Choi Young-jae

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Youngjae
ảnh teaser cho Album [Present: YOU] &ME Edition tháng 12 năm 2018
Thông tin nghệ sĩ
Tên bản ngữ최영재
Tên khai sinhChoi Young Jae
Nghệ danhYoungjae, Ars
Sinh17 tháng 9, 1996 (23 tuổi), Hàn Quốc
Nguyên quánMokpo Hàn Quốc
Thể loạiK-Pop
Nghề nghiệpCa sĩ, Nhạc sĩ
Nhạc cụvocal
Năm hoạt động2014-nay
Hãng đĩaJYP Entertainment
Hợp tác vớiJYP Nation
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Choi.

Choi Youngjae (tiếng Hàn: 최영재) là ca sĩ, giọng ca chính của GOT7 - 1 nhóm nhạc K-Pop thuộc JYP Entertainment.[1] Sáng tác nhạc dưới nghệ danh Ars (bắt nguồn từ câu thành ngữ latinh Ars longa, vita brevis).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Youngjae sinh ngày 17 tháng 9 năm 1996 và lớn lên tại Mokpo, Hàn Quốc.

Năm 2013, Youngjae chính thức trở thành thực tập sinh thuộc JYP Entertainment sau khi vượt qua buổi tuyển chọn của công ty. Khi ấy cậu được đánh giá là có kĩ năng thanh nhạc còn tốt hơn so với nhiều trainee khác trong công ty. Trong thời gian hơn 7 tháng thực tập tại công ty trước khi debut, chủ yếu cậu học và tập nhảy. Youngjae là mảnh ghép cuối cùng của GOT7.

Năm 2014, tốt nghiệp Seoul Korea Arts High School.

Năm 2015, Youngjae được nhận vào Trường Đại học Seokyeong.[2]

Năm 2016, cậu theo học Trường Đại học Taekyung, khoa Người mẫu cùng Yugyeom (maknae của GOT7). Youngjae chia sẻ là muốn theo học khoa Âm nhạc nhưng vì lịch trình quá bận rộn, cậu ấy không thể chuẩn bị cũng như hoàn thành tất cả các bài kiểm tra/kì thi để vào học khoa đó.

Một thành viên của GOT7[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 7 tháng làm thực tập sinh, Youngjae chính thức debut cùng GOT7 vào ngày 16/01/2014 cùng bài hát Girls Girls Girls, đảm nhận vị trí main vocal của nhóm.

Âm nhạc[3][sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bài hát Link Chú thích
2018 At The Usual Time [x] "Wok of Love OST" part 2
I'm All Ears [x] với Park Jimin

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tác phẩm Ghi chú
2016 Rewind (Album Flight Log: Departure) Hợp tác cùng 조찬양, Command Freaks
1:31AM Hợp tác cùng Defsoul
Hey (Album Flight Log: Turbulence) Hợp tác cùng 김원, 오현주
Sick (Album Flight Log: Turbulence) Hợp tác cùng Mark, Jackson

Damon Sharp, Carlos Battey, Gregg Pagani

내하루 (My Day) Hợp tác cùng 오현주

đăng trên Soundcloud

TRAUMA Hợp tác cùng 오현주

đăng trên Soundcloud

2017 통화버튼 (Call button) Hợp tác cùng J.praize, 오현주

đăng trên Soundcloud

Sign (Album Flight Log: Arrival) Hợp tác cùng Noday, Chloe
Victim Of Love Góp giọng cùng Elliott Yamin

Sáng tác: Sanjoy, Stephen Rezza

Moon U (Mini Album: 7For7) Hợp tác cùng 주찬양, Maxx Song, Bambam,

Command Freaks

잠들고 싶어 (I want to fall asleep) Hợp tác cùng Noday

đăng trên soundcloud

2018 Hesitate (EP: Eyes On You) Hợp tác cùng Amillo
Nobody Knows (PRESENT: YOU) Hợp tác cùng Pollen, LAVIN
2019 Time out (Spinning top) Hợp tác cùng Noday, Versa Choi

Các hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2017, Choi Young Jae lấy biệt danh "King of Game Machine" lần đầu tham gia chương trình King of Masked Singer một mình mà không có mặt các thành viên GOT7 và đã thu được khá nhiều sự khen ngợi từ công chúng. Ở đây, Young Jae cũng đã trải lòng về việc cậu khao khát được tham gia chương trình ca nhạc và thể hiện khả năng ca hát của mình như thế nào.

Khoảng tháng 7, trong thời gian bộ đôi tiền bối JJ Project comeback và quảng bá mini album "Verse 2", Youngjae đã sang Mỹ học thanh nhạc, trải nghiệm một số hoạt động thú vị mới mẻ tại đây. Cụ thể nhất, Youngjae tham gia góp giọng cho ca khúc Victim of Love của nhạc sĩ Sanjoy và Stephen Rezza cùng với ca sĩ mà Youngjae hâm mộ Elliott Yamin. Giấc mơ được gặp thần tượng của Young Jae đã thành hiện thực, không những vây được cùng góp giọng chung trong một bài hát.

Đầu năm 2018, Young Jae xuất hiện ở chương trình "Immortal Songs 2" và trình diễn ca khúc "Mercury Lamp" của Kim Yeon Ja. Màn trình diễn của cậu gây ấn tượng với khán giả trường quay bằng chất giọng đầy cảm xúc dù tuổi đời còn khá trẻ.

Show thực tế/ Chương Trình Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Kênh Ghi chú
2014 After School Club Arirang cùng với GOT7 (Tập 41)
1000 Song Chanllenge SBS cùng với JB, Jackson, Jinyoung (tập 289)
Immortal Songs 2 KBS cùng với GOT7 (Tập 148)
IGOT7 SBS

MTV

cùng với GOT7 (Phát sóng trên Youku & Tudou)
Weekly Idol MBC Every1 cùng với GOT7 (Tập 146)
A Song For You KBS cùng với GOT7 (Tập 2)
M!Countdown Begins Open Studio Mnet cùng với GOT7
King of Ratings KBS cùng với GOT7 (19 tháng 7 năm 2014)
2015 Weekly Idol MBC Every1 cùng với GOT7 (Tập 220)
Running Man '100 vs 100 Race'! SBS cùng với GOT7
2016 Weekly Idol MBC Every1 cùng với GOT7 (Tập 263, 270)
Weekly Idol (Tập đặc biệt) MBC Every1 cùng với GOT7 (trừ BamBam) và TWICE, BTOB, GFRIEND (Tập 261+262)
Idol Battle Likes KBS World cùng với GOT7
After School Club Airang cùng với GOT7 (Tập 205+232)
GOT7's Hard Carry Mnet cùng với GOT7
2017 King of Mask Singer MBC 47th Generation Mask King: Tập 93+94
Weekly Idol MBC Every1 cùng với GOT7 (Tập 294)
Singderella Channel A cùng với GOT7 (trừ Jackson) (Season 2 tập 19)
I Can See Your Voice 4 Mnet cùng với GOT7 (Tập 4)
After School Club Airang cùng với GOT7 (Tập 256)
Weekly Idol MBC Every1 cùng với GOT7 (Tập 324)
2018 Immortal Songs 2 KBS (Tập 340)
Knowing Bros JTBC cùng với GOT7 (Tập 118)
Weekly Idol MBC Every1 cùng với GOT7 (Tập 346)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]