Cool Japan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Cool Japan (Nhật: クールジャパン (Nhật Bản thú vị) Hepburn: Kūru Japan?) cùng với "Gross National Cool" (tổng thú vị quốc gia, hình thức chơi chữ của tổng sản lượng quốc gia) là một khái niệm như một biểu hiện cho sự trỗi dậy của Nhật Bản với vị thế một siêu cường quốc văn hoá. Được mở rộng trên các phương tiện truyền thông và giới học thuật, thương hiệu "Cool Japan" được chính phủ Nhật Bản thông qua cũng như các cơ quan thương mại tìm cách khai thác vốn thương nghiệp của công nghiệp văn hoá Nhật Bản. Nó được miêu tả như một hình thức của quyền lực mềm, "có khả năng gián tiếp ảnh hưởng đến hành vi và sở thích thông qua các phương tiện văn hoá hoặc ý thức hệ".[1][2]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự tàn phá của chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản hy vọng có thể cải thiện kinh tế và hình ảnh quốc gia bằng cách phân phối văn hóa đại chúng Nhật Bản trên khắp thế giới, đặc biệt qua Đông Á nhằm gia tăng danh tiếng và liên minh với các quốc gia láng giềng. Trái ngược với lịch sử hình thành một sức mạnh quân sự mạnh mẽ, Nhật Bản đi theo con đường tự thiết lập thành một sức mạnh quyền lực mềm, điều mà Nhật Bản tin rằng sẽ thay đổi nhận thức về hình ảnh quốc gia. Bắt đầu trong năm 1980 sau khi Bộ Ngoại giao (MOFA) thành lập, Nhật Bản bắt đầu tăng cường nỗ lực xây dựng thương hiệu quốc gia thông qua phát hành một tựa phim truyền hình dạng opera xà phòngOshin. Bộ phim được đón nhận tốt và điều này đem đến một sự thúc đẩy tức thì hình ảnh mà Nhật Bản đang cố gắng cải thiện. Thông qua sự thành công của Oshin và rất nhiều chương trình truyền hình khác, Nhật Bản đã giới thiệu ý tưởng "Cool Japan" nhằm khai thác thành công văn hóa đại chúng Nhật Bản và phân phối điều thú vị đó theo hướng nhận thức văn hóa quốc gia.[3]

Trong một bài viết năm 2002 trên Foreign Policy có tựa đề "Japan's Gross National Cool" [Tổng thú vị quốc gia của Nhật Bản], Douglas McGray viết về Nhật Bản "tái tạo siêu cường quốc" với vai trò ảnh hưởng văn hóa Nhật Bản được mở rộng ra khắp thế giới bất chấp những vấn đề kinh tế và chính trị của thập niên mất mát. Khảo sát văn hóa giới trẻ và vai trò của J-pop, manga, anime, thời trang, điện ảnh, điện tử, kiến trúc, ẩm thực và hiện tượng kawaii như Hello Kitty, Douglas McGray nêu bật vị thế quyền lực mềm của Nhật Bản và đặt ra câu hỏi về thông điệp mà Nhật Bản có thể xây dựng. Douglas McGray cũng lập luận rằng suy thoái kinh tế của Nhật Bản thậm chí có thể đã thúc đẩy thú vị quốc gia bởi tai tiếng thiên vị của cấp bậc xã hội cứng nhắc xưa cũ và con đường sự nghiệp kinh doanh lớn.[4][5]

Thông qua[sửa | sửa mã nguồn]

Cool Japan được xuất hiện trên các phương tiện truyền thông quốc tế, The New York Times đăng một hồi tưởng đánh giá "Year in Ideas: Pokémon Hegemon" [Năm của ý tưởng: Bá quyền Pokémon],[6] ngày càng nhiều viên chức chính phủ có tư tưởng cải cách và các nhà lãnh đạo kinh doanh tại Nhật Bản bắt đầu đề cập đến "tổng thú vị quốc gia" và thực hiện khẩu hiệu không chính thức "Cool Japan".[7][8][9] Trong một cuộc họp báo năm 2005, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản đã gắn kết ý tưởng Cool Japan với khái niệm Tổng hạnh phúc quốc gia của Bhutan.[10]

