Chuối ngự

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chuối ngự
Loài
Musa acuminata
Nhóm giống cây trồng
AA Group
Giống cây trồng
'Lady Finger'
Xuất xứ
Đông Nam Á, Úc[1]

Chuối ngự là giống chuối lưỡng bội của Musa acuminata[2].

Sự tích về chuối ngự[sửa | sửa mã nguồn]

Tương truyền, loại chuối này có từ thời nhà Trần.Theo truyền thuyết, chuối ngự xuất hiện ở Đại Hoàng từ đời nhà Trần khi vua Trần ngự thuyền rồng từ kinh thành Thăng Long và yết kiến Thái Thượng HoàngPhủ Thiên Trường (Nam Định), khi đi qua địa danh này đã được người dân trong vùng dâng biếu chuối lạ để vua dùng. Vua ăn thấy rất ngon nên quyết định lựa chọn loại quả này làm món tráng miệng hằng ngày và cái tên chuối ngự có từ đó.

Các triều Trần, có kinh đô đóng ở Thăng Long, việc đưa chuối đi tiến vua bằng thuyền tương đối dễ dàng. Đến thời Nguyễn, kinh đô đóng ở Huế, đường xa thăm thẳm nên người ta phải dùng ngựa để thồ chuối. Mỗi con ngựa chỉ thồ hai buồng, lấy lá tươi quấn kỹ từng buồng.

Lý trưởng hay Chánh tổng đi theo đoàn ngựa với một người của quan phủ, quan huyện, chừng năm đến sáu ngày thì vào tới kinh đô. Sau mỗi chuyến đi như thế, ông Lý hoặc ông Chánh được vua ban sắc phong cho chức cửu phẩm. Đến đời vua Tự Đức, vì chiến tranh loạn lạc mà nhà vua bỏ lệ tiến cống.

Canh tác[sửa | sửa mã nguồn]

Người xưa bảo chuối ngon là do đất. Chuối ngự chỉ trồng trên đất cát pha, nhất là nền đất ải, quanh bờ ao. Nhưng ngay ở mấy làng bên như Trung Kỳ, Phàn Nhị, chuối cũng không ngon. Một số người của làng di cư lên Bắc Giang đem theo giống chuối để trồng cũng không có được hương thơm như trồng trên đất Đại Hoàng. Không kém phần cầu kỳ so với món cá kho làng Vũ Đại tại làng, để trồng được những cây chuối ra quả thơm ngon cần sự khéo léo và khổ nhọc của người dân nơi đây. Theo kinh nghiệm, đất trồng chuối phải chuẩn bị thật kỹ. Các hốc cây đặt cách nhau khoảng hai mét, ủ tro trấu, phân chuồng hoai mục xuống hốc. Cần chọn cây chuối giống cao khoảng 40-50cm, không bị sâu bệnh. Sau khi đặt bầu chuối vào hốc,cần lấy đất bùn phủ quanh gốc cây.

Thời gian trồng chuối ngự hợp nhất khoảng từ giữa đến cuối mùa xuân, sau một năm là có quả. Thời gian đầu phải thường xuyên giữ độ ẩm cho cây, sau một tháng khi cây bén rễ mới tưới phân. Ngày trước chỉ dùng phân bắc, phân chuồng, bây giờ có thêm phân vi sinh, phân lân trộn với bùn ao để bón cho cây. Những người trồng chuối nhìn tàu lá mà biết cần tăng giảm lượng phân cho phù hợp, dường như ngày nào cũng phải để mắt đến từng cây chuối, có bẹ già là bóc đi ngay, chớm có sâu phải tìm cách diệt trừ. Khi chuối đang thì chưa mang buồng, phải đóng cọc tre bên cạnh để chống giữ vì nếu khi mang buồng mới trồng cột đỡ thì cây sẽ bị "chột". Khi chuối ngự trổ buồng phải lấy những tấm áo cũ mà trùm lên nó để tránh cho khỏi sương sa nắng gắt.

Thường thì các loại hoa quả khi chín là ngon nhất, riêng chuối ngự thì không thế. Khi chuối trổ buồng được 45 ngày, da quả chuối có hiện tượng lấm tấm phải hạ xuống ngay để dấm (ủ), nếu để quá trên cây sẽ bị nứt vỏ, chín không đều mà lại kém hương.

Quả chuối[sửa | sửa mã nguồn]

Một nải chuối ngự Đại Hoàng

Quả chuối ngự dài 10-12,5 cm, chỉ bằng ngón tay cái, màu vàng nhạt. Mỗi nải chuối có 12 đến 20 quả, mỗi buồng chuối có 10 đến 14 nải. Quả chuối ngự có vỏ mỏng tang, nuột nà, ruột vàng ươm, ăn vào rất ngọt và thơm nức mũi.

Danh pháp đồng nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Musa acuminata Colla (AA Group) cv. 'Sucrier'
  • Musa acuminata Colla (Sucrier Group) cv. 'Lady's Finger'
  • Musa × paradisiaca L. cv. 'Lady Finger'
  • Musa × paradisiaca L. cultigroup Sucrier cv. 'Doigt de Femme'
  • Musa × paradisiaca L. cultigroup Saccharinus cv. 'Lady's Finger'
  • Musa × paradisiaca L. cultigroup Saccharinus cv. 'Dedo de Dama'
  • Musa acuminata Colla non L. (Sucrier Group) cv. 'Datil'
  • Musa acuminata Colla non L. (Sucrier Group) cv. 'Niño'
  • Musa acuminata Colla non L. (Sucrier Group) cv. 'Bocadillo'

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tropical Fruit Photo Gallery: Finger Bananas, http://treesandshrubs.about.com/
  2. ^ Michel H. Porcher; Prof. Snow Barlow (19/07/2002). “Sorting Musa names”. The University of Melbourne, [1]. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)