Claudia Llosa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Claudia Llosa
Claudia Llosa (111).jpg
Guadalajara Film Festival
SinhClaudia Llosa Bueno
15 tháng 11, 1976 (42 tuổi)
Lima, Peru
Nghề nghiệpFilm Director

Claudia Llosa Bueno (sinh ngày 15 tháng 11 năm 1976) [1] là một đạo diễn, nhà văn, nhà sản xuất và tác giả người Peru. Cô được công nhận cho bộ phim được đề cử giải Oscar của mình The Milk of Sorrow.[2]

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Claudia Llosa sinh ngày 15 tháng 11 năm 1976 tại Lima, Peru. Mẹ cô, Patricia Bueno Risso là một nghệ sĩ đến từ Ý và cha cô là Alejandro Llosa Garcia làm việc trong lĩnh vực kỹ thuật. Anh chị em của cô là Patricia Llosa và Andrea Llosa. Cô là cháu gái của nhà văn người Peru Mario Vargas Llosa và đạo diễn phim Luis Llosa.

Cô học tại trường cao đẳng Newton tọa lạc tại thủ đô Lima, Peru. Các nghiên cứu sau trung học của cô đã được dành cho chuyên ngành Điện ảnh tại Đại học Lima.[3]

Claudia Llosa sống phần lớn cuộc đời ở Peru nhưng chuyển đến Barcelona, Tây Ban Nha vào năm 2000. Từ năm 1998 đến 2001, cô học tại học viện điện ảnh Escuela TAI. Khi kết thúc việc học, cô bắt đầu thực hiện kịch bản cho Madeinusa. Cô chuyển đến Barcelona để làm việc trong ngành quảng cáo.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim đầu tiên Madeinusa của Claudia Llosa kể câu chuyện về một ngôi làng nông thôn và tôn giáo ở Peru. Ở Madeinusa, các sự kiện xảy ra trong mùa Phục sinh do niềm tin rằng trong thời gian này, một người có thể phạm tội mà không bị trừng phạt.[4] Madeinusa được công chiếu trong cuộc thi tại Liên hoan Sundance 2006, nơi nó được đề cử cho Giải thưởng Grand Jury,[5] đã giành giải thưởng cho kịch bản chưa xuất bản tốt nhất tại Liên hoan phim Havana 2003 và một số giải thưởng quốc tế, bao gồm giải thưởng phê bình quốc tế FIPRESCI tại Liên hoan Rotterdam và Giải thưởng Phim Mỹ Latinh hay nhất tại Liên hoan Malaga, trong số những người khác.

Năm 2009, Llosa đã hoàn thành bộ phim thứ hai của mình The Milk of Sorrow (La teta asustada).[6] Sữa của nỗi buồn được lấy cảm hứng từ kỷ nguyên khủng bố mà công dân Peru trải qua từ năm 1980 đến năm 1992. Thời đại này đã làm nảy sinh niềm tin dân gian Andean, bộ phim này dựa trên, rằng những người phụ nữ bị chấn thương trong thời gian này sẽ truyền nỗi lo lắng cho con cái họ qua sữa mẹ. Bộ phim được quay trong khoảng thời gian sáu tuần với các địa điểm quay phim ở Lima hoặc gần thủ đô. Bộ phim được viết và đạo diễn bởi Claudia Llosa và việc tạo ra The Milk of Sorrow bao gồm sự giúp đỡ của nhà quay phim Natasha Braier và nhà điều hành máy ảnh Guillermo Garcia Meza.[4] Bộ phim được lọt vào danh sách cho Liên hoan phim quốc tế Berlin lần thứ 59. Đó là bộ phim đầu tiên của Peru được đề cử cho giải thưởng Gấu Vàng, và giành được giải thưởng chính.[6] Bộ phim của Llosa cũng được công nhận từ các giải thưởng như FIPRESCI năm 2009 và nhiều giải thưởng tại Liên hoan phim Lima.[5] Ở Lima, Peru Sữa của nỗi buồn đã bán chạy hơn doanh thu bán vé của bộ phim Triệu phú khu ổ chuột trong buổi ra mắt. Tuy nhiên, tại các cộng đồng nông thôn hơn của Peru Sữa của Nỗi buồn không đạt được sự tiếp nhận tương tự.[7]

Vào ngày 2 tháng 2 năm 2010, The Milk of Sorrow của Llosa đã được đề cử cho giải Oscar trong hạng mục Phim nước ngoài hay nhất.[2] Cũng trong năm 2010, Claudia Llosa đã được mời trở thành thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hollywood.

Theo học giả điện ảnh Sarah Barrows, các bộ phim của Claudia Llosa không mô tả định kiến về các cộng đồng bản địa của Peru. Mặc dù Llosa không miêu tả những khuôn mẫu này, nhưng các bộ phim của cô không phải lúc nào cũng nhận được phản ứng tích cực từ các cộng đồng này do sự mô tả nghiêm trọng hơn về chúng trong các bộ phim và các vấn đề xoay quanh chúng. Các bộ phim của Llosa có xu hướng tập trung vào sự khắc nghiệt và khó khăn mà các cộng đồng này có thể gặp phải và vì lý do đó, các cộng đồng bản địa không xem nó là miễn phí.[8]

