Cuba

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hoà Cuba
República de Cuba (tiếng Tây Ban Nha)
Flag of Cuba.svg Coat of arms of Cuba.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Cuba
Khẩu hiệu
¡ Patria o Muerte, Venceremos !
(Tổ quốc hay là Chết, chúng ta sẽ vượt qua !)
Quốc ca
La Bayamesa (Bài ca Bayamo)
Hành chính
Chính phủ Xã hội chủ nghĩa
Chủ tịch nước Raúl Castro
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Tây Ban Nha
Thủ đô La Habana
km²) 23°8′B, 82°23′T
Thành phố lớn nhất La Habana
Địa lý
Diện tích 110.860 km² km²
Diện tích nước không đáng kể %
Múi giờ UTC5; mùa hè: UTC4
Ngày thành lập 10 tháng 10, 1898
Dân cư
Dân số ước lượng (2009) 11.239.363 người (hạng 75)
Dân số (2002) 11.177.743 người
Mật độ 102 người/km² (hạng 73)
Kinh tế
GDP (PPP) (2009) Tổng số: 111.1 tỷ Mỹ kim
HDI (2007) 0,863 cao (hạng 51)
Đơn vị tiền tệ Peso Cuba
Thông tin khác
Tên miền Internet .cu

Cuba, cũng được phiên âm ra tiếng Việt là Cu Ba hay Quy Ba, tên gọi chính thức là Cộng hòa Cuba (tiếng Tây Ban Nha: Cuba hay República de Cuba, IPA: [re'puβlika ðe 'kuβa]) là Quốc gia bao gồm đảo Cuba (hòn đảo hình con cá sấu vươn dài trên biển Caribe, cũng là hòn đảo lớn nhất của quần đảo Đại Antilles), cùng với đảo Thanh Niên (Isla de la Juventud) và các đảo nhỏ xung quanh. Cuba nằm ở phía bắc Vùng Caribe ở giao điểm của của ba miền biển lớn: Biển Caribe, Vịnh MexicoĐại Tây Dương. Cuba nằm ở phía nam miền đông Hoa KỳBahamas, phía tây Quần đảo Turks và CaicosHaiti và phía đông Mexico. Quần đảo CaymanJamaica ở phía nam.

Cuba là quốc gia đông dân nhất vùng Caribe. Dân chúng và văn hóa Cuba kết hợp từ nhiều nguồn dựa trên quá trình nhân chủng, lịch sử và địa lý: bộ tộc người bản xứ TaínoCiboney, lịch sử thời kỳ Tây Ban Nha thống trị, chế độ đồn điền nhập cư nô lệ Châu Phi, và vị trí địa lý gần Hoa Kỳ. Hòn đảo này có khí hậu nhiệt đới nhưng điều hòa bởi vùng biển bao quanh; tuy nhiên vì nhiệt độ cao của Biển Caribe và địa thế hầu như chắn ngang Vịnh Mexico, Cuba hằng năm thường hứng chịu những trận bão lớn.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo văn tịch thì lịch sử Cuba bắt đầu ngày 28 tháng 10 năm 1492, khi Colombo nhận diện đảo này trong chuyến đi thứ nhất của ông và tuyên bố chủ quyền nhân danh triều đình Tây Ban Nha.[1] (Điều này vẫn còn chưa chắc chắn và là một vấn đề chưa ngã ngũ.[2]) Hòn đảo này trước đó đã được thổ dân châu Mỹ, bộ tộc TaínoCiboney xuất xứ từ Nam Mỹ nhiều thế kỷ trước đến lập nghiệp. Người Taíno và người Ciboney (cũng được viết là Siboney các quốc gia Taino mới) đều là những cư dân biết trồng cấy cùng săn bắn-hái lượm; có thuyết cho rằng kỹ thuật đồ đồng đã khá phát triển dựa trên số di vật phát hiện được[3] trong các di chỉ Taino.

Bờ biển Cuba được Sebastián de Ocampo vẽ bản đồ đầy đủ vào năm 1511, và cũng trong năm ấy thôn ấp của nhóm di dân Tây Ban Nha đầu tiên đến lập nghiệp được Diego Velázquez de Cuéllar khai sáng tại Baracoa. Các thị trấn khác như La Habana (thành lập năm 1515) nhanh chóng mọc lên. Người Tây Ban Nha, như họ đã hành động trên khắp Châu Mỹ, đàn áp và bắt làm nô lệ gần 100.000 người bản xứ chống việc cải đạo theo Thiên chúa giáo trên đảo. Trong một thế kỷ vì chính sách lao động cưỡng bức, diệt chủng cộng với những ảnh hưởng từ các dịch bệnh được đem tới từ Châu Âu hầu như các yếu tố quốc gia trên hòn đảo đã biến mất, dù một số khía cạnh di sản bản xứ vẫn còn lại một phần qua sự gia tăng đáng kể của số người Mestizo.[4][5] Với sự phá hủy xã hội bản xứ, những người định cư bắt đầu khai thác những nô lệ Châu Phi, họ đã có khả năng chống chịu tốt hơn với các loại bệnh dịch từ thế giới cũ, và nhanh chóng chiếm một phần đáng kể dân số.

Cuba thuộc địa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuba thuộc quyền sở hữu của người Tây Ban Nha trong 388 năm, được cai trị bởi một vị Toàn quyền tại La Habana, với một nền kinh tế dựa trên trồng trọt nông nghiệp và xuất khẩu đường, cà phêthuốc lá tới Châu Âu và sau này là tới Bắc Mỹ. Nước này bị Anh Quốc chiếm năm 1762, nhưng quay trở lại dưới quyền Tây Ban Nha vào năm sau. Dân số Tây Ban Nha đã tăng mạnh sau khi người định cư Tây Ban Nha rời Haiti khi lãnh thổ này được nhượng lại cho Pháp. Tương tự như tại các vùng khác của Đế chế Tây Ban Nha, một giới chủ đất giàu có với dòng máu Tây Ban Nha nắm quyền kinh tế và xã hội, tiếp đó là giới bình dân tiểu điền chủ người lai, pha trộn (Mestizo), giới lao động và những nô lệ da đen nguồn gốc Châu Phi.

Trong thập niên 1820, khi những vùng khác của Đế chế Tây Ban Nha tại Mỹ Latinh nổi loạn và thành lập nên các nhà nước độc lập, Cuba tiếp tục trung thành, dù đã có một số khích động độc lập. Điều này một phần bởi sự thịnh vượng của những người định cư Cuba phụ thuộc vào thương mại xuất khẩu tới Châu Âu, một phần bởi lo ngại về một cuộc nổi loạn nô lệ (như đã xảy ra tại Haiti) nếu người Tây Ban Nha rút đi và một phần bởi người Cuba e ngại sự lớn mạnh của Hoa Kỳ hơn là họ ghét chính quyền cai trị thuộc địa Tây Ban Nha.

Một yếu tố khác là quá trình di cư liên tục của người Tây Ban Nha tới Cuba từ mọi tầng lớp xã hội, một khuynh hướng nhân khẩu đã không còn tồn tại tại các vùng thuộc địa khác của Tây Ban Nha từ nhiều thập kỷ trước đó góp phần làm giảm sự phát triển bản sắc quốc gia Cuba.

Sự gần gũi địa lý của Cuba với Hoa Kỳ gây ảnh hưởng rất mạnh trên lịch sử nước này. Trong suốt thế kỷ 19, các chính trị gia phương Nam Hoa Kỳ đã âm mưu sáp nhập hòn đảo này và coi đó là công cụ để tăng cường sức mạnh cho phe ủng hộ chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ, và luôn có một đảng tại Cuba ủng hộ chính sách đó. Năm 1848, một cuộc nổi dậy ủng hộ sáp nhập đã bị đập tan và đã có nhiều nỗ lực khác của các kẻ muốn ủng hộ sáp nhập nhằm xâm lược hòn đảo này từ Florida. Cũng có nhiều đề xuất tại Hoa Kỳ nhằm mua Cuba từ Tây Ban Nha. Trong mùa hè năm 1848, Tổng thống James Knox Polk đã bí mật cho phép đại sứ của mình tại Tây Ban Nha, Romulus Mitchell Saunders, đàm phán mua Cuba và đưa ra giá tới 100 triệu dollar, một khoản tiền lớn đáng ngạc nhiên ở thời điểm đó cho một vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, Tây Ban Nha đã từ chối vì không muốn mất một trong những vùng lãnh thổ cuối cùng của mình tại Châu Mỹ.

Sau cuộc Nội chiến Mỹ với thắng lợi của phương Bắc góp phần chấm dứt nỗi lo sáp nhập của phái ủng hộ chế độ nô lệ, làn sóng đòi độc lập tại Cuba xuất hiện trở lại, dẫn tới một cuộc nổi dậy năm 1868 do Carlos Manuel de Céspedes, một luật sư và chủ đất giàu có từ tỉnh Oriente, người đã trả tự do cho các nô lệ của mình, lãnh đạo. Ông tuyên chiến và được phong là Tổng thống Cộng hòa Cuba. Sự kiện này đã dẫn đến một cuộc xung đột kéo dài được gọi là cuộc Chiến tranh Mười Năm giữa các lực lượng ủng hộ độc lập và Quân đội Tây Ban Nha, với đồng minh là những kẻ phản đối độc lập người địa phương. Người Mỹ đồng tình với mong muốn độc lập của Cuba, nhưng Hoa Kỳ không can thiệp quân sự hay thậm chí là công nhận tính hợp pháp của chính phủ Cuba, dù nhiều quốc gia Châu Âu và Mỹ Latinh đã làm như vậy. [6] Năm 1878, Hòa bình Zanjon chấm dứt cuộc xung đột, với lời hứa của Tây Ban Nha trao quyền tự trị rộng rãi hơn cho Cuba.

Hòn đảo này đã kiệt quệ sau cuộc xung đột dai dẳng đó và tình cảm độc lập tạm thời lắng dịu. Cũng có mối lo ngại rằng nếu người Tây Ban Nha rút đi hay nếu xung đột kéo dài, chủ nghĩa bành trướng Mỹ sẽ phát triển dẫn tới sự sáp nhập hòn đảo này. Trong giai đoạn 1879-1880, nhà yêu nước Cuba Calixto Garcia đã tìm cách khởi động một cuộc chiến khác, được gọi là "la guerra chiquita" (cuộc chiến nhỏ) trong lịch sử Cuba nhưng không nhận được nhiều sự hỗ trợ.[7] Một phần để vì áp lực của Mỹ, chế độ nô lệ đã bị bãi bỏ năm 1886, cộng đồng thiểu số gốc Phi vẫn bị đàn áp cả về kinh tế và xã hội, dù đã được chính thức trao quyền bình đẳng năm 1893. Trong giai đoạn này, sự nghèo khổ tại các vùng nông thôn ở Tây Ban Nha do Cuộc cách mạng Tây Ban Nha năm 1868 và những hậu quả của nó khiến làn sóng người Tây Ban Nha di cư tới Cuba càng tăng thêm.

Trong thập niên 1890, các phong trào ủng hộ độc lập hồi sinh, được thúc đẩy bởi sự oán giận do các biện pháp hạn chế áp đặt lên thương mại Cuba và tình trạng thù địch với chính sách quản lý ngày càng phân biệt đối xử và không hiệu của của Tây Ban Nha. Rất ít lời hứa cải cách kinh tế theo Hiệp ước Zanjon được chính phủ Tây Ban Nha thực hiện. Tháng 4 năm 1895, một cuộc chiến tranh mới nổ ra, do tác gia và là nhà thơ José Martí người đã tổ chức chiến tranh trong giai đoạn mười năm sống tha hương tại Hoa Kỳ lãnh đạo. Ông tuyên bố Cuba trở thành một nước Cộng hòa độc lập — Martí bị giết hại tại Dos Rios ngay sau khi đặt chân tới Cuba cùng lực lượng viễn chinh phía đông. Cái chết đã khiến ông trở thành bất tử và được coi là một anh hùng quốc gia Cuba.

