Cris Horwang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cris Horwang
คริส หอวัง
Cris Horwang 01.jpg
SinhCeline Horwang
5 tháng 7, 1980 (39 tuổi)
Bangkok, Thái Lan
Quốc tịchThái Lan
Tên khácCris
Nghề nghiệpDiễn viên, ca sĩ, người mẫu, DJ, vũ công
Nổi tiếng vìHLV The Face Thailand
Meili trong Bangkok Traffic (Love) Story
Chiều cao171 cm (5 ft 7 in)

Celine Horwang (Tiếng Thái: ศิริน หอวัง; hay: Sirin Howang), tên hay gọi là Cris (Thai: คริส; rtgs: Khrit), và biết đến nghệ danh Cris Horwang (คริส หอวัง) là một diễn viên, người mẫu, ca sĩ, nhà sản xuất, DJ, vũ công và giáo viên múa ballet. Năm 2010, cô có vai chính trong bộ phim điện ảnh Bangkok Traffic Love Story (Tàu điện tình yêu), biến cô trở thành ngôi sao chỉ trong một đêm. Cô còn biết đến nhiều hơn khi cô đảm nhiệm vai trò huấn luyện viên của chương trình The Face Thailand mùa 2, 3 và 4.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tên khai sinh: Cris Horwang (คริส หอวัง) / Cirin Horwang (ศิริน หอวัง)
  • Tên thường gọi: Cris (คริส)
  • Nghề nghiệp: Diễn viên/ người mẫu/ Ca sĩ/ DJ/ Vũ công/ Giáo viên ballet
  • Ngày sinh: 05/07/1980
  • Cung: Cự Giải
  • Nơi sinh: Bangkok, Thailand (con lai giữa Thái và Trung Quốc)
  • Chiều cao: 1m71
  • Cân nặng: 51 kg
  • Ngôn ngữ: Thái, Anh và Trung
  • Quan hệ: Độc thân
  • Em gái: Ploy Horwang
  • Học vấn:

- Theo học khiêu vũ quốc tế tại trường Nghệ thuật khiêu vũ Aree tại Bangkok, Thailand
- Tốt nghiệp trường nghệ thuật biểu diễn Walnut Hill tại Boston, Massachusetts, Mỹ
- Theo học múa ballet cao cấp tại Học viện Nghệ thuật California tại Quận Cam, Mỹ

Cris tham gia làng giải trí Thái Lan năm 14 tuổi khi cô làm người mẫu ảnh. Cô theo học tại trường Quốc tế Ruamrudee và theo học khiêu vũ tại trường nghệ thuật Aree Dance ở Bangkok, Thái Lan. Cha mẹ cô đã quyết định cho phép cô học ở nước ngoài sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997. Sau đó, cô tốt nghiệp với bằng Cử nhân từ Trường Nghệ thuật Biểu diễn Walnut Hill ở Boston và sau đó tiếp tục học ballet cao cấp tại Học viện Nghệ thuật California ở Orange County, Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp đại học tại CalArts, cô quay trở lại Bangkok, nơi cô trở thành và làm giáo viên dạy nhảy tại Trường Quốc tế Bangkok (ISB), và cũng làm DJ cho Fat Radio. Cô bắt đầu trở nên nổi tiếng khi tham gia bộ phim điện ảnh Bangkok Traffic Love Story (Tàu điện tình yêu), bộ phim có doanh thu phòng vé 100 triệu Baht.

Cris đã làm việc trong ngành kinh doanh trong 7 năm. 

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cris chính thức tham gia làng giải trí Thái sau khi trở về từ Mỹ. Cô và Koy Rachawin được mời bởi Ploy Horwang trở thành DJ on 104.5 Fat radio. Cô có cơ hội làm nhiều lĩnh vực như ca sĩ, diễn viên, người mẫu. Cô lọt vào mắt xanh của nhà sản xuất Tom Yutthalerd, thuyết phục cô có vai diễn trong phim điện ảnh lãng mạn hài "E-Tim tai nae " vai "Ma Khin". Mặc dù là vai phụ, kỹ năng diễn xuất của cô khá tốt. Sau đó cô tham gia phim điện ảnh Bangkok Traffic Love Story (Tàu điện tình yêu), với diễn viên nổi tiếng Ken Theeradej. Bộ phim tạo nên tên tuổi của cô nói riêng và cả bộ phim nói chung dành doanh thu phòng vé lớn, cô đã mang về nhà gần 2 tủ cúp cũng vì phim này.