Năm 2012, bộ phim ngắn Loxoro của Claudia Llosa, được sản xuất bởi người chiến thắng giải Oscar Juan Jose Campanella đã lọt vào danh sách tham dự Liên hoan phim quốc tế Berlin.[9] Loxoro đã giành giải thưởng Teddy trong hạng mục Phim ngắn hay nhất.[10]

Claudia Llosa là tác giả của cuốn sách thiếu nhi La Guerrera de Cristal. Đây là tác phẩm văn học đầu tiên của cô và được xuất bản năm 2013.[11]

Bộ phim Aloft năm 2014 của cô đã có buổi ra mắt trong phần thi của Liên hoan phim quốc tế Berlin lần thứ 64.[12]

Đóng phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim ảnh
2006 Madeinusa
2009 The Milk of Sorrow (La teta asustada)
2010 El niño pepita
2012 Loxoro
2014 Aloft

Cho đến nay, không có bộ phim nào khác được lên kế hoạch để được đạo diễn bởi Llosa.

Phần thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng thể loại Đề cử công việc
2003 Liên hoan phim Havana Kịch bản chưa xuất bản tốt nhất Madeinusa Thắng
2006 Liên hoan phim Sundance Giải thưởng Grand Jury: Kịch Đề cử
Liên hoan phim quốc tế Rotterdam Giải thưởng FIPRESCI Thắng
Liên hoan phim quốc tế Mar del Plata Phim truyện Mỹ Latinh hay nhất Thắng
Liên hoan phim Mỹ Latinh Lima Tác phẩm đầu tiên hay nhất: Giải nhì Thắng
Giải thưởng CONACINE Thắng
Liên hoan phim Jeonju Giải thưởng Woosuk Đề cử
Liên hoan phim Havana Grand Coral: Giải ba Thắng
Liên hoan phim Hamburg Giải thưởng phê bình Thắng
Cine Ceará - Liên hoan phim quốc gia Phim truyện cúp: Kịch bản hay nhất Thắng
Liên hoan phim quốc tế Chicago Gold Hugo: Cuộc thi Giám đốc mới Đề cử
2007 Liên hoan phim Cartagena Đề cập đặc biệt Thắng
Golden Ấn Độ Catalina: Phim hay nhất Đề cử
Liên hoan phim Adelaide Giải thưởng quốc tế Đề cử
2009 Liên hoan phim Montréal mới Bộ phim hay nhất Sữa của nỗi buồn Thắng
Liên hoan phim Mỹ Latinh Lima Phim hay nhất Peru Thắng
Giải thưởng CONACINE Thắng
Liên hoan phim Havana Grand Coral: Giải nhất Thắng
Liên hoan phim quốc tế Guadalajara Giải thưởng Mayahuel Thắng
Liên hoan phim Gramado Golden Kikito: Phim hay nhất Thắng
Golden Kikito: Giám đốc xuất sắc nhất Thắng
Giải thưởng Goya Phim nói tiếng Tây Ban Nha hay nhất Thắng
Liên hoan phim quốc tế Cinemanila Giải thưởng Lino Brocka Thắng
Liên hoan phim Bogota Golden Precolumbian Circle: Phim hay nhất Thắng
Liên hoan phim quốc tế Berlin Gấu vàng Berlin Thắng
Giải thưởng FIPRESCI Thắng
2010 Giải thưởng Học viện lần thứ 82 Phim nước ngoài hay nhất Đề cử
Giải thưởng Ariel Silver Ariel: Phim Mỹ Latinh hay nhất Đề cử
Giải thưởng Hiệp hội phê bình phim Argentina Bạc Condor Đề cử
2012 Liên hoan phim quốc tế Berlin Teddy: Phim ngắn hay nhất Loxoro Thắng
Gấu vàng Berlin Đề cử
2014 Liên hoan phim quốc tế Berlin Gấu vàng Berlin Trên cao Đề cử

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ La teta asustada at berlinale.de (PDF 138 KB)” (PDF). 
  2. ^ a ă Oscar Nominations: Foreign Film Category
  3. ^ “Claudia Llosa, la desconocida sobrina cineasta de Mario Vargas Llosa”. El Español (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2018. 
  4. ^ a ă Anonymous, Anonymous (tháng 9 năm 2010). “Key Latin American Films of the Decade”. Sight and Sound. 20.19: 18–19 – qua FIAF International Index to Film Periodicals. 
  5. ^ a ă Barrow, Sarah (2013). “New Configurations for Peruvian Cinema: The Rising Star of Claudia Llosa”. Transnational Cinemas 4: 202 – qua FIAF International Index to Film Periodicals. 
  6. ^ a ă Kuhlbrodt, Detlef: Die Reichen, die die Lieder der Armen stehlen. In: die tageszeitung, 13. Februar 2009, S. 26
  7. ^ Barrows, Sarah (2013). “New Configurations for Peruvian Cinema: The Rising Star of Claudia Llos”. Transnational Cinemas 4: 212 – qua FIAF International Index to Film Periodicals. 
  8. ^ Barrows, Sarah (2013). “New Configurations for Peruvian Cinema: The Rising Star of Claudia Llosa”. Transnational Cinemas 4: 211 – qua FIAF International Index to Film Periodicals. 
  9. ^ http://www.berlinale.de/en/presse/pressevorf_hrungen/datenblatt.php?film_id=20126574
  10. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2012. 
  11. ^ “Claudia Llosa presenta su primer libro La guerrera de cristal”. RPP (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2018. 
  12. ^ “First Films for Competition and Berlinale Special”. berlinale. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]