Chiến tranh giành độc lập Namibia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chiến tranh giành độc lập Namibia
Một phần của Chiến tranh Lạnh
NamibianWar1978.PNG
Tình hình địa chính trị năm 1978. Những nước có thiện cảm với quân du kích quốc gia được biểu thị bằng màu đỏ, và Namibia được biểu thị bằng màu hồng nổi có sọc đen chéo.
Thời gian26 tháng 8 năm 1966 – 21 tháng 3 năm 1990
(Bản mẫu:Tuổi in years, months, weeks and days)
Địa điểm
Tây-Nam Phi (hiện nay là Namibia)
Kết quả

Chiến thắng mang tính chiến lược của SWAPO

Thay đổi
lãnh thổ
Tây-Nam Phi giành độc lập khỏi Nam Phi với tư cách là Cộng hòa Namibia.
Tham chiến

Lực lượng chống cộng:  Nam Phi

Ủng hộ:

UNITA[1]

Lực lượng quốc gia châu Phi: PLAN (SWAPO)
SWANU

Chỉ huy và lãnh đạo
Cộng hòa Nam Phi Gerrit Viljoen
Cộng hòa Nam Phi Willie van Niekerk
Cộng hòa Nam Phi Louis Pienaar
Cộng hòa Nam Phi BJ Vorster
Cộng hòa Nam Phi Pieter Willem Botha
Cornelius Njoba
Peter Kalangula
Jonas Savimbi
Flag of South West Africa People's Organisation.svg Sam Nujoma
Flag of South West Africa People's Organisation.svg Andimba Toivo ya Toivo
Flag of South West Africa People's Organisation.svg Dimo Hamaambo
Flag of South West Africa People's Organisation.svg Julius Shaambeni Shilongo Mnyika
Flag of South West Africa People's Organisation.svg Peter Mweshihange
Lực lượng

~71,000 (1989)[1][17]
Cộng hòa Nam Phi Nam Phi:
30,743 quân SADF
10,000 lính không chính quy
Cộng hòa Nam Phi Tây-Nam Phi:
22,000 quân SWATF

8,300 cảnh sát SWAPOL

Flag of South West Africa People's Organisation.svg 1989:[18]

32,000 du kích

40,000

50,000
Thương vong và tổn thất
 Nam Phi: 2,038-2,500 chết[19] [20] : 11.335 chết[21]
: 2,016–5,000 (bao gồm cả Nội chiến Angola)
Dân thường Namibia chết: 947–1,087

Chiến tranh giành độc lập Namibia hay Chiến tranh biên giới Nam Phi là cuộc chiến kéo dài từ năm 1966 đến năm 1990, là cuộc chiến du kích của Tổ chức Nhân dân Tây-Nam Phi (SWAPO) và các lực lượng khác chiến đấu chống lại chính phủ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi. Nó gắn liền với cuộc chiến tranh biên giới Nam Phi.

Nam Phi đã nắm quyền cai quản khu vực mà về sau vẫn còn gọi là Tây-Nam Phi kể từ khi chiếm được của Đức trong Thế chiến I rồi sau đó nhận được sự ủy nhiệm từ Hội Quốc Liên trao quyền quản lý vùng lãnh thổ này. Năm 1966 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, tổ chức kế thừa Hội Quốc Liên đã hủy bỏ ủy nhiệm quyền cai trị vùng lãnh thổ Tây-Nam Phi của Nam Phi và tuyên bố rằng nó thuộc quyền quản lý trực tiếp của Liên Hợp Quốc. Nam Phi từ chối công nhận nghị quyết này và tiếp tục quản lý lãnh thổ trên thực tế.[22]

Ngày 22 tháng 8 năm 1966, lực lượng du kích SWAPO đã phát động một cuộc tấn công chống lại Lực lượng Phòng vệ Nam Phi tại Omugulugwombashe. Đây là trận đánh vũ trang đầu tiên trong cuộc đấu tranh giành độc lập ở Namibia.[23] Trong ngày lễ kỷ niệm thì 26 tháng 8 là ngày nghỉ lễ ở Namibia. Liên Hợp Quốc đã công nhận ngày này như là Ngày Namibia[24] nhưng người Namibia thường gọi đó là Ngày Anh hùng.

