Chung kết UEFA Champions League 2026
Sân vận động Puskás Aréna ở Budapest là nơi tổ chức trận chung kết. | |||||||||
| Sự kiện | UEFA Champions League 2025–26 | ||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| |||||||||
| Paris Saint-Germain thắng Arsenal 4–3 ở loạt sút luân lưu | |||||||||
| Ngày | 30 tháng 5 năm 2026 | ||||||||
| Địa điểm | Puskás Aréna, Budapest | ||||||||
| Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu | Vitinha (Paris Saint-Germain) | ||||||||
| Trọng tài | Daniel Siebert (Đức) | ||||||||
Trận chung kết UEFA Champions League 2026 là trận đấu cuối cùng của mùa giải UEFA Champions League 2025–26, mùa thi đấu thứ 71 tại giải đấu tập hợp tất cả các câu lạc bộ hàng đầu châu Âu do UEFA tổ chức, và là mùa bóng thứ 34 kể từ khi giải thay tên từ European Champion Clubs' Cup thành UEFA Champions League. Trận đấu chứng kiến màn so tài giữa đương kim vô địch đến từ Pháp Paris Saint-Germain và đội bóng Anh Arsenal, và được diễn ra vào ngày 30 tháng 5 năm 2026 tại sân vận động Puskás Aréna ở Budapest, Hungary.[1][2]
Paris Saint-Germain đã bảo vệ thành công chức vô địch, qua đó họ giành quyền thi đấu với Aston Villa trong trận Siêu cúp châu Âu 2026, góp mặt tại trận chung kết Cúp Liên lục địa 2026, đồng thời giành suất tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ 2029. Ngoài ra, Paris Saint-Germain cũng đủ điều kiện để bước vào vòng knock-out của UEFA Champions League 2026–27, trừ khi họ đã giành quyền tham dự Champions League thông qua thành tích tại giải quốc nội.
Bối cảnh
[sửa | sửa mã nguồn]Các đội bóng
[sửa | sửa mã nguồn]Paris Saint-Germain đã lọt vào trận chung kết UEFA Champions League lần thứ ba trong lịch sử và lần thứ hai liên tiếp, sau khi để thua Bayern Munich năm 2020 trước khi giành chức vô địch năm 2025. Họ cũng trở thành đội bóng đầu tiên kể từ Liverpool năm 2018 và 2019 lọt vào hai trận chung kết Champions League liên tiếp. Đây là trận chung kết giải đấu UEFA thứ bảy của họ, sau khi cũng giành chiến thắng trong trận chung kết Cúp C2 châu Âu năm 1996 và siêu cúp châu Âu năm 2025. Họ đã để thua trận chung kết Cúp C2 châu Âu năm 1997 với tư cách đương kim vô địch, cũng như để thua Siêu cúp châu Âu năm 1996. Paris Saint-Germain là đội bóng Pháp đầu tiên xuất hiện trong ba trận chung kết UEFA Champions League, vượt qua đối thủ Olympique Marseille, đội đã để thua năm 1991 trước khi giành chiến thắng năm 1993, cũng như Stade Reims, đội đã để thua cả hai trận chung kết Cúp C1 năm 1956 và 1959 trước Real Madrid.
Arsenal đã lọt vào trận chung kết UEFA Champions League lần thứ hai trong lịch sử, sau khi để thua Barcelona năm 2006. Đây là trận chung kết thứ tám của họ tại các giải đấu của UEFA, sau khi giành chiến thắng trong trận chung kết Cúp C2 châu Âu năm 1994. Họ đã để thua trong các trận chung kết Cúp C2 năm 1980 và 1995 khi đang là đương kim vô địch, cũng như để thua Siêu cúp châu Âu năm 1994 , trận chung kết Cúp UEFA năm 2000 và trận chung kết UEFA Europa League năm 2019 .
Cả hai câu lạc bộ đều vô địch giải đấu quốc nội và bị loại khỏi các giải đấu cúp khác, qua đó hướng tới cú đúp danh hiệu châu lục. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 2020 mà cả hai đội vào chung kết Champions League đều là nhà vô địch giải đấu quốc nội của mình. Hai đội đã gặp nhau ở bán kết Champions League năm 2025, với Paris Saint-Germain thắng cả hai lượt trận (1-0 tại sân Emirates và 2-1 tại sân Parc des Princes ).
