Chim cút ngực lam
| Chim cút ngực lam | |
|---|---|
Coturnix chinensis | |
| Tình trạng bảo tồn | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Lớp (class) | Aves |
| Bộ (ordo) | Galliformes |
| Họ (familia) | Phasianidae |
| Chi (genus) | Coturnix |
| Loài (species) | C. chinensis |
| Danh pháp hai phần | |
| Coturnix chinensis Linnaeus, 1766 | |
| Danh pháp đồng nghĩa | |
Excalfactoria chinensis | |

Coturnix chinensis là một loài chim trong họ Phasianidae.[2] Còn được biết với tên cút vua, cút Tàu, cút nút áo, gà rutin, chim cút ngực lam là một nhánh nhỏ thuộc giống Coturnicini, phân họ Phasianidae. Đây là loài nhỏ nhất được coi là cút thật.
Phân bố
[sửa | sửa mã nguồn]Chim cút ngực lam hoang dã phân bố rộng khắp phía nam Trung Quốc, Nam Á, Đông Nam Á, nam tới đông nam Úc. Đã có những nỗ lực đưa loài này tới bảo tồn ở New Zealand những năm 90 của thế kỷ XIX, nhưng đều thất bại[3].
Phân loài:
[sửa | sửa mã nguồn]- S. c. chinensis (Linnaeus, 1766): Tìm thấy ở Ấn Độ, Sri Lanka, Malaysia, Đông Dương, đông nam Trung Quốc, Đài Loan. Có số lượng được thuần hóa lớn nhất
- S. c. trinkutensis (Richmond, 1902): Tìm thấy ở Nicobar (huyện) thuộc Vịnh Bengal.
- S. c. lineatus (Scopoli, 1786): Tìm thấy ở Philipines, Borneo, Lesser Sundas, Sulawesi và Sula Islands.
- S. c. lepidus (Hartlaub, 1879): Tìm thấy ở New Guinea và Bismarck Archipelago.
- S. c. victoriae (Matthews, 1912): Tìm thấy ở đông Úc.
- S. c. colletti (Mathews, 1912): Tìm thấy ở bắc Úc.
Ngoại hình và nhận dạng
[sửa | sửa mã nguồn]Ngoại hình của cút ngực lam nhỏ bé nhất trong họ với chiều dài toàn thân 12-15 cm, cân nặng khoảng 34.5- 48g, chim mái to lớn hơn nhưng chân ngắn hơn chim trống.[4] Thực tế trong điều kiện nuôi nhốt, chúng có thể nặng tới 50-65g, vượt quá ngưỡng này được coi là béo phì. Chân màu cam vàng có 4 ngón. Mỏ đen sẫm, thon gọn hơn Cút Nhật Bản.
Loài cút vua trong tự nhiên chủ yếu có kiểu hình "wild type", với con trống sặc sỡ hơn con mái. Chim mái lông thường màu nâu đốm, ít chi tiết để thuận tiện lẩn trốn, trong khi chim trống có bụng và mắt đỏ, lông màu lam ở mặt và ngực, đa số có vạt lông trắng thành hình "râu quai nón".
Ở dạng thuần hóa, cút vua thường được phối giống chọn lọc theo màu sắc tạo nhiều kiểu hình màu lông: wild type, bạc, nâu kem, nâu tuyền, đen tuyền, tuxedo (bụng nhạt màu, lưng đậm màu), pied (khoang), khảm. [5]
Đời sống
[sửa | sửa mã nguồn]Tập tính tự vệ
[sửa | sửa mã nguồn]Cút ngực lam nhút nhát và có tập tính lẩn trốn trong bụi rậm, hốc đất từ nhỏ; chỉ khi bị kích động chúng phản xạ bằng cách bay vọt lên khỏi mặt đất tới 3-6m. Những cá thể bạo dạn hơn thường chỉ được tìm thấy sau nhiều đời thuần hóa có chọn lọc. Cạnh tranh chủ yếu xảy ra cùng loài do stress, môi trường sống chật chội, thiếu ăn, thiếu bạn tình,... chúng phản ứng bằng đuổi, cắn mổ, kéo chân.
Tập tính kiếm ăn
[sửa | sửa mã nguồn]Chế độ ăn của loài này là ăn tạp
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ BirdLife International (2013). "Coturnix chinensis". Sách Đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2013.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2013.
- ↑ Clements, J. F.; Schulenberg, T. S.; Iliff, M. J.; Wood, C. L.; Roberson, D.; Sullivan, B.L. (2012). "The eBird/Clements checklist of birds of the world: Version 6.7". Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
- ↑ "APPENDIX 2 Failed introductions - Birds New Zealand". Birds New Zealand. ngày 12 tháng 8 năm 2024.
- ↑ https://absa.asn.au/wp-content/uploads/2016/10/King-Quail-1.pdf
- ↑ https://dergipark.org.tr/en/download/article-file/4807554
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]
Dữ liệu liên quan tới Chim cút ngực lam tại Wikispecies
- Loài ít quan tâm theo Sách đỏ IUCN
- Coturnix
- Chim Trung Quốc
- Chim Việt Nam
- Chim Lào
- Chim Myanmar
- Chim Philippines
- Chim Đài Loan
- Chim Singapore
- Chim Sri Lanka
- Chim Brunei
- Chim Malaysia
- Chim Papua New Guinea
- Chim Thái Lan
- Chim Pakistan
- Chim Nepal
- Chim Indonesia
- Chim Campuchia
- Chim Bangladesh
- Chim châu Á
- Chim Ấn Độ
- Chim New Guinea
- Chim Nam Úc
- Chim Đông Nam Á
- Chim Tây Úc
- Sơ khai Bộ Gà