Các bộ phim điện ảnh khác cô còn tham gia là Saturday Killer (2010), Headshot (2011), Seven Something (2012), Choice (2013), Oh My Ghost (2013), The Life of Gravity (2014), và nhiều bộ phim truyền hình khác. Năm 2011, Cris ra mắt dòng sản phẩm túi xách và phụ kiện của mình "Secret Weapon".

Năm 2017, không chỉ thành công với The Face Thailand, mà cô còn đóng phim truyền hình trên đài CH3 đó là phim Mia Luang (Mối tình đầu) và The Cupids Series (Thần mai mối) trong đó cô đảm nhiệm vai chính phần "Chuyện tình nàng Horm" với diễn viên Prama Imanothai.

Huấn luyện viên The Face Thailand[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2015, cô tham gia với vai trò Huấn luyện viên của chương trình truyền hình thực tế The Face Thailand mùa 2 cùng với Lukkade MetineeBee Namthip. So với Lukkade và Bee thì Cris dường như thiếu kinh nghiệm hơn hẳn khi sự nghiệp chính của cô là diễn viên, và hoạt động modeling như một công việc phụ. Tuy nhiên, ngành thời trang Thái Lan khá đa dạng, diễn viên hay ca sĩ vẫn có thể tham gia vào các campaign thời trang lớn nên việc Cris có mặt trong dàn mentor cũng không có gì là quá khó hiểu.

Bất kì ai khi xem The Face Thailand cũng phải nín thở vì số phận của team Cris. HLV Cris vật vã tức tối vì bị liên tiếp các HLV dồn vào đường cùng, cũng như đánh giá cô quá hiền lành, thiếu kĩ năng thị phạm hoặc nói với các thí sinh team Cris rằng họ đã chọn nhầm HLV rồi. Bốn lần phải nắm chặt tay học trò chờ đợi trong thấp thỏm thì 3 lần Cris phải chứng kiến học trò một đi không trở lại đến tuyệt vọng. Có thời điểm sau khi biết học trò tiềm năng nhất của mình vẫn bị loại (Namwan), Cris đã phải quỳ gối khóc ròng trong bất lực. “Tôi không khóc vì đầu hàng, tôi khóc vì các thí sinh không đáng bị loại oan uổng như vậy? Cuộc thi này tìm kiếm những gì, The Survivor hay The Face? Nếu họ không thèm quan tâm đến điều đó và cứ tiếp tục chơi bẩn như vậy thì họ không phải đang tìm kiếm The Face Thái Lan”, Cris chia sẻ trong bức xúc. Cô cũng bị cho là HLV nhọ so với mọi phiên bản của The Face trên thế giới.

Ở những tập sau đó, Cris đã mạnh mẽ hơn và vươn lên giành lại chiến thắng cho đội được thêm 1 campaign. Sau đó, một phần vì HLV Lukkade cùng Bee chính thức đối đầu nên Cris vẫn bảo toàn được thí sinh Gwang đi tới trận chung kết, giành vị trí Á quân. Đây là một mùa giải rất thành công so với mùa đầu tiên không chỉ dàn thí sinh đầy tiềm năng và là cuộc đua không khoan nhượng của cả ba HLV đều gây ấn tượng với khán giả.

Tiếp nối thành công của mùa giải này, cô thay thế cho Marsha Vadhanapanich tiếp tục vai trò HLV trong những tập cuối cùng của mùa 3 (do Marsha rời chương trình vì lý do lịch trình đóng phim)[1]. Tới đêm chung kết, thành viên team Grace của cô đạt ngôi vị quán quân của mùa giải này.[2].

Sau The Face, cô có lượng fanpage hâm mộ từ Việt Nam. Trong phỏng vấn từ trang Saostar: cô nói tới fan hâm mộ Việt bằng tiếng Việt: "Tôi yêu các bạn... team Cris".[3]

Ngay sau đó, cô tiếp tục tham gia mùa giải All-Stars cùng 5 huấn luyện viên khác.

