Cool Japan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Cool Japan (Nhật: クールジャパン (Nhật Bản thú vị) Hepburn: Kūru Japan?) cùng với "Gross National Cool" (tổng thú vị quốc gia, hình thức chơi chữ của tổng sản lượng quốc gia) là một khái niệm như một biểu hiện cho sự trỗi dậy của Nhật Bản với vị thế một siêu cường quốc văn hoá. Được mở rộng trên các phương tiện truyền thông và giới học thuật, thương hiệu "Cool Japan" được chính phủ Nhật Bản thông qua cũng như các cơ quan thương mại tìm cách khai thác vốn thương nghiệp của công nghiệp văn hoá Nhật Bản. Nó được miêu tả như một hình thức của quyền lực mềm, "có khả năng gián tiếp ảnh hưởng đến hành vi và sở thích thông qua các phương tiện văn hoá hoặc ý thức hệ".[1][2]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự tàn phá của chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản hy vọng có thể cải thiện kinh tế và hình ảnh quốc gia bằng cách phân phối văn hóa đại chúng Nhật Bản trên khắp thế giới, đặc biệt qua Đông Á nhằm gia tăng danh tiếng và liên minh với các quốc gia láng giềng. Trái ngược với lịch sử hình thành một sức mạnh quân sự mạnh mẽ, Nhật Bản đi theo con đường tự thiết lập thành một sức mạnh quyền lực mềm, điều mà Nhật Bản tin rằng sẽ thay đổi nhận thức về hình ảnh quốc gia. Bắt đầu trong năm 1980 sau khi Bộ Ngoại giao (MOFA) thành lập, Nhật Bản bắt đầu tăng cường nỗ lực xây dựng thương hiệu quốc gia thông qua phát hành một tựa phim truyền hình Nhật Bản opera xà phòngOshin. Bộ phim được đón nhận tốt và điều này đem đến một sự thúc đẩy tức thì hình ảnh mà Nhật Bản đang cố gắng cải thiện. Thông qua sự thành công của Oshin và rất nhiều chương trình truyền hình khác, Nhật Bản đã giới thiệu ý tưởng "Cool Japan" nhằm khai thác thành công văn hóa đại chúng Nhật Bản và phân phối điều thú vị đó theo hướng nhận thức văn hóa quốc gia.[3]

Trong một bài viết năm 2002 trên Foreign Policy có tựa đề "Japan's Gross National Cool" [Tổng thú vị quốc gia của Nhật Bản], Douglas McGray viết về Nhật Bản "tái tạo siêu cường quốc" với vai trò ảnh hưởng văn hóa Nhật Bản được mở rộng ra khắp thế giới bất chấp những vấn đề kinh tế và chính trị của thập niên mất mát. Khảo sát văn hóa giới trẻ và vai trò của J-pop, manga, anime, thời trang, điện ảnh, điện tử, kiến trúc, ẩm thực và hiện tượng kawaii như Hello Kitty, Douglas McGray nêu bật vị thế quyền lực mềm của Nhật Bản và đặt ra câu hỏi về thông điệp mà Nhật Bản có thể xây dựng. Douglas McGray cũng lập luận rằng suy thoái kinh tế của Nhật Bản thậm chí có thể đã thúc đẩy thú vị quốc gia bởi tai tiếng thiên vị của cấp bậc xã hội cứng nhắc xưa cũ và con đường sự nghiệp kinh doanh lớn.[4][5]

Thông qua[sửa | sửa mã nguồn]

Cool Japan được xuất hiện trên các phương tiện truyền thông quốc tế, The New York Times đăng một hồi tưởng đánh giá "Year in Ideas: Pokémon Hegemon" [Năm của ý tưởng: Bá quyền Pokémon],[6] ngày càng nhiều viên chức chính phủ có tư tưởng cải cách và các nhà lãnh đạo kinh doanh tại Nhật Bản bắt đầu đề cập đến "tổng thú vị quốc gia" và thực hiện khẩu hiệu không chính thức "Cool Japan".[7][8][9] Trong một cuộc họp báo năm 2005, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản đã gắn kết ý tưởng Cool Japan với khái niệm Tổng hạnh phúc quốc gia của Bhutan.[10]