Chiến tranh đã kết thúc với Hiệp định New York ký vào ngày 22 tháng 12 năm 1988, trong đó cũng đã chấm dứt sự dính líu trực tiếp của quân đội nước ngoài trong cuộc Nội chiến Angola. Độc lập đến với Namibia vào ngày 21 tháng 3 năm 1990 qua cuộc bầu cử chứng kiến cảnh SWAPO giành chiến thắng 55 trong số 72 ghế trong Quốc hội Namibia, cho phép họ thành lập chính phủ quốc gia của riêng mình.[25]

Giao tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn nổi dậy, 1964-1974[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn những năm 1960[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 1965, 1 nhóm du kích 7 người di chuyển qua biên giới Angola/Nam Phi và thành lập trại du kích.

Ngày 26 tháng 9 năm 1966, Quân đội chính phủ Nam Phi tiến hành chiến dịch Blouwildebees, mặc dù họ đã thành công trong chiến dịch thì các hoạt động của SWAPO vẫn không dừng lại.

Giai đoạn những năm 1970[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 14 tháng 11 năm 1975 đến tháng 1 năm 1976, Nam Phi cùng FNLA, UNITA và Zaire tiến hàng chiến dịch Savannah nhưng thất bại và bị MPLA và Cuba đánh bại.

Ngày 10 tháng 11 năm 1975, MPLA phòng thủ căn cứ Quifangondo thành công trong cuộc tấn công của FNLA.

Ngày 1 tháng 11 năm 1976 đến ngày 31 tháng 3 năm 1977, Nam Phi tiến hành chiến dịch Seiljag.

Tháng 5 năm 1978, Nam Phi tiến hành chiến dịch Bruilof hay chiến dịch Wedding với mục đích tiêu diệt các căn cứ của PLAN (Quân đội giải phóng nhân dân Namibia) ở vùng lân cận Chetequera

Từ ngày 4 đến 10 tháng 5 năm 1978, Nam Phi thành công tiến hành chiến dich Reindeer. Đồng thời cũng diễn ra trận Cassinga (còn được gọi là đột kích Cassinga hay thảm sát Kassinga)

Từ ngày 6 đến 13 tháng 3 năm 1979, Nam Phi tiến hành chiến dịch Rekstok với mục đích tiêu diệt các căn cứ của PLAN (Quân đội giải phóng nhân dân Namibia) tại Mongua, Oncocua, Henhombe và Heque.

Giai đoạn những năm 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 10 tháng 6 đến 1 tháng 7 năm 1980, Quân đội Nam Phi thực hiện chiến dịch Skeptic nhằm tìm kiếm các cơ sở khác nhau của PLAN trên Angola.

Ngày 30 tháng 7 năm 1980, Nam Phi tiêu hủy 1 căn cứ của MPLA và giết chết 27 lính SWAPO mà không có bất kỳ thương vong nào.

Ngày 19 tháng 2 năm 1980, Nam Phi triển khai ném bom trên Angola nhằm tiêu diệt SWAPO và PLAN.

Từ ngày 23 tháng 8 đến 2 tháng 9 năm 1981, Nam Phi đưa 5,000 binh sĩ vào chiếm đóng tại Xangongo và Ongiva suốt chiến dịch Protea.

Từ 1 đến 20 tháng 11 năm 1981, Nam Phi mở chiến dịch Daisy nhằm phá hủy trụ sở chính và các căn cứ của PLAN ở các địa phương thuộc Chitequeta and Bambi.

Từ ngày 9 đến 14 tháng 3 năm 1982, Nam Phi đã triển khai quân đội trong chiến dịch Super nhằm ngăn chặn các du kích Namibia xâm nhập vào Tây Nam Phi.