Cool Japan được xuất hiện nhiều hơn vào giữa thập niên 2000 khi NHK bắt đầu một chương trình dài kỳ Cool Japan Hakkutsu: Kakkoii Nippon! tính đến cuối năm 2009 đã đạt hơn 100 tập.[11] Các sáng kiến học thuật bao gồm việc thành lập một dự án nghiên cứu Cool Japan tại Viện Công nghệ Massachusetts,[12] trong khi một số trường đại học phương Tây đã báo cáo sự gia tăng số lượng ứng viên với các khóa học Nhật Bản học bởi hiệu ứng "cool".[13]

Sự thông qua Cool Japan cũng đã thúc đẩy những thay đổi trong nghiên cứu văn hóa. Kết quả từ sự mê hoặc của Cool Japan với văn hóa giới trẻ Nhật Bản và các trường nữ sinh, một làn sóng nghiên cứu mới gọi là 'con gái học' tập trung đặc biệt vào trải nghiệm của các cô gái và những người tâm hồn con gái. Trước đây là một chủ đề tâm lý học thanh thiếu niên hoặc chủ nghĩa nữ quyền, 'con gái học' được xuất hiện từ Cool Japan bao gồm một phân tích liên ngành về văn hóa con gái.[14]

Chính sách quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Văn phòng xúc tiến công nghiệp sáng tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Nhật Bản đã xác định công nghiệp văn hóa giữ vai trò là một trong năm lĩnh vực tăng trưởng tiềm năng.[37] Tháng 6 năm 2010, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp thành lập một Văn phòng Xúc tiến Công nghiệp Sáng tạo nhằm thúc đẩy công nghiệp văn hóa và sáng tạo như một khu vực chiến lược "theo khái niệm thuật ngữ dài hạn, đơn giản của Cool Japan, phối hợp các chức năng khác nhau của chính phủ Nhật Bản và hợp tác với khu vực tư nhân".[38] Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp tuyến bố rằng văn hóa đại chúng Nhật Bản là một trong những yếu tố quan trọng của Cool Japan; văn hóa đại chúng bao gồm thần tượng, anime và người sành ăn hạng B (B級グルメ).[39]

Văn phòng Xúc tiến Công nghiệp Sáng tạo miêu tả sứ mệnh của Cool Japan đóng vai trò "tạo nhãn hiệu sản phẩm Nhật Bản với sự độc đáo của văn hóa Nhật Bản".[40][41] Tính đến năm 2011, chính phủ Nhật Bản tài trợ Cool Japan một gói ngân sách hơn 19 tỷ JP¥ (237 triệu US$).[41] Trong năm tài chính 2008, đầu tư công vào các hoạt động văn hóa của Hàn Quốc đạt 119,6 tỷ JP¥, Trung Quốc đạt 447,5 tỷ JP¥, Nhật Bản đạt 101,8 tỷ JP¥ tương ứng với 0,79%, 0,51%, 0,12% trong đầu tư công của từng quốc gia.[40] Quỹ Cool Japan ra mắt năm 2013,[42] chính phủ Nhật Bản cam kết tài trợ quỹ Cool Japan 50 tỷ JP¥ (500 triệu US$) trong hơn 20 năm, với mục tiêu đạt 60 tỷ JP¥ (600 triệu US$) thông qua các quan hệ đối tác nhà đầu tư tư nhân.[43] Tính đến cuối tháng 3 năm 2017, quỹ Cool Japan thua lỗ 4,5 tỷ JP¥ trong tổng số 35 tỷ JP¥ đầu tư cho 17 dự án.[44] Tính đến năm 2018, quỹ Cool Japan lỗ 4,4 tỷ JP¥ trong tổng số vốn 52,9 tỷ JP¥ đầu tư cho 25 dự án.[42] Nihon Keizai Shimbun cho biết quỹ Cool Japan trong vòng 5 năm "đã chịu lỗ trước thuế tổng cộng 10 tỷ JP¥ (88,9 triệu US$)" và 18 dự án không thu được lợi nhuận.[45][46] Tháng 6 năm 2018 quỹ Cool Japan được quản lý bởi cựu tổng giám đốc điều hành Sony Music Entertainment Japan Kitagawa Naoki.[47] Tính đến tháng 7 năm 2018, quỹ Cool Japan đã xúc tiến 29 dự án với quy mô 62 tỷ JP¥, trong đó 58,6 tỷ JP¥ đến từ nguồn vốn công và nhiều dự án thua lỗ.[44]