Các lực lượng vũ trang Tây Ban Nha với tổng số 200.000 quân chỉ phải chống lại một lực lượng nổi dậy nhỏ chủ yếu sử dụng các chiến thuật du kích và phá hoại, và quân Tây Ban Nha thường trả đũa bằng các chiến dịch đàn áp. Tướng Valeriano Weyler được chỉ định làm Toàn quyền quân sự của Cuba, và với một biện pháp hà khắc ông dồn người dân thôn quê vào cái ông gọi là reconcentrados, được các nhà quan sát nước ngoài miêu tả như là các "thị trấn pháo đài." Các reconcentrados thường được coi là nguyên mẫu đầu tiên của các trại tập trung trong thế kỷ 20.[8] Những con số ước tính cho thấy khoảng 200.000 tới 400.000 thường dân Cuba đã chết vì đói khát và bệnh tật trong giai đoạn này tại các trại đó. Con số này đã được cả Hội Chữ thập Đỏ và Thượng nghị sĩ Mỹ, và cựu Thư ký An ninh Quốc gia, Redfield Proctor kiểm chứng. Hoa Kỳ và Châu Âu phản đối những hành động của Tây Ban Nha trên hòn đảo.[9] Lo ngại sự can thiệp của Mỹ, Tây Ban Nha áp dụng một chính sách mang tính hòa giải hơn, hứa hẹn cho phép tự quản bởi một nghị viện qua bầu cử. Những người nổi dậy từ chối đề xuất đó và chiến tranh giành độc lập tiếp tục diễn ra. Một thời gian ngắn sau đó, ngày 15 thán 2 năm 1898, tàu chiến Mỹ Maine bất ngờ bị nổ tung tại cảng La Habana, làm thiệt mạng 266 người. Các lực lượng muốn can thiệp vào Cuba ở Hoa Kỳ muốn nhân cơ hội này buộc tội Tây Ban Nha làm nổ tàu chiến Mỹ (dù Tây Ban Nha không hề có động cơ để hành động như vậy và không có bằng chứng về sự liên can của Tây Ban Nha). Cùng với làn sóng tình cảm chủ nghĩa quốc gia, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua một nghị quyết kêu gọi can thiệp và Tổng thống William McKinley nhanh chóng đáp ứng.

Kết quả là cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ, trong đó các lực lượng Mỹ đổ bộ xuống Cuba tháng 6 năm 1898 và nhanh chóng đè bẹp sự kháng cự yếu ớt của Tây Ban Nha. Tháng 8 một hiệp ước hòa bình được ký kết theo đó Tây Ban Nha đồng ý rút lui khỏi Cuba. Một số người ủng hộ ý kiến Hoa Kỳ trao trả độc lập cho Cuba, trong khi những người khác muốn sáp nhập lãnh thổ này. Để dàn xếp, chính quyền McKinley đặt Cuba dưới một hiệp ước bảo hộ 20 năm của Hoa Kỳ. Phong trào độc lập tại Cuba phản đối kế hoạch này, nhưng không giống như Philippines, nơi các sự kiện cũng diễn ra tương tự, không hề có cuộc kháng chiến vũ trang nào xảy ra.

Độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

Theodore Roosevelt, người đã chiến đấu trong cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ và có một số tình cảm với phong trào độc lập, kế tục McKinley trở thành Tổng thống Hoa Kỳ năm 1901 và bãi bỏ đề xuất bảo hộ 20 năm. Thay vào đó, Cộng hòa Cuba chính thức được độc lập ngày 20 tháng 5 năm 1902, và vị lãnh đạo cuộc kháng chiến đòi độc lập Tomás Estrada Palma trở thành tổng thống đầu tiên của đất nước. Tuy nhiên, theo hiến pháp mới của Cuba, Hoa Kỳ giữ quyền can thiệp vào các công việc của Cuba và giám sát tài chính cũng như quan hệ ngoại giao của nước này. Theo Tu chính Platt, Cuba cũng đồng ý cho Hoa Kỳ thuê căn cứ hải quân tại Vịnh Guantánamo. Cuba ngày nay không tổ chức lễ kỷ niệm ngày 20 tháng 5 là ngày độc lập, mà là ngày 10 tháng 10, ngày lần đầu tuyên ngôn độc lập được công bố và ngày Castro cùng đội quân của mình tiến vào La Habana, 1 tháng 1 năm 1959 là ngày "thắng lợi cách mạng".

Cuba độc lập nhanh chóng phải đối mặt với những khó khăn do sự tranh giành bè phái và tình trạng tham nhũng trong giới trí thức lãnh đạo và sự lực của chính phủ trong việc giải quyết các vấn đề xã hội sâu sắc hậu quả của chế độ thực dân Tây Ban Nha. Năm 1906, sau cuộc bầu cử lựa chọn người kế tục Estrada Palma gây nhiều tranh cãi, một cuộc nổi dậy vũ trang bùng phát và Hoa Kỳ đã thực hiện quyền can thiệp của minh. Đất nước này được đặt dưới quyền kiểm soát của Mỹ và một vị Thống đốc, Charles Edward Magoon, nhận trách nhiệm quản lý trong ba năm. Thời kỳ cầm quyền của Magoon tại Cuba bị nhiều nhà sử học nước này coi là không thành công, họ cho rằng tình trạng tham nhũng của chính quyền Magoon còn trầm trọng hơn trước đó.[10] Năm 1908 chính phủ tự quản được tái lập khi José Miguel Gómez được bầu làm tổng thống, nhưng Hoa Kỳ vẫn giữ quyền giám sát các công việc của Cuba. Tuy nhiên, dù những cuộc phản đối bất tuân lệnh chính phủ vẫn diễn ra, chính phủ lập hiến vẫn tồn tại cho tới năm 1925, khi Gerardo Machado y Morales, đã được bầu làm tổng thống, tạm ngưng hiệu lực của hiến pháp. Machado là một người Cuba theo đường lối quốc gia và chế độ của ông được sự ủng hộ rộng rãi của người dân trong nước dù chính phủ vẫn thường sử dụng bạo lực đàn áp sự chỉ trích. Trong thời kỳ cầm quyền của ông, người dân Cuba có quyền kiểm soát rộng rãi hơn với nền kinh tế của họ và các dự án phát triển quốc gia lớn được triển khai. Quyền lực của ông giảm sút sau cuộc Đại Suy thoái, khiến giá các mặt hàng xuất khẩu của Cuba giảm mạnh gây tình trạng nghèo đói khắp nước. Tháng 8 năm 1933, các nhóm trong quân đội Cuba tổ chức một cuộc đảo chính hạ bệ Machado và đưa Carlos Manuel de Céspedes, con trai người sáng lập nhà nước Cuba lên làm Tổng thống. Tuy nhiên, vào tháng 9 một cuộc đảo chính thứ hai do Fulgencio Batista lãnh đạo lật đổ Céspedes dẫn tới sự hình thành chính phủ Ramón Grau San Martín thứ nhất. Chính phủ này chỉ tồn tại 100 ngày nhưng đã đặt những cơ sở cho những thay đổi tự do căn bản của xã hội Cuba và sự khước từ Tu chính Platt.

Năm 1934, Batista và quân đội, phe nắm quyền lực thực sự tại Cuba, thay thế Grau bằng Carlos Mendieta y Montefur. Năm 1940, Batista quyết định tự mình ra tranh cử tổng thống. Lãnh đạo của phái tự do lập hiến Ramón Grau San Martín từ chối ủng hộ ông, và quay sang phía Đảng Cộng sản Cuba, đã phát triển cả về tầm vóc và ảnh hưởng trong thập niên 1930.

Cuba năm 1910

Với sự hỗ trợ của các liên đoàn lao động do những người Cộng sản kiểm soát, Batista được bầu làm Tổng thống và chính quyền của ông đã tiến hành các cải cách xã hội rộng lớn cũng như đưa ra một bản hiến pháp mới tiến bộ hơn. Nhiều thành viên của Đảng Cộng sản giữ các chức vụ trong chính quyền này. Chính quyền Batista chính thức đưa Cuba tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai với tư cách đồng minh của Mỹ, tuyên chiến với Đế quốc Nhật Bản ngày 9 tháng 12 năm 1941, sau đó với Đức quốc xãphát xít Ý ngày 11 tháng 12 năm 1941; Tuy nhiên, Cuba không tham gia nhiều về mặt quân sự vào các cuộc xung đột trong Thế chiến II. Vào cuối nhiệm kỳ của mình năm 1944, theo hiến pháp Batista lùi bước và Ramón Grau được bầu làm người kế tục ông. Grau tăng chi tiêu chính phủ cho y tế, giáo dục và nhà cửa. Phái tự do của Grau đối lập với những người Cộng sản và Batista phản đối hầu hết các chương trình của Grau.

Năm 1948, Carlos Prío Socarrás lên thay Grau, ông này từng là bộ trưởng lao động trong chính quyền trước và đặc biệt bị những người Cộng sản căm ghét. Prío ít tư tưởng tự do hơn Grau và dưới thời cầm quyền của ông tình trạng tham nhũng đa gia tăng đáng kể. Điều này một phần có nguyên nhân ở sự phục hồi sức mạnh của Hoa Kỳ thời hậu chiến và dòng tiền cờ bạc đổ vào La Habana, vốn đã trở thành một thiên đường cho các hoạt động của mafia. Quả thực Prío đã tiến hành nhiều cải cách lớn như thành lập Ngân hàng Quốc gia và ổn định đồng tiền tệ Cuba. Dòng vốn từ Bắc Mỹ đã trở thành nhiên liệu cho cuộc bùng nổ kinh tế, làm tăng mức sống của nhân dân và tạo ra một tầng lớp trung lưu khá giả tại hầu hết các vùng đô thị, dù hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo trở nên rộng hơn và rõ ràng hơn.

Từ Batista tới Castro[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cách mạng Cuba
Tổng thống Cuba Fulgencio Batista (bị lật đổ ngày 31 tháng 12 năm 1958)

Cuộc bầu cử năm 1952 là cuộc chạy đua giữa ba người. Roberto Agramonte thuộc đảng Chính thống luôn dẫn đầu trong các cuộc thăm dò ý kiến, tiếp theo là tiến sĩ Aurelio Hevia thuộc đảng Auténtico, và ở một khoảng cách khá xa phía sau là Batista, người đang tìm cách quay lại phủ tổng thống. Cả hai đối thủ hàng đầu, Agramonte và Hevia, đều quyết định chỉ định Đại Tá Ramon Barquin người đang đảm trách nhiệm vụ ngoại giao tại Washington DC lãnh đạo các lực lượng vũ trang Cuba sau cuộc bầu cử. Barquin từng là một sĩ quan cao cấp, người chỉ huy đội quân chuyên nghiệp và đã hứa hẹn hành động chống tham nhũng. Batista sợ rằng Barquin sẽ cho ông và những người theo ông ra rìa, và khi hiển nhiên rằng Batista có ít cơ hội chiến thắng, ông đã lên kế hoạch một cuộc đảo chính ngày 10 tháng 3 năm 1952 và nắm quyền lực với sự ủng hộ của một phái quốc gia trong quân đội với tư cách “tổng thống lâm thời” trong vòng hai năm. Justo Carrillo đã nói với Barquin tại Washington DC tháng 3 năm 1952 rằng những những người thân cận cho ông biết Batista đã có kế hoạch đảo chính chống lại ông; họ nhanh chóng bắt đầu hợp sức tiêu diệt Batista và tái lập nền dân chủ cũng như chính phủ dân sự trong cái saunày sẽ được gọi là La Conspitacion de los Puros de 1956 (Agrupacion Montecristi). Năm 1954, dưới sức ép từ Hoa Kỳ, ông đồng ý tổ chức bầu cử. Partido Auténtico đưa cựu tổng thống Grau ra làm ứng cử viên của mình, nhưng ông này rút lui trong bối cảnh có tin đồn rằng Batista đang âm mưu thao túng bầu cử từ trước. Batista sau đó được tuyên bố làm tổng thống do dân bầu.

