Chu Tiêu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ý Văn Thái tử
懿文太子
Zhu Biao and Empress Ma.jpg
Thái tử Chu Tiêu bên cạnh mẹ là Mã Hoàng hậu
Thông tin chung
Tên đầy đủ Chu Tiêu (朱標)
Thụy hiệu Hiếu Khang hoàng đế (孝康皇帝)
Ý Văn Thái tử (懿文太子)
Miếu hiệu Hưng Tông (兴宗)
Hoàng tộc Nhà Minh
Thân phụ Minh Thái Tổ
Thân mẫu Hiếu Từ Cao hoàng hậu
Sinh 10 tháng 10, 1355(1355-10-10)
Mất 17 tháng 5, 1392(1392-05-17)
Trung Quốc
An táng Đông lăng (东陵)

Chu Tiêu (朱標; 10 tháng 10, 1355 - 17 tháng 5, 1392), còn gọi là Ý Văn Thái tử (懿文太子), là một vị Thái tử của nhà Minh. Ông là cha ruột của Minh Huệ Đế Chu Doãn Văn.

Ban đầu, thụy hiệu của ông khi mất là Ý Văn Thái tử. Về sau này, ông được Minh Huệ Đế truy tôn thụy hiệu là Hiếu Khang hoàng đế (孝康皇帝), miếu hiệuHưng Tông (兴宗). Đến khi Minh Thành Tổ Vĩnh Lạc hoàng đế đăng ngôi, ông lại được cải thành Ý Văn Thái tử.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là con trai trưởng của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương và Hiếu Từ Cao hoàng hậu Mã Tú Anh. Ông cũng là cha đẻ hoàng tôn Chu Doãn Văn, sau trở thành Minh Huệ Đế. Chu Tiêu là anh ruột của Minh Thành Tổ Chu Đệ, người đã giết con ông để tranh ngôi báu, gây nên điều tiếng về sau.

Chu Tiêu tuy là con của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, vị Hoàng đế khai quốc triều Minh nổi tiếng nghiêm khắc, nhưng tính nết của ông lại ngược hẳn với cha mình. Ông là một người có tâm hồn nhân hậu, hiền hòa, gần như đến mức nhu nhược, nhiều lần cũng khiến Minh Thái Tổ cảm thấy phật lòng vì ông không giống mình. Dù vậy, dẫu sao ông cũng là trưởng tử, lại không có lỗi lầm gì, nên Minh Thái Tổ không phế ngôi của ông, mà còn làm những hành động giúp đỡ cho ông lên ngôi sau này, chẳng hạn như việc Minh Thái Tổ tàn sát các công thần, vì sợ sau này khi Chu Tiêu lên ngôi, họ sẽ cậy công làm càn.

Thái Tổ nhận thấy Thái tử nhu nhược, khó mà điều khiển nổi những công thần bướng bỉnh không thuần, trước khi ông qua đời còn giúp cho con cháu diệt trừ tận gốc. Tống Liêm là thầy của Thái tử, từ những năm đầu đã theo làm tham mưu cho Thái Tổ vào sinh ra tử chốn quân trường, lập được nhiều công to, làm quan đến chức Học sĩ Thừa chỉ tri chế cáo. Thái Tổ cũng viện cớ để giết ông ta, Thái tử thấy thầy bị kết án chém, rơi lệ cầu xin cho thầy. Để dạy bảo Thái tử, ông cho mang một cây roi lớn có đầy gai nhọn quẳng xuống đất, bảo Thái tử nhặt lên. Thái tử có vẻ lúng túng, nhà vua liền dạy rằng:

Chu Tiêu cũng nhận được sự "dạy dỗ" của cha mình quá nghiêm khắc, nhiều khi đó còn là sự dạy bảo tàn bạo, chẳng hạn như tàn sát công thần để răn Chu Tiêu chớ nên tin người, muốn giết đại thần lúc nào cũng được, "ta phụ người chứ người không được phụ ta". Một con người đôn hậu như Chu Tiêu, nghe những lời dạy đó thực như những sự khủng bố tàn bạo từ cha mình. Tống Liêm là thầy của Thái tử Chu Tiêu, nhằm diệt trừ hậu họa cho con cháu, Thái Tổ đã viện cớ để giết ông ta.Thấy thầy bị kết án chém, Chu Tiêu rơi lệ cầu xin cho thầy. Để dạy bảo Thái tử, ông cho mang một cây roi lớn có đầy gai nhọn quẳng xuống đất, bảo ông nhặt lên. Chu Tiêu có vẻ lúng túng, nhà vua liền dạy rằng:

Cây roi có gai ngươi không nhặt, vậy để ta róc hết cái gai nhọn thay ngươi nhé?