Trận chung kết năm 2026 là trận chung kết UEFA Champions League thứ tư giữa các đội đến từ hai thủ đô khác nhau sau năm 1962, 1966 và 1971. [3]
Đội "chủ nhà" (vì mục đích quản lý) được xác định trước là đội thắng trận bán kết 1 (Paris Saint-Germain). Đây là trận chung kết Champions League đầu tiên bắt đầu lúc 18:00 CEST, sớm hơn ba giờ so với các phiên bản trước đó. UEFA tuyên bố rằng sự thay đổi này được thực hiện để "nâng cao trải nghiệm ngày thi đấu và mang lại lợi ích cho người hâm mộ, các đội và thành phố chủ nhà".[4][5]
Lần vào chung kết trước
[sửa | sửa mã nguồn]Trong bảng sau đây, các trận chung kết đến năm 1992 thuộc kỷ nguyên Cúp C1 châu Âu, kể từ năm 1993 trở đi thuộc kỷ nguyên UEFA Champions League.
| Đội | Các lần tham dự trận chung kết trước (in đậm thể hiện năm vô địch) |
|---|---|
| 2 (2020, 2025) | |
| 1 (2006) |
Địa điểm
[sửa | sửa mã nguồn]Lựa chọn chủ nhà
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 17 tháng 5 năm 2023, UEFA chính thức khởi động quá trình mời thầu tổ chức trận chung kết, được tiến hành song song với quá trình lựa chọn sân vận động tổ chức cho trận chung kết năm 2027. Các đơn vị quan tâm có thể đăng ký đấu thầu cho một trong hai trận, hoặc cả hai. Ngoài ra, các liên đoàn đấu thầu chỉ được chỉ định tổ chức một trận chung kết UEFA trong một năm nhất định. UEFA yêu cầu các sân vận động được đề cử phải sử dụng mặt cỏ tự nhiên, đạt tiêu chuẩn hạng 4 UEFA – cấp độ cao nhất dành cho sân thi đấu, và có sức chứa tối thiểu 70,000 chỗ ngồi. Lịch trình đấu thầu như sau:[2]
- 17 tháng 5 năm 2023: UEFA chính thức gửi thư mời đăng ký tham gia quá trình đấu thầu
- 17 tháng 7 năm 2023: Hạn chót để các bên nộp đăng ký tham gia
- 26 tháng 7 năm 2023: UEFA gửi hồ sơ yêu cầu đấu thầu đến các đơn vị đăng ký
- 15 tháng 11 năm 2023: Hạn nộp hồ sơ dự thầu sơ bộ
- 21 tháng 2 năm 2024: Hạn nộp hồ sơ dự thầu chính thức
- 22 tháng 5 năm 2024: UEFA công bố quốc gia đăng cai
Ngày 18 tháng 7 năm 2023, UEFA đã thông báo rằng hai liên đoàn bóng đá đã bày tỏ nguyện vọng đăng cai các trận chung kết năm 2026 và 2027 trong đợt đấu thầu đầu tiên.[6]
| Liên đoàn | Sân vận động | Thành phố | Sức chứa |
|---|---|---|---|
| Puskás Aréna | Budapest | 67,215 | |
| San Siro | Milano | 75,817 |
Kết quả, sân vận động Puskás Aréna ở Budapest, Hungary đã được Ủy ban điều hành UEFA chỉ định làm địa điểm tổ chức. Quyết định được đưa ra tại cuộc họp diễn ra ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại Dublin, Cộng hòa Ireland.[7][1]
Đường đến trận chung kết
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú: Trong tất cả các kết quả dưới đây, tỉ số của đội lọt vào chung kết được đưa ra trước tiên (N: sân nhà; K: sân khách).