Fidel Castro đã lãnh đạo một cuộc tấn công bất thành vào Pháo đài Moncada, tại Santiago de Cuba, và Pháo đài Carlos Manuel de Cespedes nhỏ hơn, vào buổi tối ngày Thánh Ann, ngày 26 tháng 7 năm 1953.[11]

Nhiều tên mafiosi tại Florida Mỹ đã vào Cuba trong thời kỳ cầm quyền của Batista, đáng chú ý là tên trùm Santo Trafficante, Jr. Những hoạt động của chúng gồm điều hành khách sạnsòng bạc hợp pháp cũng như các hoạt động bất hợp pháp tại Florida. Những tên trùm gangster Mỹ đã trở thành những kẻ ủng hộ đáng kể cho Batista trên vũ đài chính trị Cuba, chính phủ nước này làm ngơ cho các hoạt động của chúng để đổi lấy các khoản hối lộ và lại quả.[12][13]

Chiếc xe tải đã được sử dụng trong cuộc tấn công Phủ Tổng thống tại La Habana bởi Directorio Revolucionario (Ban chỉ huy Cách mạng)và Organizacion Autentica năm 1957

Tháng 4 năm 1956, Batista đã ra lệnh đưa Barquin lên làm Tướng và Chỉ huy quân đội. Nhưng đã là quá muộn. Thậm chí sau khi Barquin được thông báo, ông đã quyết định hành động đảo chính nhằm cứu vãn đạo đức các lực lượng vũ trang và của người dân Cuba. Ngày 4 tháng 4 năm 1956, một cuộc đảo chính do một trăm sĩ quan dưới sự chỉ huy của Đại táCol. Barquin (khi ấy là Phó chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Liên Mỹ tại Washington DC và Đại diện Hải quân, Không quân và Bộ binh Cuba tại Hoa Kỳ) diễn ra nhưng không thành công bởi Rios Morejon. Cuộc đảo chính làm tan rã xương sống các lực lượng vũ trang Cuba. Các sĩ quan bị xét xử với mức phạt cao nhất theo Thiết quân Luật Cuba. Barquin bị kết án biệt giam 8 năm. La Conspiración de los Puros khiến nhiều sĩ quan hàng đầu các lực lượng vũ trang bị bỏ tù và các học viện quốc phòng bị đóng cửa. Barquin là người sáng lập La Escuela Superior de Guerra (Cao đẳng Quân sự Cuba) và từng là hiệu trưởng của La Escuela de Cadetes (Viện Quân sự Cuba - West Point). Không có các sĩ quan của Barquin khả năng chiến đấu chống các lực lượng nổi dậy cách mạng đã bị suy yếu nghiêm trọng.

Che Guevara chỉ huy trận Santa Clara, tháng 12 năm 1958

Năm 1956 một đảng của những người nổi dậy, gồm cả Fidel Castro, đổ bộ từ một con tàu từ Mexico và tìm cách khởi động một phong trào kháng chiến vũ trang tại Sierra Maestra. Tại Mexico, đội quân của ông được tăng cường sức mạnh với sự cộng tác của Ernesto Che Guevara người sau này sẽ trở thành một trong những nhân vật nổi bật nhất của cách mạng Cuba và là một trong những đồng minh thân cận của Castro. Castro đã tới Mexico sau khi bị kết án hai mươi năm tù vì tham gia vào cuộc tấn công năm 1953 vào Pháo đài Moncada tại Santiago de Cuba. Castro đã được Batista ân xá sau yêu cầu của Tổng Giám mục Santiago, Monseñor Enrique Perez Serantes và Thượng nghị sĩ Rafael Diaz-Balart, khi ấy là anh/em rể của Fidel Castro. Sau vụ đổ bộ, Batista tung ra một chiến dịch chống phe đối lập, nhưng chỉ làm tăng sự ủng hộ của dân chúng cho phong trào nổi dậy. Với việc các sĩ quan của Barquin đều bị tống giam tại La Prision Modelo de Isla de Pinos ở Vịnh Mexico, quân đội thiếu sự lãnh đạo và ý chí chống phe nổ dậy.

Trong hai năm 1957 và 1958, sự phản kháng Batista ngày càng tăng, đặc biệt trong các tầng lớp trung lưu và thượng lưu và sinh viên, cũng như trong giới tăng lữ Nhà thờ Cơ đốc giáo và tại nhiều vùng nông thôn. Trước yêu cầu mua vũ khí hiện đại từ Hoa Kỳ nhằm đối phó với phe nổi dậy, chính phủ Hoa Kỳ đã áp đặt một lệnh cấm vận vũ khí với chính phủ Cuba ngày 14 tháng 3 năm 1958. Tới cuối năm 1958, nhiều thành viên nổi dậy đã trốn thoát khỏi Sierra Maestra và tổ chức một cuộc tổng khởi nghĩa, được hàng trăm sinh viên và những người khác bất đồng với chính quyền Batista gia nhập. Khi phe nổi dậy chiếm Santa Clara, phía đông La Habana, Batista cho rằng chiến đấu là vô ích và bỏ chạy khỏi đất nước tới Bồ Đào Nha và sau này là Tây Ban Nha. Batista chỉ định Tướng Eulogio Cantillo làm Chỉ huy Quân đội và trao cho ông chỉ thị không được phóng thích Barquin cùng các sĩ quan của ông ta. Tuy vậy, Barquin, người có sự ủng hộ của Hoa Kỳ, đã được giải thoát khỏi Isla de Pinos ngay từ những giờ đầu tiên và được đưa tới Campamento Ciudad Militar Columbia nơi ông thay thế Cantillo và nắm chức Tham mưu trưởng (giữ quyền chỉ huy các lực lượng vũ trang và trên thực tế là Tổng thống Cuba trong một thời gian ngắn) trong một nỗ lực nhằm tái lập trật tự trên đường phố và trong các lực lượng vũ trang. Ông đã đàm phán sự thay đổi mang quyền chỉ huy tính biểu tượng giữa Camilo Cienfuegos, Che Guevara, Raaul và Fidel Castro, sau khi Tòa án Tối cao quyết định rằng Cách mạng là nguồn gốc luật pháp và những đại diện của nó phải được nắm quyền chỉ huy. Với chỉ chưa tới 300 người Camilo nhận quyền từ Barquin mà chỉ riêng tại Columbia đã có 12.000 binh sĩ chuyên nghiệp. Các lực lượng nổi dậy của Castro đã tiến vào thủ đô ngày 3 tháng 1 năm 1959. Một thời gian ngắn sau khi Tiến sĩ Manuel Leo Urrutia lên nắm quyền.

Cuba sau cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà lãnh đạo cách mạng Cuba tham gia tuần hành tại thủ đô La Habana, ngày 5 tháng 3 năm 1960

Fidel Castro trở thành thủ tướng Cuba tháng 2 năm 1959, và trên thực tế đã nắm quyền lực tối cao tại đất nước cho tới khi tạm thời chuyển giao nó cho người em trai, Raul Castro, vì những lý do sức khỏe tháng 7 năm 2006. Trong năm 1959, Castro đã tiến hành nhiều biện pháp như tịch thu bất động sản tư nhân, quốc hữu hóa các vật dụng công cộng, và bắt đầu một chiến dịch thắt chặt quản lý lĩnh vực tư nhân như đóng cửa ngành công nghiệp sòng bạc. Castro cũng đã trục xuất nhiều người Mỹ, gồm cả những tên cướp khỏi hòn đảo này. Những biện pháp đó được chính phủ của ông tiến hành dưới danh nghĩa chương trình mà ông đã vạch ra trong Manifiesto de Montecristi khi còn đang ở tại Sierra Maestra. Tuy nhiên, ông đã không thành công trong việc thực hiện hầu hết những điểm quan trọng của chương trình cải cách, như tổ chức bầu cử theo Luật bầu cử năm 1943 trong vòng 18 tháng cầm quyền đầu tiên và tái áp dụng các điều khoản của Hiến pháp 1940 đã bị tạm ngừng hiệu lực từ thời Batista.

Castro bay tới Washington, DC tháng 4 năm 1959, nhưng không được Tổng thống Eisenhower, người đã quyết định tham gia một giải golf chứ không phải gặp Castro, tiếp đón.[14] Castro quay trở lại Cuba sau một loạt những cuộc gặp gỡ với các lãnh đạo Châu Phi-Châu Mỹ tại quận Harlem New York, và sau một bài diễn thuyết về "Cuba và Hoa Kỳ" đã được chuyển tới các trụ sở của Hội đồng quan hệ nước ngoài tại New York.[15] Những vụ hành quyết những người bị nghi là hợp tác với Batista, cùng với việc chiếm đoạt các công ty thuộc sở hữu của người Cuba và sự vi phạm nhanh chóng vào quyền độc lập của báo chí, trên danh nghĩa là ấn bản phụ thuộc các liên đoàn ủng hộ cách mạng,[10] khiến mọi người đặt ra nghi ngờ về bản chất của chính phủ mới. Thái độ đối với cuộc cách mạng Cuba cả tại Cuba và tại Hoa Kỳ đều thay đổi nhanh chóng. Việc quốc hữu hóa các công ty thuộc sở hữu Hoa Kỳ (giá trị ước tính năm 1959 là 1 tỷ dollar[cần dẫn nguồn]) nhanh chóng gây ra tình trạng thù địch bên trong chính quyền Eisenhower. Người Cuba bắt đầu ồ ạt rời khỏi đất nước và hình thành nên một cộng đồng trưởng giả nước ngoài tại Miami. Nhiều người căm giận chính phủ cách mạng của Castro bởi tài sản của họ tại Cuba đã bị tước đoạt trong số lượng những vụ "paredones", hành quyết những người phản đối chính phủ, ngày càng tăng trong nước. Người Cuba nhanh chóng thành lập một nhóm lobby chính trị hùng mạnh tại Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ dần có thái độ thù địch với Cuba trong năm 1959. Điều này, tới lượt nó lại ảnh hưởng tới động thái của Castro quay lưng lại với các phái tự do trong phong trào cách mạng và ủng hộ các cá nhân theo đường lối Mác xít cứng rắn trong chính phủ, đáng chú ý nhất là Che Guevara, dù giả thuyết này còn bị tranh luận. Tháng 10 năm 1959, Castro công khai tuyên bố tình cảm của mình với Chủ nghĩa cộng sản, dù ông vẫn chưa tuyên bố mình là một người cộng sản, trong lúc những phe phái tự do và chống cộng khác trong chính phủ bị thanh trừng. Nhiều người ban đầu ủng hộ cách mạng đã phải bỏ chạy khỏi đất nước gia nhập cộng đồng tha hương tại Miami. Tháng 3 năm 1960, thỏa thuận viện trợ đầu tiên được ký với Liên bang Xô viết. Trong bối cảnh Chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ coi việc thiết lập căn cứ ảnh hưởng của Liên xô tại Châu Mỹ là một mối đe dọa và lập kế hoạch lật đổ Castro (xem Kế hoạch Cuba). Cuối năm 1960, một lệnh cấm vận thương mại được áp đặt, càng làm tăng cường mối quan hệ của Castro với Liên bang Xô viết. Cùng lúc ấy, chính quyền Mỹ cho phép thực hiện các kế hoạch xâm lược Cuba của những người Cuba tại Floria, lợi dụng hoàn cảnh các cuộc nổi dậy chống Castro vừa bị đàn áp (xem một số chi tiết và tham khảo tại Chiến tranh chống các băng đảngSự kiện Vịnh Con lợn). Kết quả là sự thất bại thảm hại của Sự kiện Vịnh Con lợn tháng 4 năm 1961. Tổng thống John Kennedy rút lại lời hứa hỗ trợ không quân của Hoa Kỳ cho lực lượng xâm lược ở những phút cuối cùng và những người nổi dậy chống Castro đã không có được nguồn tài lực cần thiét. Kennedy từ chối can thiệp quân sự trực tiếp từ Mỹ và các lực lượng xâm lược bị đánh tan tác. Sự kiện này khiến Castro nhanh chóng tuyên bố Cuba là một nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, và ông là một người theo chủ nghĩa Mác xít-Lêninít tháng 5 năm 1961.

Cuba của chủ nghĩa Mác-Lênin[sửa | sửa mã nguồn]

Bức không ảnh chụp từ máy bay trinh sát U-2 tháng 10 năm 1962, kèm theo thuyết minh về các vị trí nghi ngờ đặt lên lửa của Liên Xô, một trong những nguyên cớ dẫn đến chính sách cấm vận của Hoa Kỳ chống Cuba

Một trong những kết quả chiến lược của liên minh Cuba-Xô viết là quyết định đặt các tên lửa đạn đạo tầm trung (MRBMs) Xô viết tại Cuba, gây ra cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962, trong đó chính quyền John F. Kennedy đã đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân với Liên bang Xô viết trừ khi họ rút số tên lửa đó. Ý tưởng đặt tên lửa tại Cuba được đưa ra bởi Castro hoặc Khrushchev, nhưng được Liên bang Xô viết đồng ý với lý do rằng Hoa Kỳ có tên lửa đặt tại Thổ Nhĩ Kỳ ở Trung Đông, vì thế đe dọa trực tiếp tới an ninh Liên xô. Chỉ vài phút trước khi chiếc tàu chở tên lửa Liên xô chạm tới vành đai phong tỏa của Hoa Kỳ, người Xô viết đã quyết định lùi bước, và ký một thỏa thuận với Kennedy. Tất cả các tên lửa đều được rút khỏi Cuba, nhưng cùng lúc ấy Hoa Kỳ phải rút tên lửa của mình ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ và những nơi khác tại Trung Đông. Tuy nhiên, Kennedy không chịu mất mặt bằng cách thực hiện thỏa thuận ấy ngay lập tức, mà chỉ chịu đồng ý sẽ rút tên lửa sau vài tháng.