Cool Japan được xuất hiện nhiều hơn vào giữa thập niên 2000 khi NHK bắt đầu một chương trình dài kỳ Cool Japan Hakkutsu: Kakkoii Nippon! tính đến cuối năm 2009 đã đạt hơn 100 tập.[11] Các sáng kiến học thuật bao gồm việc thành lập một dự án nghiên cứu Cool Japan tại Viện Công nghệ Massachusetts,[12] trong khi một số trường đại học phương Tây đã báo cáo sự gia tăng số lượng ứng viên với các khóa học Nhật Bản học bởi hiệu ứng "cool".[13]

Văn phòng xúc tiến công nghiệp sáng tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Nhật Bản đã xác định công nghiệp văn hóa giữ vai trò là một trong năm lĩnh vực tăng trưởng tiềm năng.[14]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Yano, Christine R (19 tháng 8 năm 2009). “Wink on Pink: Interpreting Japanese Cute as It Grabs the Global Headlines” [Cái nháy mắt màu hồng: Phiên dịch dễ thương Nhật Bản như nắm lấy tiêu đề toàn cầu]. The Journal of Asian Studies (bằng tiếng Anh). tr. 681–688 |các trang= hay |at= dư (trợ giúp). doi:10.1017/S0021911809990015. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  2. ^ Nagata, Kazuaki (15 tháng 5 năm 2012). “Exporting culture via 'Cool Japan'” [Xuất khẩu văn hóa thông qua 'Cool Japan']. The Japan Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  3. ^ Iwabuchi, Koichi (8 tháng 8 năm 2015). “Pop-culture diplomacy in Japan: soft power, nation branding and the question of 'international cultural exchange” [Chính sách văn hóa đại chúng tại Nhật Bản: Quyền lực mềm, thương hiệu quốc gia và câu hỏi về 'trao đổi văn hóa quốc tế']. International Journal of Cultural Policy (bằng tiếng Anh). tr. 419–432 |các trang= hay |at= dư (trợ giúp). ISSN 1028-6632. doi:10.1080/10286632.2015.1042469. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2015. 
  4. ^ McGray, Douglas (1 tháng 5 năm 2005). “Japan’s Gross National Cool” [Tổng thú vị quốc gia của Nhật Bản]. Foreign Policy (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2005. 
  5. ^ Allison, Anne (5 tháng 10 năm 2007). “J-brand: What image of youth is getting sold in Japan’s “gross national cool”?” [Thương hiệu Nhật Bản: Hình ảnh nào của giới trẻ đang được bán trong 'tổng thú vị quốc gia' của Nhật Bản] (PDF). Đại học California tại Berkeley (bằng tiếng Anh). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2007. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  6. ^ Talbot, Margaret (15 tháng 12 năm 2002). “The Year in Ideas; Pokémon Hegemon” [Năm của ý tưởng: Bá quyền Pókemon]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2002. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2002. 
  7. ^ “Japan counts on cool culture” [Nhật Bản quan tâm đến văn hóa thú vị]. BBC (bằng tiếng Anh). 13 tháng 12 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2004. 
  8. ^ Faiola, Anthony (27 tháng 12 năm 2003). “Japan's Empire of Cool” [Đế chế thú vị của Nhật Bản]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2003. 
  9. ^ Frederick, Jim (ngày 11 tháng 8 năm 2003). “What's Right with Japan” [Điều gì đúng đắn với Nhật Bản]. Time (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. 
  10. ^ “Press Conference 27 September 2005” [Họp báo 27 tháng 9 năm 2005]. Bộ Ngoại giao (bằng tiếng Anh). 27 tháng 9 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2005. 
  11. ^ 'Cool Japan' Goes Global” ['Cool Japan' vươn ra toàn cầu] (PDF). Chính phủ Nhật Bản (bằng tiếng Anh). 2009. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  12. ^ “Cool Japan Research Project” [Dự án nghiên cứu Cool Japan]. Viện Công nghệ Massachusetts (bằng tiếng Anh). 4 tháng 1 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  13. ^ Corbyn, Zoe (5 tháng 10 năm 2007). 'Cool Japan' suffers from cruel cuts” ['Cool Japan' khổ sở từ những vết cắt tàn nhẫn]. Times Higher Education (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  14. ^ Amano, Tomomichi (14 tháng 6 năm 2010). “How to Promote ‘Cool Japan’?” [Cách thúc đẩy 'Cool Japan']. The Wall Street Journal (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011.