga đã triển khai chiến thuật "đánh nhanh thắng nhanh", "tốc chiến tốc quyết", dùng các nhóm tác chiến cấp tiểu đoàn (BTG) từ các đơn vị lính dù Nga (VDV), Thủy quân lục chiến Nga, Đặc công Nga, Đặc nhiệm Akhmat (đóng vai trò như một lực lượng xung kích tinh nhuệ) triển khai đánh chớp nhoáng vào các cứ điểm, lập đầu cầu, đồng loạt xung phong tấn công từ nhiều hướng (bắc, đông bắc, đông, nam) nhằm làm phân tán và gây choáng váng cho hệ thống phòng thủ của Ukraina. Tuy vậy, những bước tiến của Nga đã gặp trở ngại từ các ổ đề kháng do Ukraina triển khai hệ thống chống tăng vác vai do phương Tây tài trợ, sự chống đối ngoan cố của các lực lượng cực hữu và sự trấn thủ kháng cự hiệu quả của Lữ đoàn Cơ giới số 72.

Học giả Seth Jones lập luận rằng Nga đã buộc phải từ bỏ chiến tranh cơ động sau thất bại thảm hại trong việc áp dụng hiệp đồng tác chiến mà buộc phải chuyển sang chiến tranh tiêu hao.[9] Bước sang năm 2023, đến lượt lực lượng Ukraina sử dụng hình thức chiến tranh cơ động trong chiến dịch phản công năm 2023 khi tung ra các lữ đoàn chủ lực nắm đấm thép do NATO huấn luyện và trang bị như Lữ đoàn 47, Lữ đoàn 93, và đặc biệt là Lữ đoàn 35 kiêu hùng đã áp dụng chiến thuật tiến công trong hành tiến dọc theo sông Mokri Yaly (tương tự chiến thuật tấn công Baghdad năm 2003 của quân đội Mỹ) và họ đã chọc thủng phòng tuyến của quân Nga, giải phóng làng Makarivka, rồi tiến đến làng Storozheve và cùng dự phần giải phóng làng Urozhaine. Nhưng rồi bước tiến của họ đã bị chặn lại do Nga chuẩn bị phòng thủ bằng bãi mìn và chiến hào[10] và hệ thống phòng ngự răng rồng của phía Nga.

Sang đến năm 2024, quân đội Ukraina cũng tiếp tục sử dụng chiến thuật cơ động để tấn công và thực chiến hiệu quả hơn trong giai đoạn đầu của cuộc tấn công Kursk 2024, khi nhanh chóng đập tan lực lượng Biên phòng Nga, quân đội Nga ban đầu gặp khó khăn trong việc đẩy lùi cuộc tấn công bất ngờ này. Tuy nhiên, bước tiến này sau đó đã bị đình trệ[11] khi Nga chi viện lực lượng Chechnya (do Thiếu tướng Apti Alaudinov chỉ huy) trấn thủ. Theo Michael Kofman thì Lực lượng Nga hoạt động tốt hơn nhiều khi họ hoạt động với hệ thống phòng thủ đã được chuẩn bị, các tuyến cố định, từ đó cuộc chiến thiên nhiều hơn về giao tranh vị trí.[12] Trong năm 2025, đặc biệt ở các mặt trận miền Đông Ukraina như trận Pokrovsk và trận Dobropillia, quân Nga đã bắt đầu áp dụng lại các yếu tố của chiến tranh cơ động, nhưng ở quy mô chiến thuật nhỏ hơn, kế thừa từ học thuyết "tác chiến chiều sâu" của Liên Xô.

Họ không dùng các quân đoàn lớn để thọc sâu, mà sử dụng các nhóm bộ binh xung kích nhỏ (các nhóm trinh sát phá hoại-DRG của lực lượng Biệt kích Nga) để xâm nhập, luồn qua các kẽ hở phòng tuyến, mở đường cho các đơn vị lớn hơn tiến vào một cách thận trọng. Phong cách tác chiến này tương đồng với tác phong hành sự của Biệt kích Lôi Hổ như là sự hội tụ chiến thuật (tactical convergence) về mặt thủ thuật thâm nhập, khi các binh sĩ trong các toán phá hoại được tung vào đều được lựa chọn kỹ càng và huấn luyện tốt, có kỹ năng chiến đấu cá nhân, tự tìm hướng và tác chiến độc lập cao so với lính bộ binh thông thường. Hiện nay, Nga đang cố gắng kết hợp các yếu tố cơ động ở cấp độ chiến thuật nhỏ để tạo ra các đột phá cục bộ trên một mặt trận đã chuyển sang thế giằng co, tiêu hao. Nga cũng không ngừng tuyển mộ lính đánh thuê và các tân binh nước ngoài phần lớn được phiên chế vào Lữ đoàn Prizrak[13] ("Lê dương Nga") một hình thức huy động lính nước ngoài không chính quy, cùng các đơn vị trừng giới để tung vào cuộc chiến.

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 "Design for Military Operations - The British Military Doctrine" (PDF). Army Code No 71451. Số D/CGS/50/8. Chief of the General Staff. 1996. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2022.
  2. ↑ Barnes, Paul (ngày 9 tháng 3 năm 2021). "Maneuver Warfare: "Reports of My Death Have Been Greatly Exaggerated"". Modern War Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2025.
  3. ↑ Lind, William (1985). Maneuver Warfare Handbook'. Routledge.
  4. ↑ p.32, Simpkin, Erickson
  5. ↑ pp.139-186, Simpkin
  6. ↑ Ramirez, Joe E. Jr (tháng 4 năm 2000). "Genghis Khan and Maneuver Warfare". CARLISLE BARRACKS, PENNSYLVANIA 17013: U.S. Army War College. USAWC STRATEGY RESEARCH PROJECT. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2020.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: địa điểm (liên kết)
  7. ↑ Benfield, LtCol Darrel C. (ngày 11 tháng 5 năm 2012). "The Mongols: Early Practitioners of Maneuver Warfare" (PDF). Defense Technical Information Center. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2020.
  8. 1 2 Fravel, M. Taylor (ngày 23 tháng 4 năm 2019). Active Defense: China's Military Strategy since 1949 (bằng tiếng Anh). Princeton University Press. ISBN 978-0-691-18559-0.
  9. ↑ Jones, Seth G. (ngày 1 tháng 6 năm 2022). "Russia's Ill-Fated Invasion of Ukraine: Lessons in Modern Warfare" (bằng tiếng Anh).
  10. ↑ Zafra, Mariano; McClure, Jon; Zafra, Mariano; McClure, Jon; Zafra, Mariano; McClure, Jon; Zafra, Mariano; McClure, Jon; Zafra, Mariano; McClure, Jon (ngày 21 tháng 12 năm 2023). "Mapping Ukraine's counteroffensive" – qua www.reuters.com.
  11. ↑ Méheut, Constant (ngày 22 tháng 8 năm 2024). "Russia Pushes Forward in Ukraine's East as Kursk Offensive Slows" – qua NYTimes.com.
  12. ↑ "Ukraine's swift push into the Kursk region shocked Russia and exposed its vulnerabilities". ABC News (bằng tiếng Anh). American Broadcasting Company. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2024.
  13. ↑ M. Ilyushina and A. Suliman (ngày 11 tháng 3 năm 2022). "Putin welcomes foreign 'volunteers,' most from Middle East, to reinforce troops in Ukraine". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2022.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]