Một kết quả khác là Kennedy đồng ý không xâm lược Cuba trong tương lai. Sau cuộc khủng hoảng đó, liên lạc đã được nối lại giữa Hoa Kỳ và Castro, dẫn tới việc trả tự do cho những chiến binh chống Castro đã bị bắt trong Sự kiện Vịnh Con lợn đổi lấy một gói viện trợ. Tuy nhiên, vào năm 1963 quan hệ một lần nữa xấu đi khi Castro đưa Cuba theo một hệ thống hoàn toàn cộng sản đúng hình thức của Liên bang Xô viết. Hoa Kỳ áp đặt một lệnh cấm vận ngoại giao và thương mại hoàn toàn lên Cuba. Ở thời điểm ấy, ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Mỹ Latinh đủ mạnh để khiến lệnh cấm vận có ảnh hưởng mạnh và Cuba buộc phải chuyển tất cả quan hệ thương mại của mình sang Liên xô và các nước đồng minh của Liên xô.

Năm 1965, Castro sáp nhập các tổ chức cách mạng của mình với Đảng Cộng sản, và ông trở thành Tổng thư ký đảng này, Blas Roca là Phó tổng thư ký; sau này được kế nhiệm bởi Raúl Castro, người với tư cách Bộ trưởng Quốc phòng và đồng minh thân tín nhất của Fidel đã trở thành nhân vật số hai trong chính phủ từ thời điểm ấy. Vị trí của Raúl Castro càng được củng cố với sự ra đi của Che Guevara để thực hiện mong ước không thành công khuấy động các phong trào nổi dậy tại Congo, và sau đó là Bolivia, nơi ông bị giết hại năm 1967. Osvaldo Dorticós Torrado, Tổng thống Cuba từ 1959 tới 1976, chỉ mang tính đại diện và có ít quyền lực. Castro đưa ra một hiến pháp mới năm 1976 theo đó ông trở thành Tổng thống, trong khi vẫn giữ chức chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Trong thập kỷ 1970, Castro bước ra vũ đài quốc tế với tư cách người phát ngôn hàng đầu của các chính phủ “chống chủ nghĩa đế quốc” của Thế giới thứ ba. Ở mức độ cụ thể hơn, ông đã cung cấp trợ giúp quân sự quý giá cho những lực lượng ủng hộ Xô viết tại Angola, Ethiopia, Yemen và các điểm xung đột tại Châu Phi và Trung Đông khác. Các lực lượng Cuba đóng vai trò quyết định trong việc giúp đỡ các lực lượng MPLA giành chiến thắng trong Nội chiến Angola năm 1975. Dù khoản tiền duy trì các đội quân viễn chinh đó do Liên Xô chi trả, chúng vẫn là một lực cản lớn với nền kinh tế và nhân lực Cuba. Cuba cũng bị ảnh hưởng bởi sự lệ thuộc của nền kinh tế vào xuất khẩu đường. Người Liên Xô buộc phải cung cấp thêm viện trợ kinh tế bằng cách mua toàn bộ sản lượng đường do nước này sản xuất, dù Liên xô có đủ củ cải đường đáp ứng cho nhu cầu của mình. Đổi lại những người Xô viết cung cấp cho Cuba nhiên liệu, bởi nước này không thể mua được nó từ bất kỳ một nguồn nào khác.

Sự phụ thuộc của kinh tế Cuba vào Liên bang Xô viết càng trở nên sâu sắc khi Castro kiên quyết xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa ở Cuba. Mong ước này gồm một hệ thống chăm sóc y tế và giáo dục miễn phí cho toàn bộ người dân. Trong suốt thập niên 1970 và 1980, người Xô viết chịu cung cấp viện trợ để đổi lấy một đồng minh chiến lược ngay cạnh Hoa Kỳ và một giá trị tuyên truyền vô giá về thanh thế to lớn của Castro tại các nước đang phát triển.

Fidel CastroWojciech Jaruzelski, Tổng tham mưu trưởng quân đội Cộng hòa nhân dân Ba Lan, tháng 5 năm 1972

Tới thập niên 1970, khả năng giữ Cuba bị cô lập của Hoa Kỳ đã sụt giảm. Cuba đã bị trục xuất khỏi Tổ chức các nước Châu Mỹ năm 1962 và tổ chức này đã hợp tác với Hoa Kỳ tẩy chay thương mại với Cuba trong thập kỷ sau đó, nhưng vào năm 1975, Tổ chức các nước Châu Mỹ dỡ bỏ mọi lệnh cấm vận chống Cuba và cả Mexico cùng Canada đều thiết lập quan hệ thân cận với Cuba. Cả hai nước đều tuyên bố họ hy vọng bồi dưỡng sự tự do hóa tại Cuba bằng cách cho phép các liên hệ thương mại, văn hóa và ngoại giao được nối lại — tuy nhiên, về mặt này họ đã phải thất vọng vì không một hành động đàn áp đối lập nào trong nước Cuba được giảm nhẹ đáng kể. Castro quả thực có ngừng công khai ủng hộ các phong trào nổi dậy chống các chính phủ Mỹ Latinh, dù các nhóm ủng hộ Castro tiếp tục chiến đấu chống lại nền độc tài khi ấy đang hiện diện ở hầu hết các nước Mỹ Latinh.

Cộng đồng Cuba hải ngoại tại Hoa Kỳ đã phát triển về số lượng, tài sản và sức mạnh và đã chính trị hóa các yếu tố để ngăn cản sự bình thường hóa quan hệ của Hoa Kỳ với Cuba. Tuy nhiên, những nỗ lực của người Cuba hải ngoại nhằm thành lập một phong trào chống Castro bên trong Cuba, không mang lại nhiều thành công. Chủ nhật, ngày 6 tháng 4 năm 1980, 7.000 người Cuba lao vào đại sứ quán Peru tại La Habana xin tị nạn chính trị. Một trong những người đã vào đại sứ quán kể lại những trải nghiệm của mình trong "Những ngày tại Đại sứ quán" (xuất bản mùng 8 tháng 6 năm 2007). Thứ hai ngày 7 tháng 4, chính phủ Cuba cho phép những người Cuba tị nạn trong Đại sứ quán Peru được di cư.[16] Ngày 16 tháng 4 500 công dân Cuba rời Đại sứ quán Peru tới Costa Rica. Ngày 21 tháng 4 nhiều người trong số đó bắt đầu tới Miami bằng thuyền tư nhân và được Bộ ngoại giao Mỹ cứu trợ ngày 23 tháng 4. Tuy nhiên, cuộc di tản bằng tàu vẫn tiếp tục, bởi Castro cho phép bất kỳ ai muốn rời đất nước được ra đi tại cảng Mariel và cuộc di tản này đã được gọi là Sự kiện Mariel. Tổng cộng, hơn 125.000 người Cuba đã di cư sang Hoa Kỳ trước khi làn sóng tàu di cư chấm dứt ngày 15 tháng 6.[17]

Cuba thời hậu chiến tranh lạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xe buýt "Con lạc đà Cuba" được cải tiến từ xe đầu kéo, phương tiện giao thông công cộng độc đáo của Cuba thời hậu chiến tranh lạnh

Sự sụp đổ của Liên xô năm 1991 khiến nền kinh tế Cuba bị ảnh hưởng nặng nề. Nó dẫn tới một cuộc di tản lớn khác tới Hoa Kỳ năm 1994, nhưng cuối cùng đã giảm xuống mức vài nghìn người một năm theo một thỏa thuận Hoa Kỳ-Cuba. Một lần nữa tăng lên trong giai đoạn 2004-06 dù ở mức thấp hơn nhiều so với trước đó. Danh tiếng của Castro đã được thử thách thật sự với hậu quả của sự tan vỡ Liên bang Xô viết, dẫn tới cắt bỏ các khoản viện trợ, mất thị trường xuất khẩu và mất nguồn cung dầu mỏ với giá rẻ. Nó cũng gây ra, tương tự như tại các quốc gia cộng sản khác, một cuộc khủng hoảng lòng tin với những người tin tưởng rằng Liên bang Xô viết là một hình mẫu “xây dựng chủ nghĩa xã hội” thành công và là một mô hình để các nước khác noi theo. Tuy nhiên, tại Cuba những sự kiện ấy chưa đủ để thuyết phục những người Cộng sản Cuba rằng họ phải tự nguyện rời bỏ quyền lực.

Tới cuối thập kỷ 1990 tình hình trong nước đã được ổn định. Khi ấy Cuba đã ít nhiều có các mối quan hệ kinh tế với hầu hết các quốc gia Mỹ Latinh và đã cải thiện quan hệ với Liên minh Châu Âu, tổ chức này bắt đầu cung cấp viện trợ và các khoản giúp đỡ cho hòn đảo này. Trung Quốc cũng xuất hiện với tư cách một nguồn cung cấp viện trợ mới, thậm chí khi Cuba đã đứng về phía Liên xô trong cuộc Chia rẽ Trung-Xô trong thập kỷ 1960. Cuba cũng tìm thấy các đồng minh mới là Tổng thống Hugo Chávez tại VenezuelaTổng thống Evo Morales của Bolivia, những nước xuất khẩu dầu và khí tự nhiên lớn.

Chuyển giao trách nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Raúl Castro, người kế nhiệm Fidel Castro

Ngày 31 tháng 7 năm 2006, Fidel Castro chuyển giao các chức vụ Chủ tịch Hội đồng nhà nước, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, Tổng thư ký Đảng Cộng sản Cuba và chức vụ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang cho em trai mình là Phó tổng thống thứ nhất, Raúl Castro. Cuộc chuyển giao quyền lực này đã được miêu tả là tạm thời để Castro hồi phục từ cuộc phẫu thuật sau khi phải chịu một cơn "bệnh đường ruột cấp tính gây chảy máu". Fidel Castro quá ốm yếu để tham dự buổi lễ toàn quốc lần thứ 50 kỉ niệm thời điểm con tàu Granma cập đất liền ngày 2 tháng 12 năm 2006, khiến có những đồn đoán cho rằng Castro bị ung thư dạ dày,[18] dù Bác sĩ Tây Ban Nha García Sabrido, sau một cuộc khám xét ngày Giáng sinh, đã nói rằng tình trạng ốm yếu của ông là một vấn đề về tiêu hóa và không phải ung thư giai đoạn cuối.[19]

Ngày 31 tháng 7 năm 2007, băng hình cuộc gặp của Castro với Tổng thống Venezuela Hugo Chávez đã được phát sóng, theo các báo cáo của truyền thông quốc tế, Castro "tỏ ra yếu ớt nhưng khỏe hơn vài tháng trước",[20] và nhà lãnh đạo Cuba đã có một cuộc nói chuyện điện thoại kéo dài đáng ngạc nhiên trên buổi nói chuyện trên đài của Chávez Aló Presidente tháng sau đó.[21] Dù những người trung thành với Castro trong chính phủ Cuba đã nói rằng ông sẽ vẫn ra tranh cử trong cuộc bầu cử năm 2008 vào Quốc hội Cuba, vẫn có những nghi ngờ về việc ông sẽ tiếp tục hay thậm chí có khả năng quay lại cầm quyền hay không.[22]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chính trị Cuba
Quảng trường Cách mạng: Đài kỷ niệm José Martí do Enrique Luis Varela thiết kế, điêu khắc của Juan José Sicre và hoàn thành năm 1958.[23]

Sau khi Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa được ban hành năm 1976, được thông qua mà không cần tuân thủ các quy tắc do Hiến pháp năm 1940 đề ra, Cộng hòa Cuba đã được xác đinh là một nhà nước xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp này đã được thay thế bằng Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa năm 1992, hiến pháp hiện nay, tuyên bố nhà nước được dẫn dắt bởi các tư tưởng của José Martí, và các tư tưởng chính trị của Mác, EngelsLênin.[24] Hiến pháp hiện nay cũng quy định trách nhiệm của Đảng Cộng sản Cuba (PCC) là "lực lượng lãnh đạo xã hội và đất nước."[24] Tổng thư ký Đảng Cộng sản, Fidel Castro, hiện là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (Tổng thống Cuba) và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (thỉnh thoảng còn được gọi là Thủ tướng Cuba).[25] Các thành viên của cả hai hội đồng đều do Quốc hội Quyền lực Nhân dân bầu.[26] Tổng thống Cuba, người cũng do quốc hội bầu, hoạt động với nhiệm kỳ năm năm và không có điều khoản hạn chế số nhiệm kỳ được phục vụ.[26] Fidel Castro đã là Tổng thống từ khi Hiến pháp được thông qua năm 1976 khi ông thay thế Osvaldo Dorticós Torrado. Tòa án tối cao Cuba là nhánh tư pháp cao nhất của chính phủ. Đây cũng là tòa đưa ra phán xét cuối cùng đối với các phiên phúc thẩm từ các tòa án địa phương.