Sự kiện[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2011
    • Tháng 10 năm 2011, công ty All Nippon Entertainment Works (ANEW) được thành lập từ nguồn vốn đầu tư ban đầu 2,22 tỷ JP¥ trong tổng số nguồn vốn dự kiến 6 tỷ JP¥ của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp nhằm xúc tiến các tài sản văn hóa Nhật Bản được chuyển thể sang điện ảnh Hoa Kỳ. ANEW hủy bỏ sản xuất bảy bộ phim đã công bố trước đó và được bán lại cho một công ty đầu tư mạo hiểm tại Kyōto vào tháng 6 năm 2017 với giá 34 triệu JP¥, tương đương 1,5% khoản đầu tư ban đầu.[42][44]
  • 2013
    • Tháng 11 năm 2013, thành lập quỹ Cool Japan theo luật về quỹ Cool Japan (đạo luật số 51 năm 2013).[44]
  • 2014
  • 2015
    • Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp khởi động Nippon Quest, một website giới thiệu và lan truyền các đặc sản vùng còn xa lạ của Nhật Bản đến với thế giới.[50]
    • Quỹ Cool Japan đã chi 250 triệu JP¥ cho gần 50% cổ phần trong một liên doanh để vận hành các quán cà phê Hoa Kỳ chuyên biệt về trà đạo Nhật Bản; quỹ Cool Japan và tập đoàn Nagasaki đã phá vỡ hợp đồng đầu tư chung vào tháng 9 năm 2016.[46]
    • Quỹ Cool Japan đầu tư 450 triệu JP¥ (3,7 triệu US$) vào các tác giả sáng tạo nội dung animemanga bên ngoài Nhật Bản của Học viện Nội dung Kodokawa.[51]
  • 2016
  • 2018
    • Khoản đầu tư đầu tiên với quản lý mới của quỹ Cool Japan giá trị 12,5 triệu US$ vào kênh ẩm thực Tastemade và trở thành một cổ đông thiểu số, nhằm hỗ trợ quảng bá nội dung về các điểm tham quan và ẩm thực Nhật Bản.[45]
  • 2019
    • Công ty truyền thông về sắc đẹp và lối sống Clozette có trụ sở tại Singapore nhận khoản đầu tư 10 triệu US$ từ quỹ Cool Japan nhằm mở rộng tới các thị trường mới (bắt đầu từ Thái Lan) và phát triển hệ sinh thái Cool Japan tương tác (dự kiến ra mắt vào tháng 6 năm 2019); giúp quảng bá thời trang, làm đẹp, thực phẩm, du lịch và lối sống của Nhật Bản tới người tiêu dùng trên toàn cầu.[53]

Chỉ trích[sửa | sửa mã nguồn]

Một bài xã luận trên Yomiuri Shimbun lập luận rằng chính phủ Nhật Bản đã không hành động đủ nỗ lực để thúc đẩy lãi thương mại của quốc gia trong lĩnh vực này, cho phép Hàn Quốc nổi lên như một đối thủ cạnh tranh. Bài xã luận đã nhấn mạnh sự thiếu hiệu quả về cơ cấu khi Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp quảng bá Cool Japan, Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm trao đổi văn hóa, Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản phụ trách về ẩm thực Nhật Bản.[54][55][56] Giảng viên Roland Kelts cũng cho rằng một thất bại trong việc phân biệt đầy đủ, nhãn hiệu, thu hút khán giả và thị trường nước ngoài có thể dẫn đến khả năng Cool Japan đã 'kết thúc'.