Chuyển hóa protit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Đại cương[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn protid được đưa vào cơ thể thông qua ăn uống. Thức ăn vào ống tiêu hóa được các men tiêu protein ở dịch tụy, dịch ruột phân giải thành các acid amin. Các acid amin được niêm mạc ruột hấp thu vào máu và được vận chuyển đến gan. Tại đây, nhờ hệ thống men khử amin phong phú đã chuyển hóa phù hợp với nhu cầu cơ thể. Một số acid amin tham gia vào cấu trúc của tế bào, một số trở thành thành phần của huyết tương hoặc được sử dụng để tân tạo glucid. Lượng acid amin thừa sẽ được oxy hóa để cung cấp năng lượng.

Tổng hợp protein[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình tổng hợp protein diễn ra trong nhân tế bào, do ADN quy định. ADN đảm bảo tính duy trì về cấu trúc và chức năng của toàn bộ các tính trạng cơ thể, bao gồm các loại protein. ADN truyền đạt thông tin di truyền tới protein thông qua ARN. ARN là khuôn trực tiếp phiên mã nên chuỗi peptid, tiền thân của các protein. Mỗi một loại protein đều có cấu trúc và quy định chức năng riêng, tùy thuộc vào số lượng, thành phần và cách sắp xếp của các acid amin cấu tạo nên nó.
Mô hình Operon Lac cho thấy, đơn vị điều hòa tổng hợp nên protein gọi là Operon, là một đoạn ADN có các thành phần: gen điều hòa R, gen khởi động P, gen tác động O và các gen cấu trúc X,Y,Z cùng với yếu tố kiềm hãm.
Sự sai sót trong cấu trúc của chuỗi protein đếu bắt nguồn từ sự sai lệch của đoạn ADN mẫu. Còn sự sai sót về số lượng đến từ hoạt động của gen điều hòa.

Thoái hóa protein[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi loại protein có tuổi thọ riêng, được biểu thị bằng thời gian bán thoái hóa (VD: albumin là 20 ngày, globulin là 10 ngày). Đây là cơ chế sinh lí giúp đổi mới thành phần protein huyết tương.
Tùy thuộc vào từng loại men khử khác nhau mà quá trình thoái hóa protein cho ra các sản phẩm chuyển hóa trung gian khác nhau. Trong đó có nhiều sản phẩm có lợi song cũng có sản phẩm có hại cho cơ thể. Sản phẩm cuối cùng của quá trình thoái hóa protid là NH3, trong đó NH3 là chất gây độc cho cơ thể, nhất là hệ thần kinh. Vì vậy, cơ thể có những cơ chế biến đổi để thải độc, gồm:
-NH3 + glutamid --> glutamin.
-Tái tạo lại ure qua con đường ornithin.[1]

Sự cân bằng protid[sửa | sửa mã nguồn]

Là sự cân bằng giữa lượng protein ăn vào và lượng protein mất đi trong quá trình thoái hóa. Protein trong cơ thể đặc trưng bởi nitrogen nên cân bằng protid đôi khi cũng được gọi là cân bằng nitơ.

Cân bằng nitơ dương tính[sửa | sửa mã nguồn]

Lượng protein cung cấp nhiều hơn lượng protein thoái biến trong cơ thể. Thường gặp ở người đang trưởng thành, giai đoạn hồi phục sau ốm, phụ nữ có thai,...

Cân bằng nitơ âm tính[sửa | sửa mã nguồn]

Lượng protein cung cấp nhỏ hơn lượng protein thoái biến theo nhu cầu cơ thể. Thường gặp ở người suy nhược, kém ăn uống, người bệnh lâu ngày, sốt nặng kéo dài, tiểu ra protein ở hội chứng thận hư...

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Vai trò khử độc của gan https://bacsinoitru.vn/archive/index.php/t-155.html. |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)

Sinh lý bệnh học. Đại học y dược Hà Nội.
Hóa sinh y học. Đại học y dược TP.HCM.