Cơ quan lập pháp Cuba, Quốc hội Quyền lực Nhân dân (Asamblea Nacional de Poder Popular), là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao và có 609 hoạt động theo nhiệm kỳ 5 năm.[26] Quốc hội họp hai phiên mỗi năm, giữa hai phiên họp quyền lập pháp do Hội đồng Bộ trưởng gồm 21 thành viên nắm giữ. Các ứng cử viên quốc hội được phê chuẩn bởi hội nghị nhân dân. Tất cả các công dân Cuba trên mười sáu tuổi và không phạm tội hình sự đều được đi bầu cử. Điều 131 Hiến pháp nói rằng việc bầu cử sẽ được tiến hành "tự do, bình đẳng, và theo hình thức bỏ phiếu kín". Điều 136 quy định: "Để các đại biểu hay đại diện được coi là trúng cử họ phải có hơn nửa số phiếu bầu hợp lệ tại khu vực bầu cử". Bầu cử được tiến hành theo hình thức bỏ phiếu kín và phiếu được kiểm công khai. Những con số phiếu bầu cao bất thường dành cho một cá nhân nào đó sẽ được tái kiểm bởi những quan sát viên không đảng phái, độc lập, hay không thuộc các cơ quan nhà nước. Các ứng cử viên được lựa chọn tại địa phương từ nhiều ứng cử viiên trước khi có được sự phê chuẩn chính thức của ủy ban bầu cử. Sau cuộc bầu cử, chỉ có một ứng cử viên cho mỗi ghế, với đa số phiếu, được bầu.

Bản đồ hành chính Cuba 1994

Không một đảng chính trị nào được phép đưa ra ứng cử viên hay vận động tranh cử trên hòn đảo, dù Đảng Cộng sản Cuba đã tổ chức năm cuộc Đại hội đại biểu từ năm 1975. Năm 1997, đảng tuyên bố có 780.000 đảng viên, và đại diện của đảng chiếm ít nhất một nửa các Hội đồng quốc gia và Quốc hội. CÁc vị trí còn lại thuộc các ứng cử viên được gọi là không đảng phái. Các đảng chính trị khác thực hiện chiến dịch tranh cử và vận động tài chính ở nước ngoài, còn các hoạt động của các nhóm đối lập bị hạn chế và coi là bất hợp pháp. Tuy hiến pháp Cuba có quy định cho phép tự do ngôn luận, những quyền này bị hạn chế theo Điều 62, nói rằng "Không một quyền tự do nào được ghi nhận cho các công dân có thể tiến hành hoạt động chống đối.... sự tồn tại và các mục đích của nhà nước xã hội chủ nghĩa, hay trái ngược với quyết định của nhân dân Cuba về việc xây dựng chủ nghĩa xã hộichủ nghĩa cộng sản. Những hành động vi phạm nguyên tắc này có thể bị xét xử theo pháp luật." Bởi những phương tiện sản xuất nằm trong tay nhà nước và dưới sự kiểm soát của chính phủ, đã có nhiều trường hợp vi phạm nguyên tắc này khiến người vi phạm mất việc làm.

Các thành viên Đảng Cộng sản Cuba tham gia vào Các Ủy ban Bảo vệ Cách mạng toàn dân, đóng vai trò chủ chốt trong cuộc sống hàng ngày. Các nhóm này được hình thành để phối hợp với các định chế công cộng, đảm bảo rằng người dân trung thành với mục tiêu chủ nghĩa xã hội của chính phủ, và hành động như một người giám sát với hàng xóm chống lại các hoạt động "phản cách mạng".

Từ khi Cuba trở thành một nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa năm 1961, chính phủ Hoa Kỳ đã đưa ra nhiều biện pháp mang tính chính sách tạo ra các hiệu ứng mạnh cả về chính trị và kinh tế với hòn đảo này; chúng được nghiên cứu kỹ để thực hiện mục đích lật đổ giới lãnh đạo và khuyến khích Cuba tiến hành thay đổi chính trị theo hướng đa đảng. Biện pháp đáng chú nhất trong số đó là lệnh Cấm vận Hoa Kỳ chống CubaĐạo luật Helms-Burton sau đó năm 1996. Nhiều người tin rằng chính phủ Cuba không đảm bảo các yêu cầu tối thiểu về dân chủ, đặc biệt vì thiếu hệ thống bầu cử đa đảng và sự hạn chế quyền tự do ngôn luận khiến ứng cử viên không thể trình bày quan điểm của mình trong chiến dịch tranh cử.[27] Chính phủ Cuba, những người ủng hộ họ và các nhà quan sát khác bên trong Cuba cho rằng Cuba có một hình thức dân chủ riêng, đưa ra lý luận là sự tham gia rộng rãi vào quá trình đề cử ở cả tầm vóc quốc gia và khu vực.

Nhân quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nhân quyền tại Cuba

Chính phủ Cuba đã bị buộc tội về nhiều hành động vi phạm nhân quyền, gồm tra tấn, tùy tiện bỏ tù, xét xử không công bằng và hành quyết không xét xử.[28] Những người hoạt động đối lập than phiền bị sách nhiễu và tra tấn[29] Tuy chính phủ Cuba đã đình hoàn hình phạt tử hình năm 2001, nhưng nó vẫn không được áp dụng với những thủ phạm của một vụ không tặc có vũ trang hai năm sau đó. Các nhóm như Ân xá Quốc tếHuman Rights Watch đã đưa ra những báo cáo về các "tù nhân lương tâm" Cuba.[30] Những người đối lập cáo buộc chính phủ Cuba đàn áp tự do biểu thị quan điểm bằng cách hạn chế truy cập Internet.[31] Chính phủ Cuba từ chối cho Ủy ban Quốc tế của Hội Chữ thập đổ tiếp cận với các tù nhân và các nhóm nhân quyền của họ gồm cả việc cấm Ân xá Quốc tế hoạt động tại Cuba.

Liên đoàn thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Có các liên đoàn tại Cuba, với số thành viên lên tới 98% nhân lực hòn đảo này. Các liên đoàn không đăng ký với bất kỳ một cơ quan nhà nước nào, và tự lấy kinh phí hoạt động từ nguồn đóng góp thành viên hàng tháng. Những người ủng hộ họ cho rằng các viên chức liên đoàn được bầu lên trên cơ sở tự do, và có nhiều quan điểm chính trị bên trong mỗi liên đoàn.[32] Tuy nhiên, tất cả các liên đoàn đều là một phần của một tổ chức được gọi là Confederación de Trabajadores Cubanos (Hiệp hội Công nhân Cuba, CTC), hội này thực sự có những mối quan hệ mật thiết với nhà nước và Đảng Cộng sản. Những người ủng hộ cho rằng CTC cho phép công nhân chuyển ý kiến lên chính phủ; những người đối lập lại cho rằng chính phủ sử dụng nó để kiểm soát các công đoàn thương mại và chỉ định các thành viên lãnh đạo công đoàn. Quyền tự do bày tỏ ý kiến của công nhân cũng là một vấn đề được tranh luận. Những người ủng hộ hệ thống cho rằng những ý kiến của công nhân trên thực tế đã hình thành nên chính sách của chính phủ trong nhiều hoàn cảnh, như đề xuất cải cách thuế năm 1993,[32] trong khi phe đối lập, đưa ra những nghiên cứu của các tổ chức lao động quốc tế cho thấy công nhân bị buộc phải thề nguyền trung thành với các lý tưởng của Đảng Cộng sản, và cho rằng chính phủ chi phối một cách có hệ thống và cản trở các nhà hoạt động công đoàn, trong khi vẫn ngăn cấm việc thành lập các liên đoàn thương mại độc lập (không thuộc CTC), rằng các lãnh đạo các liên đoàn độc lập đã bị bỏ tù, và rằng quyền đình công của công nhân không được ghi nhận trong luật.[33]

Phân chia hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Cuba có ba cấp hành chính là trung ương, tỉnh (provincias) và hạt (municipios). Cấp tỉnh có 14 đơn vị, cấp hạt có 169 đơn vị. Có một hạt đặc biệt, được xếp ngang với cấp tỉnh, đó là Isla de la Juventud. Trước kia Cuba chỉ có sáu tỉnh: Pinar del Río, Habana, Matanzas, Las Villas, Camagüey và Oriente. Cách phân chia hành chính hiện nay rất giống với kiểu tỉnh quân sự Tây Ban Nha trong những cuộc chiến tranh giành độc lập của Cuba, khi hầu hết những vùng có nhiều rắc rối đều được chia nhỏ.

CubaSubdivisions.png

  1. Pinar del Río
  2. Artemisa
  3. La Habana
  4. Mayabeque
  5. Matanzas
  6. Cienfuegos
  7. Villa Clara
  8. Sancti Spíritus
  1. Ciego de Ávila
  2. Camagüey
  3. Las Tunas
  4. Granma
  5. Holguín
  6. Santiago de Cuba
  7. Guantánamo
  8. Isla de la Juventud

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Địa lý Cuba
Địa hình Cuba và vị trí trong khu vực Trung Mỹ và Caribe

Cuba là một quần đảo nằm tại Biển Caribbean, với tọa độ địa lý 21°3N, 80°00W. Cuba là hòn đảo chính, được bao quanh bởi bốn nhóm đảo lớn. Chúng gồm Colorados, Camagüey, Jardines de la ReinaCanarreos. Hòn đảo chính Cuba chiếm hầu hết diện tích đất nước (105.006 km² hay 40.543 dặm vuông) và là hòn đảo lớn thứ 17 trên thế giới theo diện tích. Hòn đảo lớn thứ hai tại Cuba là Đảo Thanh niên (Isla de la Juventud), tên cũ là Đảo Thông (Isla de la Pinos) ở phía đông nam, với diện tích 3056 km² (1180 dặm vuông). Cuba có tổng diện tích đất liền 110.860 km².

Hòn đảo chính gồm chủ yếu các đồng bằng phẳng tới hơi dốc. Ở cực phía đông nam Sierra Maestra, một rặng núi dốc đứng với điểm cao nhất là Pico Real del Turquino 2.005 mét (6.578 ft). Khí hậu địa phương là nhiệt đới, dù được điều tiết ôn hòa bởi gió mậu dịch. Nói chúng (với biến thiên theo địa phương), có một mùa khô từ tháng 11 tới tháng 4, và một mùa mưa từ tháng 5 tới tháng 10. Nhiệt độ trung bình 21 °C vào tháng 1 và 27 °C vào tháng 7. Cuba nằm trên đường đi của các cơn bão và chúng thường xảy ra nhất trong khoảng từ tháng 9 tới tháng 10. La Habana là thành phố lớn nhất và thủ đô Cuba; các thành phố lớn khác gồm Santiago de CubaCamagüey. Những thị trấn nổi tiếng khác gồm Baracoa từng là khu định cư đầu tiên của người Tây Ban Nha tại Cuba, Trinidad, và một di sản thế giới của UNESCO, and Bayamo.