[57][58] Năm 2011, Laura Miller đã chỉ trích chiến dịch Cool Japan vì khai thác, bóp méo ngôn ngữ và thời trang tiểu văn hóa giới trẻ.[59] Năm 2013, Nancy Snow đã gọi Cool Japan như một hình thức tóm tắt lại văn hóa được chính phủ Nhật Bản tài trợ là tổng tuyên truyền quốc gia.[60] Ca sĩ kiêm sáng tác nhạc Gackt chỉ trích chính phủ Nhật Bản trong năm 2015 bởi vì đã lập một ngân sách khổng lồ nhưng "không biết nên đưa số tiền đó đi đâu. Không có gì quá phóng đại khi nói rằng ngân sách đã rơi vào một vòng xoáy đi xuống khi đồng tiền thuế lãng phí đang chảy vào các công ty ít được biết đến", và việc thiếu hụt sự hỗ trợ đang là nguyên nhân khiến Nhật Bản "tụt hậu so với các nước láng giềng châu Á về xuất khẩu văn hóa".[42][61] Năm 2016, Benjamin Boas chỉ ra rằng những nỗ lực được gắn nhãn Cool Japan thường được quảng bá mà không có sự tham gia của người nước ngoài, bỏ qua quan điểm của những người nước ngoài mà Nhật Bản đang cố gắng nhắm mục tiêu.[62]

Năm 2017, một giám đốc điều hành cấp cao và một số nhân viên nam cấp cao của quỹ Cool Japan đã bị cáo buộc quấy rối tình dục các nhân viên nữ của quỹ; các nhân viên đã thành lập một công đoàn để đấu tranh chống lại quấy rối tình dục.[63] Cùng năm 2017, nhà báo Saito Yuta của Nihon Keizai Shimbun chỉ trích tham vọng của quỹ vì "thiếu chiến lược và kỷ luật khiến gia tăng các dự án không có lãi", có thể gây xung đột lợi ích đối với các nhà quản lý điều hành.[46] Năm 2018, Japan Today báo cáo rằng còn quá sớm để coi quỹ Cool Japan là "không đủ năng lực hoặc tham nhũng", nhưng ít nhất tính đến hiện tại thì quỹ Cool Japan "hoạt động kém hiệu quả".[42]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Yano, Christine R (19 tháng 8 năm 2009). “Wink on Pink: Interpreting Japanese Cute as It Grabs the Global Headlines” [Cái nháy mắt màu hồng: Phiên dịch dễ thương Nhật Bản như nắm lấy tiêu đề toàn cầu]. The Journal of Asian Studies (bằng tiếng Anh). tr. 681–688 |các trang= hay |at= dư (trợ giúp). doi:10.1017/S0021911809990015. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  2. ^ Nagata, Kazuaki (15 tháng 5 năm 2012). “Exporting culture via 'Cool Japan'” [Xuất khẩu văn hóa thông qua 'Cool Japan']. The Japan Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  3. ^ Iwabuchi, Koichi (8 tháng 8 năm 2015). “Pop-culture diplomacy in Japan: soft power, nation branding and the question of 'international cultural exchange” [Chính sách văn hóa đại chúng tại Nhật Bản: Quyền lực mềm, thương hiệu quốc gia và câu hỏi về 'trao đổi văn hóa quốc tế']. International Journal of Cultural Policy (bằng tiếng Anh). tr. 419–432 |các trang= hay |at= dư (trợ giúp). ISSN 1028-6632. doi:10.1080/10286632.2015.1042469. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2015. 
  4. ^ McGray, Douglas (1 tháng 5 năm 2005). “Japan’s Gross National Cool” [Tổng thú vị quốc gia của Nhật Bản]. Foreign Policy (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2005. 
