Chuối ngự

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chuối ngự
Sugar bananas.jpg
Hình ảnh chuối ngự tại một cửa hàng ở Mỹ
LoàiMusa acuminata
Nhóm giống cây trồngAA Group
Giống cây trồng'Lady Finger'
Nguồn gốcĐông Nam Á, Úc [1]

Chuối ngự là giống chuối lưỡng bội của Musa acuminata.[2] Chuối ngự ở Việt Nam ban đầu có nguồn gốc từ Làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân xưa, nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, được nhiều người biết đến bởi đây là quê hương của nhà văn Nam Cao. Đây là giống chuối ngon xếp đầu bảng trong hơn 30 giống chuối ở Việt Nam. Gọi là chuối ngự vì xưa kia là chuối tiến vua, món ăn tráng miệng sau khi ngự thiện (Vua dùng bữa). Cây chuối ngự có dáng từa tựa như cây chuối goòng, chuối mật nhưng nhỏ hơn, mảnh mai hơn.

Canh tác[sửa | sửa mã nguồn]

Chuối ngự chỉ trồng trên đất cát pha. Nơi trồng chuối tốt nhất là nền đất ải, quanh bờ ao. Theo kinh nghiệm, đất trồng chuối phải chuẩn bị thật kỹ. Các hốc cây đặt cách nhau khoảng hai mét, ủ tro trấu, phân chuồng hoai mục xuống hốc. Chọn cây chuối giống cao khoảng 40 đến 50 cm, không bị sâu bệnh. Sau khi đặt bầu chuối vào hốc, lấy đất bùn phủ quanh gốc.

Thời gian trồng chuối ngự tốt nhất khoảng từ giữa đến cuối mùa xuân, sau một năm là có quả. Thời gian đầu phải thường xuyên giữ độ ẩm cho cây, sau một tháng khi cây bén rễ mới tưới phân. Khi chuối đang còn non (chưa mang buồng) phải đóng cọc tre bên cạnh để chống giữ vì nếu khi mang buồng mới chống cột đỡ thì cây sẽ bị "chột". Khi chuối ngự trổ buồng phải lấy những tấm áo cũ mà trùm lên nó để tránh khỏi sương sa nắng gắt.

Thường các thứ hoa quả chín cây là ngon nhất, riêng chuối ngự thì lại khác. Khi chuối trổ buồng được 45 ngày, da quả chuối có hiện tượng lấm tấm phải hạ xuống ngay để dấm (ủ), nếu để quá trên cây sẽ bị nứt vỏ, chín không đều mà lại kém hương.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Một nải chuối ngự Đại Hoàng

Chuối ngự có thể mọc ở độ cao 25 ​​ft (7,5 m). Phần thân giả của nó mảnh mai và có sọc màu nâu đỏ, nhưng nó có một bộ rễ nặng làm cho cây có khả năng chống lại ảnh hưởng của gió. Nó có khả năng chống chịu hạn hán và mọt nho, nhưng rất nhạy cảm với bệnh đốm lábệnh vàng lá Panama [3]. Hoa chuối nở vào giữa mùa hè, cuối mùa hè và đầu mùa thu.

Quả chuối ngự dài 10-12,5 cm, bằng ngón tay cái, màu vàng nhạt. Mỗi nải chuối có 12 - 20 quả, mỗi buồng chuối có 10 đến 14 nải; vỏ chuối ngự mỏng tang, nuột nà; ruột vàng ươm, ăn vào rất ngọt và thơm nức mũi. Quả chuối ngự được ăn tươi hoặc được sử dụng trong các món tráng miệng.

Danh pháp đồng nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Musa acuminata Colla (AA Group) cv. 'Sucrier'
  • Musa acuminata Colla (Sucrier Group) cv. 'Lady's Finger'
  • Musa × paradisiaca L. cv. 'Lady Finger'
  • Musa × paradisiaca L. cultigroup Sucrier cv. 'Doigt de Femme'
  • Musa × paradisiaca L. cultigroup Saccharinus cv. 'Lady's Finger'
  • Musa × paradisiaca L. cultigroup Saccharinus cv. 'Dedo de Dama'
  • Musa acuminata Colla non L. (Sucrier Group) cv. 'Datil'
  • Musa acuminata Colla non L. (Sucrier Group) cv. 'Niño'
  • Musa acuminata Colla non L. (Sucrier Group) cv. 'Bocadillo'

Nó được biết đến trong tiếng Anh như chuối ngón tay phụ nữ, chuối đường, chuối hình, chuối ngày hoặc Sucrier. Ở Mỹ, giống chuối này còn được gọi là 'Glui Leb Mu Nang', một tên gốc Thái Lan được phổ biến. Tên Thái là กล้วย เล็บมือนาง (RTGS: Kluai Leb Mu Nang, IPA: [kluːəj Leb Mu Nang], nghĩa là 'ngón tay cái') và ở Malaysia có tên là Pisang mas. Tương tự, ở Campuchia, nó được gọi là Chek Pong Moan (tiếng Khmer: ចេកពងមាន់, nghĩa là 'quả trứng gà'). Nó được coi là trái cây quốc gia của Campuchia theo sắc lệnh của Hoàng gia [4]. Ở Venezuela, chúng được gọi là Cambarures titiaros.

Úc, cái tên 'Lady Finger banana' dùng để chỉ một giống chuối khác, chuối Pome (Musa acuminata × balbisiana Colla (nhóm AAB) cv. 'Pome'). Ở HawaiiTây Ấn, 'Lady Finger' cũng được sử dụng để mô tả giống chuối Ney Poovan (Musa acuminata × balbisiana Colla (Tập đoàn AB) cv. 'Ney Poovan') [2].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tropical Fruit Photo Gallery: Finger Bananas, http://treesandshrubs.about.com/
  2. ^ a b Michel H. Porcher; Prof. Snow Barlow (19/07/2002). “Sorting Musa names”. The University of Melbourne, [1]. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp); Liên kết ngoài trong |publisher= (trợ giúp)
  3. ^ Julia F. Morton (1987). “Banana Musa x paridasiaca. http://www.hort.purdue.edu/. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2011. Liên kết ngoài trong |publisher= (trợ giúp)
  4. ^ http://www.forestry.gov.kh/Documents/ROYAL-DECREE-ENG.pdf Lưu trữ 2007-06-30 tại Wayback Machine Nghị định Hoàng gia quy định rằng 'chuối trứng gà' được gọi là Musa aromatica nhưng đây là một tên phân loại đã lỗi thời vẫn được sử dụng ở Campuchia. Giống này còn được gọi là Kluai Leb Mu Nang ở Thái Lan, có nghĩa tương tự, đó là "Lady Finger banana". Và nó được gọi là Pisang mas ở Malaysia, trong đó chúng có thể được tìm thấy là từ đồng nghĩa với 'Lady Finger banana'.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]