Thái tử thông minh hiểu được ý của cha, nhưng cũng không cho là đúng, liền khuyên giải phụ hoàng một cách khéo léo rằng:

Trên mà có vua Nghiêu Thuấn, thì dưới sẽ có dân Nghiêu Thuấn.

Ngụ ý là làm vua không được tàn bạo. Thái Tổ rất giận dữ, liền tóm lấy ghế quẳng về hướng thái tử.

Chu Tiêu đã chịu áp lực quá nặng, nên đã lâm bệnh và qua đời năm mới có 36 tuổi, được táng tại Đông lăng (东陵). Sau khi ông mất, Minh Thái Tổ lập con của ông là Chu Doãn Văn làm Hoàng Thái tôn.

Thời Nam Minh, Chu Tiêu được phục vị Minh Hưng Tông Hiếu Khang hoàng đế (明兴宗孝康皇帝).

Phả thi[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Tiêu đã viết một bài phả thi gồm 20 chữ, dùng để làm tên đệm cho con cháu của ông về sau:

Doãn Văn Tuân Tổ Huấn

Khâm Vũ Đại Quân Thăng

Thuận Đạo Nghi Phùng Cát

Sư Lương Thiện Dụng Thịnh

Tiếc thay, chỉ có Minh Huệ Đế sử dụng chữ Văn (文) để đặt tên lót cho 2 người con của ông. Yên vương Chu Đệ sau đó cướp ngôi, đã cho giết hết con của Chu Tiêu và 2 người con của Huệ Đế. Người cháu nội duy nhất còn sống sót của Chu Tiêu, Chu Văn Khôn (朱文坤), con trai duy nhất của Doãn Thông, là người đã tiếp nối đặt tên theo cuốn phả thi này cho con cháu của mình.

Gia thất[sửa | sửa mã nguồn]

Thê thiếp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hiếu Khang Hoàng hậu Thường thị (孝康皇后常氏; 1355 - 1378), con gái của Thường Ngộ Xuân, sau cải thành Kính Ý Thái tử phi (敬懿太子妃), thời Nam Minh được phục vị Hiếu Khang Hoàng hậu
  • Thái hậu Lã thị (太后呂氏; mất sau năm 1403), con gái của Lã Bản, sau cải thành Ý Văn Thái tử phi (懿文太子妃)

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Chu Hùng Anh (朱雄英; 1 tháng 12, 1374 - 12 tháng 6, 1382), mẹ là Thường thị, yểu vong. Thái Tổ cảm thương người cháu nội xấu số, ban thuỵ là Ngu Hoài vương (虞懷王), cho nghỉ chầu, quần thần phải mặc phục tang màu trắng, bắt đi bộ để tống táng tại đỉnh núi Tử Kim Sơn, Nam Kinh
  2. Chu Doãn Văn (朱允炆), mẹ là Lã thị, lên ngôi lấy hiệu Minh Huệ Đế
  3. Chu Doãn Thông (朱允熥; 29 tháng 11, 1378 - 1417), mẹ là Thường thị, Huệ Đế phong Ngô vương (吳王), thái ấp ở Hàng Châu, Thành Tổ giáng phong Quảng Trạch vương (廣澤王), đày đến Chương Châu (Phúc Kiến ngày nay), sau bị phế thành thứ dân, giam tại Phượng Dương rồi mất. Thời Nam Minh, phục vị Ngô Điệu vương (吳悼王). Có một con trai là Chu Văn Khôn (朱文坤)
  4. Chu Doãn Kiên? (朱允熞; 27 tháng 7, 1385 - 3 tháng 2, 1402), mẹ là Lã thị, Huệ Đế phong Hoành vương (衡王), Thành Tổ giáng phong Hoài Ân vương (懷恩王), đày đến Kiến Xương, sau bị phế thành thứ dân, giam tại Phượng Dương rồi mất. Thời Nam Minh, được cải thành Hoành Mẫn vương (衡愍王)
  5. Chu Doãn Hy (朱允𤐤; 13 tháng 7, 1391 - 3 tháng 2, 1407), mẹ là Lã thị, Huệ Đế phong Từ vương (徐王), Thành Tổ giáng phong Phu Huệ vương (敷惠王) rồi Âu Ninh vương (甌寧王), chết trong biển lửa với Chu Doãn Văn Minh Huệ Đế. Thời Nam Minh, phục vị Từ Giản vương (徐簡王)

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Giang Đô Công chúa (江都公主), sau giáng Quận chúa, lấy Cảnh Tuyền (耿璿)
  2. Nghi Luân Công chúa (宜倫郡主), sau giáng Quận chúa, lấy Vu Lễ (于礼)
  3. Tam hoàng nữ, chết yểu
  4. Nam Bình Công chúa (南平郡主; ? - 1412), sau giáng Quận chúa, không rõ hôn sự

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Minh sử, quyển 115, liệt truyện đệ 3, Hưng Tông Hiếu Khang Hoàng đế