  5. ^ Allison, Anne (5 tháng 10 năm 2007). “J-brand: What image of youth is getting sold in Japan’s “gross national cool”?” [Thương hiệu Nhật Bản: Hình ảnh nào của giới trẻ đang được bán trong 'tổng thú vị quốc gia' của Nhật Bản] (PDF). Đại học California tại Berkeley (bằng tiếng Anh). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2007. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  6. ^ Talbot, Margaret (15 tháng 12 năm 2002). “The Year in Ideas; Pokémon Hegemon” [Năm của ý tưởng: Bá quyền Pókemon]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2002. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2002. 
  7. ^ “Japan counts on cool culture” [Nhật Bản quan tâm đến văn hóa thú vị]. BBC (bằng tiếng Anh). 13 tháng 12 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2004. 
  8. ^ Faiola, Anthony (27 tháng 12 năm 2003). “Japan's Empire of Cool” [Đế chế thú vị của Nhật Bản]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2003. 
  9. ^ Frederick, Jim (ngày 11 tháng 8 năm 2003). “What's Right with Japan” [Điều gì đúng đắn với Nhật Bản]. Time (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. 
  10. ^ “Press Conference 27 September 2005” [Họp báo 27 tháng 9 năm 2005]. Bộ Ngoại giao (bằng tiếng Anh). 27 tháng 9 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2005. 
  11. ^ 'Cool Japan' Goes Global” ['Cool Japan' vươn ra toàn cầu] (PDF). Chính phủ Nhật Bản (bằng tiếng Anh). 2009. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  12. ^ “Cool Japan Research Project” [Dự án nghiên cứu Cool Japan]. Viện Công nghệ Massachusetts (bằng tiếng Anh). 4 tháng 1 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  13. ^ Corbyn, Zoe (5 tháng 10 năm 2007). 'Cool Japan' suffers from cruel cuts” ['Cool Japan' khổ sở từ những vết cắt tàn nhẫn]. Times Higher Education (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  14. ^ Miller, Laura (2011). “Taking girls seriously in 'Cool Japan' ideology” [Những cô gái quyễn rũ thực sự trong ý thức hệ Cool Japan] (PDF). Đại học Quốc tế Florida. Volume XV (2011) (bằng tiếng Anh). Journal Archive, Japan Studies Review. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  15. ^ “経済産業省 「国は民間に口を挟まない」 デジタルコンテンツ分野で育成支援” [Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp: 'Đất nước không nói với khu vực tư nhân' hỗ trợ phát triển trong lĩnh vực nội dung số]. Tuần san BCN (bằng tiếng Nhật). 18 tháng 3 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2012. 
  16. ^ a ă “知的財産戦略本部” [Trụ sở chiến lược sở hữu trí tuệ]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 25 tháng 2 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019. 
  17. ^ a ă â b “知的財産戦略会議” [Hội nghị chiến lược sở hữu trí tuệ]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 20 tháng 3 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019. 
  18. ^ a ă â b “クール・ジャパンの海外展開支援 ― 株式会社海外需要開拓支援機構法案 ―” [Hỗ trợ phát triển ở nước ngoài của Cool Japan - Dự luật cơ chế hỗ trợ phát triển nhu cầu ở nước ngoài -] (PDF). Tham Nghị viện. 340号[平成25年5月10日], 平成25年発行分 [Số 340, ngày 10 tháng 5 năm 2013, Các vấn đề năm 2013] (bằng tiếng Nhật). 立法と調査 [Pháp luật và Điều tra]. 10 tháng 5 năm 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019. 
  19. ^ “経済産業省が第1回コンテンツ産業国際戦略研究会を開催” [Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp tổ chức hội thảo nghiên cứu chiến lược quốc tế công nghiệp nội dung lần đầu tiên]. Famitsu (bằng tiếng Nhật). 24 tháng 4 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2018. 