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Giáo dục tại Cuba
Trường đại học quốc gia Cu ba tại La Habana

Về lịch sử, Cuba từng có tỷ lệ giáo dục và biết chữ cao nhất Mỹ Latinh, cả trước và sau thời kỳ cách mạng.[34] Giáo dục là miễn phí đối với mọi công dân Cuba gồm cả giáo dục đại học. Các định chế giáo dục tư nhân không được phép hoạt động. Phổ cập giáo dục áp dụng với mọi đứa trẻ từ sáu tuổi tới hết mức giáo dục cấp hai căn bản (thường là 15 tuổi) và tất cả học sinh, không cần biết giới tính và sắc tộc, đều mặc đồng phục của trường với màu sắc thể hiện cấp học. Giáo dục tiểu học kéo dài sáu năm, giáo dục trung học cơ sở được chia thành mức căn bản và tiền đại học. Giáo dục cao học được tiến hành tại các trường đại học, các viện, các viện sư phạm và các viện bách khoa. Đại học La Habana được thành lập năm 1728 và có một số trường cao đẳng cũng như đại học khác. Bộ Giáo dục Cao học Cu ba cũng điều hành chương trình Giáo dục Từ xa mở các lớp buổi chiều và buổi tối tại các vùng nông thôn cho các lao động nông nghiệp. Giáo dục được đề cao cả về mặt chính trị và ý thức hệ, và sinh viên bậc cao học được chờ đợi sẽ là người thực hiện các mục tiêu do chính phủ Cuba đề ra.[35]

Sức khoẻ cộng đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Cuba điều hành một mạng lưới y tế quốc gia và đảm trách tất cả các nghĩa vụ thuế và hành chính đối với việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Về lịch sử, Cuba từ lâu đã được xếp hạng một trong những quốc gia có số nhân viên y tế cao và có nhiều đóng góp vào công cuộc chăm sóc sức khỏe cộng đồng thế giới từ thế kỷ 19. Theo những con số thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tuổi thọ và tỷ lệ tử vong trẻ em tại Cuba từng có thể so sánh với các nước công nghiệp phát triển theo các số liệu được thu thập lần đầu năm 1957. Khảo sát chi tiết hơn của WHO về Cuba cho thấy chúng được chuẩn bị bởi mỗi chính phủ[36] và luôn được công bố không thay đổi bởi WHO; vì thế đã có câu hỏi được đặt ra.[37]

Nhánh các bệnh viện dành cho các nhà ngoại giao và khách du lịch riêng biệt với nhánh trên.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đa chủng tộc của người dân Cuba qua một nhóm sinh viên trường Y khoa
Bài chi tiết: Nhân khẩu Cuba

Theo CIA World Factbook, 51% người Cuba là Mulatto (lai da trắng và đen), 37% da trắng, 11% da đen, và 1% Trung Quốc. Các cuộc nghiên cứu DNA trên khắp vùng Antilles đã cho thấy có sự hiện diện của các nhóm neo-Taino trong dân số ở mức độ lớn hơn quan niệm trước kia.[4]

Theo Cuba's Oficina Nacional de Estadisticas ONE 2002 Census, dân số Cuba là 11.177.743 người,[38] trong đó:

  • 5.597.233 nam và
  • 5.580.510 nữ.

Tính theo chủng tộc 7.271.926 da trắng, 1.126.894 da đen và 2.778.923 mulatto (hay mestizo).[39] Số người Trung Quốc tại Cuba chủ yếu là hậu duệ của các lao động đã tới đây trong thế kỷ 19 để xây dựng các tuyến đường sắt và làm việc tại các khu mỏ. Sau cuộc Cách mạng Công nghiệp, nhiều người trong số các lao động này đã ở lại Cuba vì họ không đủ tiền quay lại Trung Quốc.

(Điều tra dân số chính thức Cuba năm 2002)
Tổng Nam Nữ  % của Tổng
Da trắng 7.271.926 3.618.349 3.653.577 65,05%
Da đen 1.126.894 593.876 533.018 10,08%
Mulatto/Mestizo 2.778.923 1.385.008 1.393.915 24,86%[40]
Biểu đồ hình tháp về dân số Cuba năm 2005

Chính phủ Cuba kiểm soát sự di dân vào thủ đô La Habana vì đây là vùng thành thị (nơi sinh sống của gần 20% dân số đất nước) đã quá tải về sử dụng đất, nước, điện, vận tải và các yếu tố hạ tầng đô thị khác. Những người dân di cư nội bộ tới La Habana được đặt biệt hiệu là "Palestinos" (người Palestine); họ chủ yếu tới từ vùng phía đông Oriente.[41] Cuba cũng là nơi sinh sống của một số người không phải gốc Cuba. Có khoảng vài nghìn người tị nạn Bắc Phi ở độ tuổi thiếu niên và nhỏ hơn.[42]

Tỷ lệ sinh của Cuba (9,88 sinh trên 1000 người năm 2006)[43] là một trong những tỷ lệ thấp nhất khu vực Tây Bán Cầu. Tổng dân số đã tăng liên tục từ khoảng 7 triệu người năm 1961 tới hơn 11 triệu hiện nay, nhưng tỷ lệ tăng đã ngừng lại trong vài thập kỷ qua, và gần đây đã quay sang xu hướng giảm, lần đầu tiên chính phủ Cuba đã thông báo trong năm 2006 có hiện tượng giảm dân số từ vụ Di cư Mariel. Sự sụt giảm trong tỷ lệ sinh - từ 3.2 trẻ em trên phụ nữ năm 1970 xuống còn 1.38 năm 2006 - là mức lớn thứ ba ở Tây Bán Cầu, chỉ GuadeloupeJamaica có mức giảm lớn hơn.[44] Cuba, vốn cho phép nạo thai, có tỷ lệ nạo thai 58.6 trên 1000 ca mang thai năm 1996 so với tỷ lệ trung bình vùng Caribbean là 35, tỷ lệ trung bình vùng Mỹ Latinh là 27 (tại Mỹ La tinh hầu như là nạo thai bất hợp pháp), và tỷ lệ trung bình tại Châu  48. Ngoài ra, việc sử dụng biện pháp tránh thai được ước tính khoảng 79% (ở một phần ba phía trên các nước tại Tây Bán Cầu).[45] Với tỷ lệ nạo thai cao, tỷ lệ sinh thấp, và dân số đang già đi, sơ đồ nhân khẩu Cuba rất giống với sơ đồ nhân khẩu các quốc gia cộng sản Đông Âu cũ như Ba Lan hay Ukraine chứ không phải các quốc gia Mỹ Latinh hay Caribbean láng giềng.

Học sinh đang chơi nhảy dây giữa các lớp tại một trường cấp hai vùng thôn quê Cuba

Nhập cư và di cư đã mang lại những hiệu ứng đáng kể trên sơ đồ nhân khẩu học Cuba trong thế kỷ 20. Trong khoảng 1900 và 1930, gần mộ triệu người Tây Ban Nha đã tới nước này. Từ năm 1959, hơn một triệu người đã rời bỏ hòn đảo, chủ yếu đi tới Miami, Florida, nơi có một cộng đồng nhập cư có giáo dục cao và thành công về mặt kinh tế đang sinh sống (Vận động hành lang Cuba-Mỹ).[46] Cuộc di cư xảy ra ngay lập tức sau Cách mạng Cuba chủ yếu thuộc các tầng lớp trung và thượng lưu với đa số người da trắng, vì thế đã dẫn tới một sự thay đổi lớn trong tỷ lệ sinh và chủng tộc trong nhiều nhóm sắc tộc. Tìm cách bình thường hóa sự di cư giữa hai nước - đặc biệt sau sự hỗn loạn xảy ra với vụ Di tản Mariel - Cuba và Hoa Kỳ đã đồng thuận (trong cái ngày nay thường được gọi là Thỏa thuận Clinton-Castro năm 1994[47]) hạn chế sự di cư tới Mỹ. Theo đó, Hoa Kỳ trao một số lượng visa cụ thể cho những người muốn di cư (20.000 từ năm 1994) trong khi những người Cuba được cứu vớt ngoài biển khi di cư bất hợp pháp không có visa sẽ bị trả về Cuba. U.S. law[48] trao cho Tổng chưởng lý quyền quyết định trao quyền cư trú thường xuyên cho những người dân hay công dân Cuba đang tìm cách hợp pháp hóa tình trạng của mình nếu họ đã có mặt tại Hoa Kỳ trong ít nhất một năm sau khi được chấp nhận hay có sự cam kết và được chấp nhận là những người nhập cư; [cần dẫn nguồn] những người di cư bất hợp pháp đó chủ yếu là những người liều mạng và nhanh nhẹn.[49][50] Năm 2005 thêm 7.610 người nhập cư Cuba đã tới Hoa Kỳ tớ ngày 30 tháng 9. [cần dẫn nguồn] Các công dân Cuba cần phải có một giấy phép ra đi trước khi có thể rời đất nước. [cần dẫn nguồn] Human Rights Watch đã chỉ trích các biện pháp hạn chế di cư của Cuba và những cái gọi là giữ trẻ em làm "con tin" nhằm ngăn chặn những người Cuba đi du lịch nước ngoài đào thoát.[51]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tôn giáo tại Cuba

Cuba có nhiều đức tin phản ánh sự đa dạng của các yếu tố văn hóa trên hòn đảo này. Thiên Chúa giáo, được đưa tới đây bởi người Tây Ban Nha hồi đầu thế kỷ 16, là tôn giáo lớn nhất. Sau cách mạng, Cuba đã chính thức trở thành một quốc gia vô thần và ngăn cấm hoạt động tôn giáo. Từ Đại hội Đảng Cộng sản Cuba lần thứ 4 năm 1991, các biện pháp hạn chế đã được nới lỏng và, theo National Catholic Observer, những vi phạm trực tiếp của các định chế nhà nước vào quyền tôn giáo đã được bãi bỏ,[52] dù giáo hội vẫn phải đối mặt với các hạn chế trong liên lạc thư từ và điện tử, và chỉ được nhận quà tặng từ các nguồn tài trợ được nhà nước cho phép.[52] Giáo hội Công giáo La Mã hiện diện thông qua Hội đồng Giám mục Công giáo Cuba (COCC), do Jaime Lucas Ortega y Alamino, Hồng y Tổng Giám mục La Habana lãnh đạo.[cần dẫn nguồn] Tổ chức này có 11 giáo khu, 56 cấp tu sĩ và 24 cấp linh mục. Tháng 1 năm 1998, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã có chuyến thăm lịch sử tới hòn đảo này, theo lời mời của Chính phủ Cuba và Giáo hội Công giáo tại Cuba.

Nét đặc trưng lớn nhất trong tôn giáo Cuba là sự hiện diện của rất nhiều đức tin ở mọi thể loại. Sự đa dạng này có nguồn gốc từ người Tây và Trung Phi, những người đã được đưa tới lao động tại Cuba, và trên thực tế đã tái tạo các tôn giáo Châu Phi của họ. Họ tạo ra nó bằng cách kết hợp các tôn giáo cũ với các yếu tố đức tin trong đạo Thiên Chúa, với kết quả là một thứ tôn giáo rất giống với Umbanda của Brasil. Thiên Chúa giáo thường được thực thi cùng Santería, một sự pha trộn của Thiên Chúa giáo cùng tôn giáo khác, chủ yếu là từ Châu Phi, các đức tin gồm một số tôn giáo thờ cúng. Vị thánh bảo hộ của Cuba, La Virgen de la Caridad del Cobre (Đức mẹ Đồng trinh Cobre) là một thứ đa thần giáo với Santería goddess Ochún. Lễ hội tôn giáo lớn "La Virgen de la Caridad del Cobre" được người Cuba tổ chức hàng năm ngày 8 tháng 9. Các tôn giáo khác cũng hoạt động gồm Palo Monte, và Abakuá, phần lớn các nghi thức tế lễ của chúng được thực hiện bằng các ngôn ngữ Châu Phi.