| Vòng | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đối thủ | Kết quả | Vòng đấu hạng | Đối thủ | Kết quả | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 4–0 (N) | Lượt đấu 1 | 2–0 (K) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2–1 (K) | Lượt đấu 2 | 2–0 (N) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 7–2 (K) | Lượt đấu 3 | 4–0 (N) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 1–2 (N) | Lượt đấu 4 | 3–0 (K) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 5–3 (N) | Lượt đấu 5 | 3–1 (N) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 0–0 (K) | Lượt đấu 6 | 3–0 (K) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 1–2 (K) | Lượt đấu 7 | 3–1 (K) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 1–1 (N) | Lượt đấu 8 | 3–2 (N) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Xếp thứ 11 vòng đấu hạng Tiến vào vòng play-offs đấu loại trực tiếp
Nguồn: UEFA[8] |
Thứ hạng cuối cùng | Xếp thứ 1 vòng đấu hạng Tiến vào vòng 16 đội
Nguồn: UEFA[8] | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Đối thủ | TTS | Lượt đi | Lượt về | Vòng đấu loại trực tiếp | Đối thủ | TTS | Lượt đi | Lượt về | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 5–4 | 3–2 (K) | 2–2 (H) | Vòng play-off | Đặc cách | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 8–2 | 5–2 (N) | 3–0 (K) | Vòng 16 đội | 3–1 | 1–1 (K) | 2–0 (N) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 4–0 | 2–0 (N) | 2–0 (K) | Tứ kết | 1–0 | 1–0 (K) | 0–0 (N) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 6–5 | 5–4 (N) | 1–1 (K) | Bán kết | 2–1 | 1–1 (K) | 1–0 (N) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Lễ khai mạc
[sửa | sửa mã nguồn]
Ngày 26 tháng 3 năm 2026, ban nhạc rock The Killers được công bố là nghệ sĩ trình diễn cho lễ khai mạc của trận chung kết do Pepsi tài trợ, với thành viên Brandon Flowers đã xuất hiện trong đoạn trailer dưới hình thức phim ngắn mang tên The Race Begins cùng với David Beckham.[9]
Trận đấu
[sửa | sửa mã nguồn]Diễn biến
[sửa | sửa mã nguồn]Ở phút thứ sáu của trận đấu, một pha phá bóng của hậu vệ Marquinhos của Paris Saint-Germain đã chạm vào Leandro Trossard của Arsenal. Quả bóng bật ra rơi vào chân tiền đạo Kai Havertz của Arsenal, người đã đánh bại thủ môn Matvei Safonov của Paris Saint-Germain từ một góc hẹp, giúp Arsenal dẫn trước 1–0. Đó sẽ là cú sút trúng đích duy nhất của họ trong suốt trận đấu.[10]
Ở phút thứ 61, Cristhian Mosquera của Arsenal phạm lỗi với Khvicha Kvaratskhelia trong vòng cấm. Ousmane Dembélé thực hiện thành công quả phạt đền, gỡ hòa tỷ số 1–1. Ở phút thứ 77, cú sút của Kvaratskhelia bị Myles Lewis-Skelly cản phá và đập vào cột dọc.[11] Đến cuối hiệp hai, Paris Saint-Germain đã thực hiện 18 cú sút về phía khung thành (bốn cú sút trúng đích), trong khi Arsenal đã thực hiện bốn cú sút (một cú sút trúng đích). Với tỷ số vẫn hòa, trận đấu bước vào hiệp phụ.
Ở phút thứ 103, Nuno Mendes của Paris Saint-Germain đã phạm lỗi với Noni Madueke trong vòng cấm của đội mình, khiến các cầu thủ Arsenal kêu gọi một quả phạt đền. Tuy nhiên, trọng tài đã cho Paris Saint-Germain hưởng quả đá phạt, cho rằng Madueke đã túm lấy tay Mendes,[12] và rút thẻ vàng cho cầu thủ Declan Rice và huấn luyện viên Mikel Arteta của Arsenal vì những phản đối của họ.[13] Hiệp phụ kết thúc với tỷ số hòa 1–1 và trận đấu bước vào loạt sút luân lưu.
Paris Saint-Germain thực hiện cú sút luân lưu đầu tiên, với Gonçalo Ramos thực hiện thành công quả phạt đền của mình. Tiếp theo là những cú sút thành công của Viktor Gyökeres bên phía Arsenal và Désiré Doué bên phía Paris Saint-Germain. Cú sút hụt đầu tiên thuộc về Eberechi Eze của Arsenal, anh sút bóng lệch sang trái, ngay sau đó thủ môn David Raya của Arsenal đã cản phá thành công cú sút của Mendes. Bốn cú sút thành công tiếp theo, mỗi đội hai cú, của Declan Rice, Achraf Hakimi, Gabriel Martinelli và Lucas Beraldo, giúp Paris Saint-Germain dẫn trước 4–3 với một cú sút phạt đền nữa trước vòng đấu quyết định. Gabriel sút bóng vọt xà ngang, mang lại chiến thắng cho Paris Saint-Germain.[14]
Chi tiết
[sửa | sửa mã nguồn]Đội giành chiến thắng ở trận bán kết thứ nhất được chọn làm đội "chủ nhà" cho mục đích hành chính.