  20. ^ “第4章 外との繋がりによる日本経済の新たな成長に向けて 第2節 ニーズの変化に対応した海外事業活動支援 2.我が国の魅力を活かしたクール・ジャパン戦略” [Chương 4: Hướng tới sự tăng trưởng mới của nền kinh tế Nhật Bản bằng cách kết nối với thế giới bên ngoài]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp. 通商白書2012 [Sách trắng thương mại 2012] (bằng tiếng Nhật). 5 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2013. Tóm lược dễ hiểu. 
  21. ^ “「新成長戦略」について 平成22年6月18日 閣議決定” [Chiến lựoc tăng trưởng mới ~ Kịch bản của hồi sinh 'Nguyên khí Nhật Bản' (18 tháng 6 năm 2010)] (PDF). Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 26 tháng 4 năm 2019. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2010. Tóm lược dễ hiểu. 
  22. ^ “クール・ジャパン 官民有識者会議” [Hội nghị chuyên gia công-tư Cool Japan]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). ものづくり/情報/流通・サービス [Sản xuất / Thông tin / Phân phối / Dịch vụ]. 19 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2010. 
  23. ^ “クールジャパン官民有識者会議 提言について” [Về đề xuất hội nghị chuyên gia công-tư Cool Japan]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). 12 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2011. 
  24. ^ a ă “クール・ジャパン戦略推進事業第一弾 フランスを拠点とする海外販路開拓支援事業を実施” [Dự án Xúc tiến chiến lược Cool Japan lần thứ nhất - Triển khai hỗ trợ phát triển kênh bán hàng ở nước ngoài dựa vào nguồn vốn Pháp] (PDF). Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). 10 tháng 6 năm 2011. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2011. 
  25. ^ “経産省にクリエイティブ産業課 クールジャパン戦略に対応” [Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp hưởng ứng chiến lược Cool Japan]. Anime! Anime! Biz (bằng tiếng Nhật). 4 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2011. 
  26. ^ “クールジャパンロゴは佐藤可士和デザイン、野田首相が決定” [Biểu trưng Cool Japan được Kazumi Sato thiết kế, thủ tướng Noda]. Fashionsnap.com (bằng tiếng Nhật). 13 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2011. 
  27. ^ “「Japan. Cool Japan.」ロゴマークの使用について” [Về cách sử dụng biểu trưng 「Japan. Cool Japan.」]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). クールジャパン・ロゴマークの使用 [Sử dụng biểu trưng Cool Japan]. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2019. 
  28. ^ “日米桜寄贈100周年” [Kỷ niệm 100 năm tặng hoa anh đào Nhật Bản]. Bộ Ngoại giao (bằng tiếng Nhật). Tháng 2 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2011. 
  29. ^ “学友会Jazz Orchestraが「全米桜祭り」に参加” [Dàn nhạc Jazz của hội cựu sinh viên tham gia "lễ hội hoa anh đào Hoa Kỳ"]. Đại học Tohoku (bằng tiếng Nhật). 21 tháng 3 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2012. 
  30. ^ “MISIA、米ワシントン「桜祭り」に出演 震災支援への感謝の意と歌声を届ける” [MISIA xuất hiện "lễ hội hoa anh đào" ở Washington gửi lời cảm ơn và cất tiếng hát vì sự hỗ trợ tái thiết thảm họa động đất]. Ameba (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 3 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2012. 
  31. ^ “日米桜寄贈100周年事業イベント・カレンダー(ワシントンDC主要行事)” [Lịch sự kiện trăm năm tặng hoa anh đào Nhật Bản - Hoa Kỳ (các sự kiện chính tại Washington DC)] (PDF). Bộ Ngoại giao (bằng tiếng Nhật). 主要行事一覧, ワシントンDCでの主要行事 [Danh sách sự kiện chính, các sự kiện chính tại Washington DC]. 8 tháng 1 năm 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2013. Tóm lược dễ hiểu. 
  32. ^ “フランスに“今の日本”売込み、マグロの解体ショーに絶賛相次ぐ。” [Bán 'Nhật Bản bây giờ' tới Pháp, hoan nghênh mạnh mẽ chương trình tháo gỡ cá ngừ.]. Narinari.com (bằng tiếng Nhật). 24 tháng 9 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2019. 