Từ ngày 15 tháng 2 đến 15 tháng 4 năm 1983, SADF tổ chức 1 chiến dịch lớn nhằm tiêu diệt những phiến quân Namibia ở phía bắc của Tây Nam Phi.

Ngày 29 tháng 12 năm 1983, SADF tổ chức ném bom PLAN ở Lubango, Angola.

Từ ngày 29 đến 30 tháng 6 năm 1985, nam Phi tổ chức chiến dịch Boswilger để truy đuổi và tiêu diệt quân nổi dậy.

Từ ngày 15 đến 22 tháng 9 năm 1985, Nam Phi mở cuộc tấn công phủ đầu nhằm vào các căn cứ của PLAN ở các khu vực Evale, Anhanca và Dova ở Angola.

Ngày 31 tháng 10 năm 1987, Nam Phi tấn công vào căn cứ Bộ Tư lệnh Phương Bắc của PLAN.

Từ ngày 1 đến 9 tháng 4 năm 1989, Nam phi tổ chức chiến dịch Merlyn nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của quân nổi dậy PLAN (SWAPO) vào Tây Nam Phi / Namibia trái với lệnh ngừng bắn có hiệu lực vào ngày 1 tháng 4 năm 1989.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Fryxell, Cole. To Be Born a Nation. tr. 13.
  2. ^ Cuba Annual Report: 1986, 1986. Page 538-539.
  3. ^ Land Mines in Angola, 1993. Page 6.
  4. ^ The Soviet Union and Revolutionary Warfare: Principles, Practices, and Regional Comparisons, 1988. Page 140-147
  5. ^ Namibia: the road to self-government, 1979. Page 41.
  6. ^ The foreign policy of Yugoslavia, 1973–1980, 1980. Page 125
  7. ^ Yugoslavia in the 1980s, 1985. Page 265.
  8. ^ Interparliamentary Union Conference, Sofia, Bulgaria: Report of the United States Delegation to the 64th Conference of the Interparliamentary Union, Held at Sofia, Bulgaria, 21–ngày 30 tháng 9 năm 1977. Page 42
  9. ^ Record of Proceedings -International Labour Conference 6, 1982. Page 4.
  10. ^ Tanzania: A Political Economy, 2013. Page 355.
  11. ^ SWAPO and the struggle for national self-determination in Namibia, 1980. Page 33.
  12. ^ “Rhodesian Insurgency – Part 2”. Rhodesia.nl. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2013.
  13. ^ Imagery and Ideology in U.S. Policy Toward Libya 1969–1982, 1988. Page 70.
  14. ^ SWAPO Information Bulletin, 1983. Page 37.
  15. ^ AAPSO Presidium Committee on Africa held in Algeria, 17–ngày 18 tháng 2 năm 1985, 1985. Page 26.
  16. ^ David A. Granger. “Forbes Burnham and the Liberation of Southern Africa” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2015.
  17. ^ Tsokodayi, Cleophas Johannes. Namibia's Independence Struggle: The Role of the United Nations. tr. 1–305.
  18. ^ “World Bank discussion paper no. 331: Africa technical department series: Case”. Greenstone. 1996. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2013.
  19. ^ “SA Roll of Honour: List of Wars”. Justdone.co.za. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2013.
  20. ^ Reginald Herbold Green. “Namibia: The road to Namibia – Britannica Online Encyclopedia”. Britannica.com. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2013.
  21. ^ “Military Chronicle of South-West Africa”. Rhodesia.nl. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2013.
  22. ^ “Namibian War of Independence 1966–1988”. Armed Conflict Events Database. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2009.
  23. ^ Petronella Sibeene (ngày 17 tháng 4 năm 2009). “Swapo Party Turns 49”. New Era.
  24. ^ United Nations Conferences and Observances
  25. ^ "Namibian Voters Deny Total Power to SWAPO," by Michael Johns, The Wall Street Journal, ngày 19 tháng 11 năm 1989. Lưu trữ 2014-08-10 tại Wayback Machine.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]