Ngày 28 tháng 8 năm 2025, UEFA thông báo rằng kể từ năm 2026, giờ khởi tranh trận chung kết Champions League sẽ là 18:00 CEST, sớm hơn so với khung giờ 21:00 trước đây. Quyết định này nhằm mục đích "nâng cao trải nghiệm ngày thi đấu và mang lại lợi ích cho người hâm mộ, các đội bóng và các thành phố đăng cai".[15]
| Paris Saint-Germain | 1–1 (s.h.p.) | |
|---|---|---|
| Chi tiết |
|
|
| Loạt sút luân lưu | ||
| 4–3 | ||
Paris Saint-Germain[17]
|
Arsenal[17]
|
|
Cầu thủ xuất sắc nhất trận:
Trợ lý trọng tài:
|
Luật trận đấu[18]
|
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 "Budapest to host UEFA Champions League Final 2026" [Budapest sẽ đảm nhiệm trận chung kết UEFA Champions League 2026]. UEFA (bằng tiếng Anh). UEFA. ngày 22 tháng 5 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2025.
- 1 2 "Invitation to bid to host the UEFA Champions League Finals 2026 & 2027, UEFA Europa League Finals 2026 & 2027, UEFA Europa Conference League Finals 2026 & 2027 and UEFA Women's Champions League Finals 2026 & 2027". UEFA (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 5 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Anand, Anish (ngày 7 tháng 5 năm 2026). "UCL stats: Kvaratskhelia's record seven-game streak, Dembélé's 16 goal contributions, Arsenal unbeaten in 14". ESPN.
- ↑ "UEFA Champions League final kick-off moves to 18:00CET as of 2025/26 season". UEFA. ngày 28 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Zelealem, Fasika; Davies, Mathew (ngày 6 tháng 5 năm 2026). "When is the Champions League final? Location and ticket information". Wales Online (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2026.
- ↑ "Nine national associations interested in hosting UEFA club competition finals in 2026 and 2027" [Chín liên đoàn bóng đá quốc gia bày tỏ muốn đăng cai trận chung kết giải đấu câu lạc bộ của UEFA 2026 và 2027] (bằng tiếng Anh). UEFA. ngày 28 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "UEFA Executive Committee to meet in Dublin". UEFA. ngày 17 tháng 5 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2025.
- 1 2 "League phase table". UEFA. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
- ↑ "The Killers to headline UEFA Champions League Final Kick Off Show by Pepsi®". UEFA. ngày 29 tháng 3 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "PSG beat Arsenal on penalties to defend Champions League title". ESPN. ngày 30 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2026.
- ↑ Rouse, Daniel (ngày 30 tháng 5 năm 2026). "Champions League final analysis: PSG beat Arsenal on penalties". TheScore. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2026.
- ↑ Davies, Andy (ngày 30 tháng 5 năm 2026). "VAR review: UCL ref got the Mendes-Madueke call right, but it was close". ESPN. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2026.
- ↑ Hewitt, Matthew (ngày 30 tháng 5 năm 2026). "Declan Rice and Mikel Arteta explode as Arsenal denied Champions League final penalty". football.London. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2026.
- ↑ "PSG 1-1 Arsenal (May 30, 2026) Game Analysis". ESPN. ngày 30 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2026.
- ↑ "UEFA Champions League final kick-off moves to 18:00CET as of 2025/26 season" [Thời gian khởi tranh trận chung kết UEFA Champions League sẽ được điều chỉnh sang 18:00 CET kể từ mùa giải 2025/26]. UEFA. ngày 28 tháng 8 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Full Time Report Final – Paris Saint-Germain v Arsenal" (PDF). UEFA. ngày 30 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2026.
- 1 2 "Tactical Line-ups – Final – Saturday 30 May 2026" (PDF). UEFA. ngày 30 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2026.
- ↑ "Regulations of the UEFA Champions League – 2025/26 Season" [Quy định UEFA Champions League – Mùa giải 2025/26] (bằng tiếng Anh). UEFA. ngày 27 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2025.