  33. ^ “クールジャパン戦略の取組について” [Về cách tiếp cận chiến lược Cool Japan] (PDF). Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 21 tháng 4 năm 2014. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2014. 
  34. ^ “「和食」がユネスコ無形文化遺産に登録されました!” ['ẩm thực Nhật Bản' đã được đăng ký là một di sản văn hóa phi vật thể UNESCO]. Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản (bằng tiếng Nhật). 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2019. 
  35. ^ “日本政府観光局(JNTO)とクールジャパン機構との業務連携について” [Cộng tác thương mại giữa Cơ quan Xúc tiến Du lịch Nhật Bản (JNTO) và quỹ Cool Japan] (PDF). Cơ quan Xúc tiến Du lịch Nhật Bản (bằng tiếng Nhật). 5 tháng 9 năm 2014. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2019. 
  36. ^ “メディア芸術データベース” [Cơ sở dữ liệu nghệ thuật truyền thông]. Cục Văn hóa (bằng tiếng Nhật). 17 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2019. 
  37. ^ Amano, Tomomichi (14 tháng 6 năm 2010). “How to Promote ‘Cool Japan’?” [Cách thúc đẩy 'Cool Japan']. The Wall Street Journal (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  38. ^ “Establishment of the Creative Industries Promotion Office” [Thành lập Văn phòng Xúc tiến Công nghiệp Sáng tạo]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Anh). 8 tháng 6 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  39. ^ “クールジャパン/クリエイティブ産業” [Cool Japan / Công nghiệp sáng tạo]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2013. 
  40. ^ a ă “Promoting 'Cool Japan'” [Quảng bá 'Cool Japan']. The Japan Times (bằng tiếng Anh). 15 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  41. ^ a ă Mackay, Mairi (19 tháng 11 năm 2010). “Can Japan profit from its national "cool"?” [Liệu Nhật Bản có thể thu lợi từ 'cool' quốc gia?]. CNN (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  42. ^ a ă â b c d đ “After four years Cool Japan is Y4.4 bil in the hole and continuing to show few results” [Sau bốn năm, Cool Japan bị lỗ 4,4 tỷ yên và tiếp tục cho thấy một vài kết quả]. Japan Today (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2018. 
  43. ^ Kelts, Roland (9 tháng 7 năm 2013). “Can METI's ¥50 billion fund unfreeze 'Cool Japan'?”. The Japan Times. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2018. 
  44. ^ a ă â b c d Satoshi, Itō (20 tháng 7 năm 2018). “Floundering Cool Japan Projects See Loss After Loss” [Các dự án Cool Japan loạng choạng nhận thấy thua lỗ sau thất bại]. Nippon.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018. 
  45. ^ a ă Nitta, Yuji (24 tháng 10 năm 2018). “Cool Japan Fund invests $12.5m in Tastemade food video service” [Quỹ Cool Japan đầu tư 12,5 triệu US$ vào dịch vụ video ẩm thực Tastemade]. Nihon Keizai Shimbun (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2018. 
  46. ^ a ă â b c Saito, Yuta (6 tháng 11 năm 2017). “Cool Japan Fund's big ambitions mostly fall flat” [Các tham vọng lớn của Cool Japan Fund hầu hết đều thất bại]. Nihon Keizai Shimbun (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2017. 
  47. ^ Ressler, Karen (20 tháng 4 năm 2018). “Cool Japan Fund Appoints Sony Music Entertainment's Naoki Kitagawa as New CEO” [Quỹ Cool Japan bổ nhiệm Naoki Kitagawa của Sony Music Entertainment làm Giám đốc điều hành mới]. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2018. 
  48. ^ “Traditional Japanese Crafts will be Showcased to the World as a Result of the Cool Japan Initiative” [Thủ công truyền thống Nhật Bản sẽ giới thiệu với thế giới như một kết quả của sáng kiến Cool Japan]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Anh). 21 tháng 8 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2018. 