Mùa Tên thí sinh Tuổi Thời điểm bị loại Thứ hạng
2 Sakawrat "Looknam" Kruythong 23 Bị loại ở tập 2 Top 15
Raknapak "Namwan" Wongtanatat 24 Bị loại ở tập 3 Top 14
Natika "June" Tongsumrit 26 Bị loại ở tập 5 Top 12
Kirana "Jazzy" Jasmine Chewter 16 Bị loại ở tập 10 Top 8
Wanpiya "Gwang" Ormsinnoppakul 23 Chung kết Á quân
3 Nathachat "Hana" Chancheaw 25 Được Cris cứu vớt tập 9 (team Lukkade)

Bị loại ở tập 10

Top 9
Wilawan "Julie" Anderson 22 Bị loại ở tập 11 Top 8
Natthaya "Grace" Boonchompaisarn 22 Chung kết Quán quân

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất hiện với vai trò là huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chương trình Kết quả Đài
2015 The Face Thailand (Mùa 2) Team Á quân CH3
2017 The Face Thailand (Mùa 3) Team Quán quân
2018 The Face Thailand (Mùa 4) Team Quán quân (cùng Lukkade)

Xuất hiện với vai trò là giám khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chương trình
2018 Thailand's Got Talent

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai diễn Đóng với
2008 E-Tim tai nae Ma Khin Udom Taepanich
2009 Bangkok Traffic Love Story  Mei Li (Li) Ken Theeradej
2010 Saturday Killer Chris Styler Nhang Chachacha
2011 Headshot Rin Akaranithimetrad Akarin
2012 Seven Something Mam (phần 21/28) Sunny Suwanmethanon
2013 Oh! My Ghost Khun Pee Chuay Bee Sudarat Butrprom, Yong Armchair
2014 The Life of Gravity Teacher Phim

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai diễn Đóng với Đài
2014 Club Friday The Series 4: Rue Ruk Thae Ja Pae Kvarm Thong Karn (Tình yêu và thể xác) Fah Thana Suttikamul & Pidsanu Nimsakul GMM25
2015 Club Friday The Series 6: Kvarm Ruk Mai Pid Torn Ti...Daung Cha-Tar (Tình yêu không có lỗi, lỗi tại tử vi) Koy Kirin Simon
Peun Ruk Peun Rissaya (Tình bạn hay sự đố kị) Uraiwan / Laila Karoon Sosothikul CH3
2017 Kammathep Hunsa (Chuyện tình nàng Hunsa) Horm Muen Lee (khách mời) - The Cupids Series
Kammathep Ork Suek (Chuyện tình nàng Horm) Prama Imanothai - The Cupids Series
Kammathep Online (Hoa khôi săn tình qua mạng) (khách mời) - The Cupids Series
Sorn Ruk Kammathep (Nàng sợ trai và họa sĩ đào hoa)
Kammathep Jum Laeng (Sói bự và thỏ ngoan)
Kamathep Prab Marn (Chị đại sa lưới chàng hắc ám)
Mia Luang (Bản lĩnh người vợ) Ornin Krissada Pornweroj & Warattaya Nilkuha
2019 Dai Daeng (Sợi chỉ đỏ) Auzy Zhang Nattawut Skidjai
Club Friday The Series 11: Lhong Ruk Koy Yuthana Puengklarng GMM25
2020 Bpai Hai Teung Duang Dao (Vươn tới những vì sao) Hemsuda Tewasub Atichart Chumnanon & Thiti Mahayotaruk OneHD
Nuer Nai (Bản ngã) Khemphaet (Khem) Anuwat Choocherdratana GMM25

Series[sửa | sửa mã nguồn]

  • Spy The Series: 07: รถหนูหาย..ใครแอบจิ๊ก รับบท เค้ก (รับเชิญ)
  • หมวดโอภาส the series ปี 2 คดีที่ 23-25 (รับเชิญ)
  • True Love Next Door The Final Answer (Vai diễn: Ploy)

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Giải
Năm Giải Hạng mục Đề cử Kết quả
2008 Kom Chad Luek Awards Best Supporting Actress E-Tim tai nae Đề cử
Suphannahong National Film Awards Đề cử
Entertainment Club Awards Đề cử
2009 Seventeen Choice Awards Seventeen Choice Actress Bangkok Traffic Love Story Đoạt giải
Suphannahong National Film Awards Best Leading Actress Đoạt giải
Top Awards Best Leading Actress Đề cử
Chaluem Thai Awards Leading Actress Of The Year Đoạt giải
3rd Nine Entertain Awards Actress Of The Year Đề cử
8th Star Entertainment Awards Best Leading Actress Đoạt giải
Hamburger Awards Best Leading Actress Đoạt giải
Entertainment Club Awards Best Leading Actress Đoạt giải
Star Pick Awards Best Leading Actress Đoạt giải
Best Leading Actress (In Film) Đoạt giải
Beloved Media Awards Best Leading Actress Đoạt giải
2010 Siam Dara Awards Best Leading Actress Đoạt giải
2012 Asian Film Festival Awards Best Supporting Actress HeadShot Đề cử

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]