Tin lành, xuất xứ từ Hoa Kỳ trong thế kỷ 18, luôn có bước tăng trưởng vững chắc trong số tín đồ. 300.000 người Cuban thuộc 54 giáo phái Tin Lành trên hòn đảo này. Tôn giáo chính thống (Pentecostalism) cũng đã phát triển mạnh trong những năm gần đây, và chỉ riêng Assemblies of God đã tuyên bố mình có 100.000 tín đồ. Giáo hội Trưởng lão Cuba tuyên bố có 10.000 tín đồ. Cuba có các cộng đồng Do Thái, Hồi giáo và các thành viên thuộc đức tin Bahá'í nhỏ.[53] La Habana chỉ có ba Hội đường Do Thái và không có một thánh đường Hồi giáo nào[54]. Đa số người Do Thái Cuba là hậu duệ của những người Do Thái Ba Lan và Nga bỏ chạy khỏi cuộc tàn sát người Do Thái đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, cũng có một số lượng đáng kể người Do Thái Sephardic tại Cuba, họ có nguồn gốc từ Thổ Nhĩ Kỳ (chủ yếu tại IstanbulThrace). Đa số những người Do Thái Sephardic sống tại các tỉnh, dù họ thực sự có duy trì một hội đường tại La Habana. Trong thập niên 1960, tới 8.000 người Do Thái đã di cư sang Miami. Trong thập niên 1990, xấp xỉ 400 người Do Thái Cuba đã quay trở về Israel trong cuộc di cư được sắp xếp sử dụng visa do các quốc gia thông cảm với nguyện vọng về Israel của họ cung cấp.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Văn hóa Cuba
Sân một trong những bảo tàng miễn phí tại La Habana, 'Casa de Simón Bolívar'

Văn hóa Cuba chịu ảnh hưởng nhiều ở thực tế đây là đất nước tiếp thu và hòa nhập nhiều nền văn hóa, chủ yếu từ Tây Ban Nha và Châu Phi. Nước này là nơi sản sinh ra khá nhiều tác phẩm văn học, gồm cả từ những nhà văn không phải người Cuba như Stephen Crane, và Ernest Hemingway.

Thể thao là niềm đam mê quốc gia của Cuba. Vì những mối liên hệ lịch sử với Hoa Kỳ, nhiều người Cuba yêu thích những môn thể thao phổ biến tại Bắc Mỹ, chứ không phải các môn thể thao truyền thống tại các nước Mỹ Latinh khác. Bóng chày là môn thể thao được ưa thích nhất tại đây; các môn thể thao và giải trí khác ở Cuba gồm bóng rổ, bóng chuyềnđiền kinh. Cuba rất mạnh trong môn đấm bốc nghiệp dư, thường đoạt huy chương vàng tại các cuộc thi quốc tế lớn.

Âm nhạc Cuba rất phong phú và là khía cạnh nổi tiếng nhất của văn hóa. "Hình thức trung tâm" của âm nhạc này là Son, đã trở thành nền tảng của nhiều phong cách âm nhạc khác như salsa, rumbamambo và một biến thể tiết tấu chậm hơn của mambo là cha-cha-cha. Âm nhạc Rumba có nguồn gốc từ văn hóa Châu Phi-Cuba thời kỳ đầu. Tres cũng được sáng tạo tại Cuba, nhưng các nhạc cụ Cuba truyền thống khác có nguồn gốc Châu Phi và/hay Taíno như maraca, güiro, marímba và nhiều loại trống gỗ gồm cả mayohuacan. Âm nhạc dân gian Cuba ở mọi phong cách được thưởng thức và yêu thích trên toàn thế giới. Âm nhạc cổ điển Cuba, với nhiều ảnh hưởng sâu từ Châu Âu và Châu Phi, với các tác phẩm cho giao hưởng cũng như độc tấu, đã được cả thế giới biết tới, với nhà soạn nhạc như Ernesto Lecuona.

Môn Bóng chày rất được người Cuba ưa thích và được coi là môn thể thao dân tộc

Văn học Cuba đã bắt đầu có tiếng vang từ đầu thế kỷ 19. Chủ đề chủ chốt của thời kỳ ấy là độc lập và tự do đã được thể hiện qua các tác phẩm của José Martí, người lãnh đạo phong trào Hiện đại trong văn học Cuba. Các tác gia như Nicolás GuillénJose Z. Tallet coi văn học là phương tiện phản kháng xã hội. Các bài thơ và những cuốn tiểu thuyết của José Lezama Lima cũng để lại nhiều ảnh hưởng. Các tác gia như Reinaldo Arenas, Guillermo Cabrera Infante, Pedro Juan Gutiérrez, Leonardo Padura Fuentes, và Ronaldo Menedez đã nhận được sự công nhận của thế gới trong thời kỳ hậu cách mạng, dù nhiều tác gia buộc phải rời bỏ đất nước vì sự kiểm soát hệ tư tưởng truyền thông của các cơ quan quyền lực Cuba.

Ẩm thực Cuba là hỗn hợp của ẩm thực Tây Ban Nha và các phong cách ẩm thực Caribbean. Công thức chế biến món ăn của Cuba sử dụng cùng loại hương vị và kỹ thuật với Tây Ban Nha, với một số ảnh hưởng vùng Caribbean trong gia vị và mùi vị. Một bữa ăn truyền thống của Cuba sẽ không bao giờ được phục vụ theo kiểu từng món một; mà tất cả thức ăn sẽ được đưa ra cùng lúc. Bữa ăn đặc trưng gồm chuối lá, đậu đen (black bean) và gạo, ropa vieja (thịt bò thái nhỏ), bánh mì Cuba, thịt lợn với hành, và hoa quả nhiệt đới. Đậu đen và gạo, được gọi là moros y cristianos (hay nói gọn là moros), và chuối lá là thực phẩm chủ lực trong bữa ăn của người Cuba. Nhiều món thị được nấu chín từ từ với nước chấm nhạt. Tỏi, thìa là Ai Cập, oreganolá nguyệt quế là các loại gia vị được sử dụng nhiều.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ hợp khách sạn du lịch trên bờ vịnh La Habana.
Bài chính: Kinh tế Cuba, Du lịch Cuba, Chế độ phân phối tại Cuba, Sociolismo

Chính phủ Cuba tuân theo các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa trong tổ chức nền kinh tế kế hoạch hóa to lớn do nhà nước kiểm soát của họ. Đa số các phương tiện sản xuất thuộc sở hữu và sự điều hành của chính phủ và đa số lực lượng lao động làm việc cho các công ty nhà nước. Những năm gần đây, đã có xu hướng chuyển dịch lao động sang lĩnh vực tư nhân. Năm 2006, lĩnh vực công cộng sử dụng 78% lực lượng lao động và tư nhân sử dụng 22% so với tỷ lệ này năm 1981 là 91.8% và 8.2%.[55] Đầu tư vốn bị hạn chế và buộc phải được sự đồng ý của chính phủ. Chính phủ Cuba áp đặt hầu hết các loại giá cả và khẩu phần lương thực cho các công dân. Hơn nữa, bất kỳ một công ty nào muốn thuê nhân công Cuba phải trả tiền cho chính phủ Cuba, và chính phủ sẽ trả tiền trực tiếp cho người đó bằng đồng peso Cuba.

Bắt đầu từ cuối thập niên 1980, các khoản viện trợ của Xô viết cho nền kinh tế quản lý nhà nước của Cuba bắt đầu cạn kiệt. Trước khi Liên bang Xô viết sụp đổ, Cuba phụ thuộc vào Moskva về thị trường xuất khẩu và những khoản viện trợ tối cần thiết. Người Xô viết từng trả giá cao cho sản phẩm đường của Cuba trong khi cung cấp dầu mỏ cho nước này với giá thấp hơn thị trường. Sự biến mất của các khoản trợ cấp đó đã khiến nền kinh tế Cuba rơi vào một giai đoạn suy thoái nhanh chóng, được gọi là Giai đoạn Đặc biệt tại Cuba. Có thời điểm, Cuba nhận được các khoản viện trợ lên tới sáu tỷ dollar Mỹ.

Năm 1992, Hoa Kỳ thắt chặt lệnh cấm vận thương mại. Một số người tin rằng điều này có thể đã tới sự sụt giảm tiêu chuẩn sống tại Cuba và chạm tới điểm khủng hoảng chỉ trong vòng một năm.[56]

Tương tự các quốc gia xã hội chủ nghĩa và có xu hướng xã hội chủ nghĩa sau sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, Cuba đưa ra các biện pháp theo định hướng thị trường tự do giới hạn nhằm giải quyết tình trạng khan hiếm nghiêm trọng thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng, và dịch vụ xảy ra khi các khoản viện trợ của Liên xô chấm dứt. Những biện pháp này gồm cho phép một số công ty tư nhân hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ và chế tạo, hợp pháp hóa sự sử dụng đồng dollar Mỹ trong thương mại và khuyến khích du lịch. Năm 1996 du lịch đã vượt qua ngành công nghiệp mía đường để trở thành nguồn thu ngoại tệ lớn nhất cho Cuba. Cuba đã tăng gấp ba thị phần du lịch của mình tại Caribbean trong thập kỷ qua, với sự đầu tư to lớn vào hạ tầng du lịch, tỷ lệ tăng trưởng này được dự đoán sẽ còn tiếp diễn.[57] 1.9 triệu du khách đã tới Cuba năm 2003 chủ yếu từ Canada và Liên minh Châu Âu mang lại khoản tiền 2.1 tỷ dollar cho nước này.[58] Sự tăng trưởng nhanh chóng của lĩnh vực du lịch trong Giai đoạn Đặc biệt đã tác động mạnh mẽ tới kinh tế xã hội Cuba. Nó đã dẫn tới dự báo về sự xuất hiện của một nền kinh tế hai thành phần[59] và tạo điều kiện thuận lợi cho một kiểu du lịch apartheid nhà nước trên hòn đảo này.

Chính phủ Cuba đã phát triển đáng kể khả năng Du lịch y tế của họ, coi đó là một trong những phương tiện quan trọng mang lại thu nhập cho đất nước. Trong nhiều năm, Cuba đã phát triển các bệnh viện đặc biệt điều trị bệnh riêng cho người ngoại quốc và các nhà ngoại giao nước ngoài. Mỗi năm, hàng ngàn người Châu Âu, người Mỹ Latinh, người Canada và người Mỹ tới đây để sử dụng các dịch vụ chăm sóc y tế có giá cả thấp hơn tới 80% so với tại Hoa Kỳ.

Xì gà La Habana có thương hiệu nổi tiếng thế giới cũng là nguồn thu ngoại tệ đáng kể của Cuba

Từ cuộc Cách mạng Cuba năm 1959, tiêu chuẩn sống người dân Cuba luôn trượt theo một vòng xoáy đi xuống. Năm 1962, chính phủ đưa ra chính sách phân phối lương thực, càng trở nên gắt gao sau sự sụp đổ của Liên Xô. Ngoài ra, Cuba đã trải qua tình trạng thiếu hụt nhà ở vì chính phủ không thể đáp ứng nổi sự gia tăng nhu cầu. Tới cuối năm 2001, nghiên cứu cho thấy mức sống trung bình tại Cuba thấp hơn giai đoạn Xô viết. Những vấn đề chủ chốt là nhà nước không thể trả lương đáp ứng nhu cầu của người lao động và hệ thống phân phối luôn bị ám ảnh thường xuyên với tình trạng thiếu hụt hàng hóa. Khi số lượng hàng hóa phân phối giảm suát, người Cuba dần phải quay sang chợ đen để có được những sản phẩm căn bản: quần áo, thực phẩm, đồ dùng gia đình, vật dụng chăm sóc sức khoẻ. Khu vực không chính thức này được nhiều người dân Cuba gọi là sociolismo. Ngoài ra, tình trạng tham nhũng nhỏ trong các ngành công nghiệp nhà nước, như ăn cắp tài sản nhà nước để bán ra chợ đen, cũng thường xảy ra.[60] Trong những năm gần đây, sự nổi lên của Venezuela với vị Tổng thống Dân chủ Xã hội Hugo Chávez khiến Cuba có được nhiều khoản viện trợ từ nước này giúp cải thiện nền kinh tế. Viện trợ của Venezuela cho Cuba chủ yếu thông qua khoản cung cấp lên tới 80.000 barrel dầu mỏ mỗi ngày đổi lấy lao động chuyên gia và các mặt hàng nông nghiệp. Trong nhiều năm qua, Cuba đã thu hồi lại một số biện pháp định hướng kinh tế thị trường đã được đưa ra trong thập kỷ 1990. Năm 2004, các quan chức Cuba đã công khai ủng hộ đồng Euro trở thành "đối trọng toàn cầu với đồng dollar Mỹ", và hạn chế đồng dollar trong dự trữ cũng như trong thanh toán thương mại. Những hạn chế ngày càng tăng của chính phủ Hoa Kỳ về đi lại của những người Mỹ gốc Cuba cũng như khoản tiền họ được phép mang về Cuba càng khiến chính phủ Cuba tăng kiểm soát sự lưu chuyển đồng dollar trong nền kinh tế. Trong thập kỷ qua, người Cuba nhận được khoảng 600 triệu tới 1 tỷ dollar hàng năm, chủ yếu từ các thành viên gia đình đang sống tại Mỹ.[58]. Con số này bị ảnh hưởng bởi thực tế chính phủ Mỹ cấm các công dân của mình gửi quá 1.200 về Cuba.