  49. ^ “​Nhật xây kho lạnh 15 triệu USD tại Việt Nam”. Tuổi trẻ. 16 tháng 10 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2014. 
  50. ^ “METI to Start NIPPON QUEST” [Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp khởi động NIPPON QUEST]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Anh). 11 tháng 8 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2018. 
  51. ^ Antonio Pineda, Rafael (31 tháng 3 năm 2015). “Cool Japan Fund Invests In Kadokawa's Content Creator Development Projects” [Quỹ Cool Japan đầu tư vào các dự án phát triển tác giả nội dung của Kodokawa]. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2015. 
  52. ^ “Cool Japan Fund drops Malaysia store” [Quỹ Cool Japan từ bỏ cửa hàng Malaysia]. News on Japan (bằng tiếng Anh). 12 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2018. 
  53. ^ “Beauty and lifestyle portal Clozette secures US$10m from Cool Japan Fund” [Cổng thông tin về sắc đẹp và lối sống Clozette được bảo trợ 10 triệu USD từ quỹ Cool Japan]. The Straits Times (bằng tiếng Anh). 11 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2019. 
  54. ^ “Time to capitalize on 'Cool Japan' boom” [Thời điểm để tận dụng sự bùng nổ 'Cool Japan']. Yomiuri Shimbun (bằng tiếng Anh). 30 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2010. 
  55. ^ “South Korea, China overtaking Japan in 'cool' culture battle” [Hàn Quốc, Trung Quốc bắt kịp Nhật Bản trong cuộc chiến văn hóa 'cool']. Asahi Shimbun (bằng tiếng Anh). 26 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  56. ^ Yasumoto, Seiko (2006). “Japan and Korea as a Source of Media and Cultural Capital” [Nhật Bản và Hàn Quốc như một nguồn cội của thủ đô văn hóa và truyền thông]. Đại học Sydney (bằng tiếng Anh). ISBN 9780980667905. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2018. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  57. ^ Kelts, Roland (17 tháng 5 năm 2010). “japanamerica: why ‘cool japan’ is over” [Japanamerica: Tại sao 'Cool Japan' đã kết thúc]. 3:AM Magazine (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  58. ^ Kelts, Roland (5 tháng 6 năm 2010). “The Politics of Popular Culture - Panel 2” [Chính trị của văn hóa đại chúng - Bảng 2] (PDF). Đại học Temple (bằng tiếng Anh). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  59. ^ Miller, Laura (27 tháng 10 năm 2011). “Cute Masquerade and the Pimping of Japan” [Hóa trang dễ thương và sự yêú đuối của Nhật Bản]. Tập san Quốc tế Xã hội học Nhật Bản International Journal of Japanese Sociology. Vol. 20, Issue. 1 (bằng tiếng Anh). tr. 18–29. doi:10.1111/j.1475-6781.2011.01145.x. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2011. 
  60. ^ Snow, Nancy (7 tháng 11 năm 2013). “Uncool Japan: Japan's Gross National Propaganda” [Nhật Bản không thú vị: Tổng tuyên truyền quốc gia của Nhật Bản]. Metropolis (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2013. 
  61. ^ “Gackt lashes out at Cool Japan: 'Almost no results of Japanese culture exported overseas'” [Gackt đả kích Cool Cool: 'Hầu như không có kết quả nào về văn hóa Nhật Bản được xuất khẩu ra nước ngoài']. Japan Today (bằng tiếng Anh). 6 tháng 7 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2015. 
  62. ^ Boas, Benjamin (24 tháng 4 năm 2016). 'Cool Japan' needs to listen to its target market” [Cool Japan cần lắng nghe thị trường mục tiêu]. The Japan Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2016. 
  63. ^ Taniguchi, Takako; Nakamura, Yuji (11 tháng 7 năm 2017). “Government-Backed 'Cool Japan' Fund Hit by Harassment Claims” [Quỹ Cool Japan được chính phủ ủng hộ bị chỉ trích vì quấy rối tình dục]. Bloomberg L.P. (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2018.