Biểu đồ tăng trưởng GDP của Cuba trong 60 năm (1945-2005) so với một số nước láng giềng nhỏ quanh vịnh Mexico

Năm 2005 Cuba xuất khẩu hàng hóa trị giá 2.4 tỷ dollar, xếp hạng 114 trên 226 quốc gia trên thế giới, và nhập khẩu 6.9 tỷ dollar, xếp hạng 87 trên 226 nước.[61] Các đối tác thương mại chính của nước này là Hà Lan, Canada và Trung Quốc; các đối tác nhập khẩu chính là Venezuela, Tây Ban Nha và Hoa Kỳ.[62] Các mặt hàng xuất khẩu chính của Cuba là đường, nikel, thuốc lá, cá, sản phẩm y tế, chanh, cà phê và lao động có tay nghề;[63] các mặt hàng nhập khẩu gồm, thực phẩm, nhiên liệu, quần áo và máy móc. Cuba hiện có khoản nợ khoảng 13 tỷ dollar,[64] chiếm xấp xỉ 38% GDP.[65] Theo Heritage Foundation, Cuba phụ thuộc vào các tài khoản tín dụng luân phiên từ nước này sang nước khác.[66] Con số 35% thị phần đường thế giới trước kia của Cuba đã giảm xuống chỉ còn 10% vì nhiều yếu tố, gồm cả sự sụt giảm giá hàng hóa sử dụng đường Cuba kém tính cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới.[67] Ở một thời điểm, Cuba từng là nước sản xuất và xuất khẩu đường lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, vì tình trạng đầu tư kém và các thảm họa thiên nhiên, sản lượng đường của Cuba đã giảm nghiêm trọng. Năm 2002, hơn một nửa các nhà máy đường ở Cuba phải đóng cửa. Mùa thu hoạch gần đây nhất chỉ đạt 1.1 triệu mét tấn, thấp nhất trong gần một trăm năm qua, chỉ tương đương với sản lượng năm 1903 và 1904. Cuba chiếm 6.4% thị trường thế giới về nickel[68] chiếm khoảng 25% tổng xuất khẩu Cuba.[69] Gần đây, một trữ lượng dầu mỏ lớn đã được tìm thấy tại Châu thổ Bắc Cuba[70] dẫn tới việc các thành viên Jeff FlakeLarry Craig thuộc Quốc hội Hoa Kỳ kêu gọi bãi bỏ lệnh cấm vận với Cuba.

Chính sách thuế[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng Cuba năm 1959, các công dân được bãi bỏ thuế thu nhập cá nhân (lương của họ được coi là lương thực và không phải chịu thuế). Tuy nhiên, từ năm 1996, nhà nước bắt đầu áp dụng các loại thuế thu nhập Cá nhân trên công dân Cuba được hưởng lương bằng ngoại tệ mạnh, chủ yếu là các chủ doanh nghiệp.[71]

Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Quân đội Cuba

Dưới thời Fidel Castro, Cuba đã trở thành một xã hội quân sự hóa cao độ. Từ năm 1975 cho tới tận cuối thập kỷ 1980, viện trợ quân sự ồ ạt của Xô viết đã cho phép Cuba nâng cấp mạnh khả năng quân sự của mình. Từ khi mất khoản viện trợ từ Liên bang Xô viết Cuba đã phải giảm đáng kể số lượng quân đội từ 235.000 người năm 1994 xuống còn khoảng 60.000 người năm 2003.[72] Chính phủ hiện chi khoảng 1.7% GDP cho quân sự. Bộ trưởng các Lực lượng Vũ trang Cách mạng (FAR) hiện nay là Raúl Castro, em trai của Fidel Castro, người cũng đã đóng vai trò quan trọng với tư cách một lãnh đạo trong Cách mạng Cuba. Tháng 4 và tháng 5 năm 2007 một loạt những báo cáo "La Nueva Cuba" (một nguồn thông tin hải ngoại đáng chú ý về Cuba) cho rằng đã có ít nhất ba kế hoạch đào tẩu của thành viên quân đội Cuba và rằng hiện có sự xung đột giữa Raul và Đảng Cộng sản Cuba.[73]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Gott, Richard: Cuba A New History. Yale University Press. p13
  2. ^ Clements R. Markham, ed. ((1893)). The Journal of Christopher Columbus (during His First Voyage,). ASIN: B000I1OMXM.  Đã bỏ qua tham số không rõ |Publisher= (gợi ý |publisher=) (trợ giúp)
  3. ^ http://museum.archanth.cam.ac.uk/IACA.WWW/amulet.htm
  4. ^ a ă An Interview On the Taino DNA testing in Puerto Rico. Profiles, Vol. 1, no. 2, 15 tháng 8 năm 2000
    ° Cuban Site Casts Light on an Extinct People Anthony DePalma, The New York Times, 5 tháng 7 năm 1998
    ° Gott, Richard Cuba: A new history, Yale University Press: 2004, p.7 "A third element in Cuba's ethnic mix, the trace of indigenous blood that runs through most of its people except for the most recent immigrants, has usually been ignored or denied. It is vigorously downplayed by most historians in Havana today, although those in Santiago are more freethinking. The official line, doggedly maintained over the years, in spite of increasing evidence to the contrary, is that the Tainos were destroyed during the early years of conquest. This is clearly not so."
  5. ^ DNA Genealogy, E. Elizondo "The mt-DNA haplogroup results were a complete surprise. The test results indicated that I descended on my maternal line from Siberian Eskimos who migrated across the Aleutian chain and Alaska and down to North and South America*. This contrasted with my genealogy research which showed that my oldest known female ancestor, Maria Obregon Ceballos, was born in the city of Trinidad, one of the oldest towns in Cuba -founded in 1514, presumably of Spanish ancestry." http://www.cubagenweb.org/dna.htm
  6. ^ {{Chú thích web| url=http://www.cubagenweb.org/mil/e-war-hist.htm
  7. ^ {{Chú thích web| url=http://www.historyofcuba.com/history/funfacts/lilwar.htm
  8. ^ Anne Applebaum. Gulag: A History of the German Concentration Camps. "the first modern concentration camps were set up not in Germany or Russia, but in colonial Cuba, in 1895. In that year, in an effort to put an end to a series of local insurgencies, imperial Spain began to prepare a policy of reconcentratión, intended to remove the Cuban peasants from their land and 'reconcentrate' them in camps, thereby depriving the insurgents of food, shelter and support. By 1900, the Spanish term reconcentratión had already been translated into English, and was used to describe a similar British project, initiated for similar reasons, during the Boer War in South Africa."
  9. ^ The Spanish-American War. “Cuban Reconcentration Policy and its Effects”. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2007. 
  10. ^ a ă Thomas, Hugh (March năm 1971). Cuba; the Pursuit of Freedom. New York: Harper & Row. tr. pp283–287. ISBN 0060142596. 
  11. ^ de La Cova, Antonio Rafael 2007 The Moncada Attack: Birth of the Cuban Revolution. University of South Carolina Press ISBN-10 1570036721 ISBN-13 978-1570036729
  12. ^ http://www.isp.msu.edu/clacs/conf-papers03/english.pdf
  13. ^ http://www.fff.org/comment/ed0999c.asp
  14. ^ http://www.princeton.edu/plas/publications/Essays/castro.html
  15. ^ http://www.amigospais-guaracabuya.org/oagsg022.php
  16. ^ “The Daily News -- tháng 4 năm 1980”. The Eighties Club - The Politics and Pop Culture of the 1980s. April năm 1980. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  17. ^ “The Daily News -- tháng 6 năm 1980”. The Eighties Club - The Politics and Pop Culture of the 1980s. June năm 1980. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  18. ^ Castro not dying, US envoys told. BBC News, 18 tháng 12 năm 2006.
  19. ^ “Castro does not have cancer, says Spanish doctor”. Times Online. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2006. 
  20. ^ Cuban TV shows 'stronger' BBC News. Castro
  21. ^ Ailing Castro says 'I feel good' BBC News.
  22. ^ Castro 'to be fit to hold power' BBC News.
  23. ^ “Arquitectura y Urbanismo en la República de Cuba (1902-1958)…Antecedentes, Evolución y Estructuras de Apoyo”. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2006. 
  24. ^ a ă Constitution of the Republic of Cuba, 1992. Cubanet.
  25. ^ Country profile: Cuba BBC online
  26. ^ a ă â Inter-American commission on Human Rights
  27. ^ “TITLE 22 > CHAPTER 69A > § 6021 U.S. Code Collection Cornell Law School, Ithaca N.Y,”. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2007. 
  28. ^ “Information about human rights in Cuba” (bằng español). Comision Inteamericana de Dderechos Humanos. April 7 năm 1967. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  29. ^ “Castro sued over alleged torture”. News from Russia. November 16 năm 2005. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  30. ^ “CUBA”. Amnesty International Online Documentation Library. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  31. ^ “Cuba”. Reporters Without Borders. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2007. 
  32. ^ a ă “Is Cuba Democratic?”. Cuba-solidarity.org. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  33. ^ Cubaverdad.net. “Workers Paradise”.  “Trade Unions”.  “Violations of Social and Labor”. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2007. 
  34. ^ “Rennaissance and decay: A comparison of socioeconomic indicators”. University of Texas. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  35. ^ http://siteresources.worldbank.org/EDUCATION/Resources/278200-1099079877269/547664-1099080026826/The_Cuban_education_system_lessonsEn00.pdf The Cuban Education System: Lessons and Dilemmas. Human Development Network Education. World Bank.
  36. ^ Pan American Health Organization Phương tiện:2004 Observatory of Human resources in Health. 134th session of the executive committee. Washington, D.C. U.S.A, 21-25 tháng 6 năm 2004 Provisional Agenda Item 4.3 CE134/11 (Eng.) 18 tháng 5 năm 2004. http://www.paho.org/english/gov/ce/ce134-11-e.pdf page 5 item “10. Gaps in data collection and limitations of data sources undermine efforts to address these issues. Data are generally collected from existing sources, such as personnel registries of ministries of health and social security institutions…”
  37. ^ John Dorschner 2007 Nation's fabled healthcare may not be so healthy Miami Herald, 28 tháng 1 năm 2007 p.1E. and more recently Katherine Hirschfeld (2007). “Re-examining the Cuban Health Care System: Towards a Qualitative Critique”. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2007.  Đã bỏ qua tham số không rõ |source= (trợ giúp)
  38. ^ Government of Cuba (2002). “Cuban Census”. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2007. 
  39. ^ DePalma, Anthony (July 5 năm 1998). “Cuban Site Casts Light on an Extinct People”. New York Times. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  40. ^ http://www.cubagob.cu/otras_info/censo/tablas_html/ii_3.htm
  41. ^ Castro’s Cuba in Perspective
  42. ^ “Sahrawi children inhumanely treated in Cuba, former Cuban official”. MoroccoTimes.com. March 31 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  43. ^ http://www.thepeninsulaqatar.com/Display_news.asp?section=World_News&subsection=Americas&month=May2007&file=World_News2007051741913.xml
  44. ^ “United Nations World Fertility Patterns 1997”. un.org. 1997. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  45. ^ Stanley K. Henshaw, Susheela Singh and Taylor Haas. “The Incidence of Abortion Worldwide”. International Family Planning Perspectives, 1999, 25(Supplement):S30 – S38. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp) This publication notes, however, that: The relatively high rate in Cuba (78 per 1.000 [women, per year]) includes menstrual regulation, an early abortion procedure carried out without pregnancy testing, as well as termination of known pregnancies. In 1996, 60% of the procedures were menstrual regulations.
  46. ^ Quiñones, Rolando García Quiñones. “International Migrations in Cuba: persinting trends and changes”. Technical Corporation. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  47. ^ “Bill Clinton 1993-2001”. history.acusd.edu. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2006.  Đã bỏ qua văn bản “ authorlink ” (trợ giúp)
  48. ^ “Cuban Natives or Citizens Seeking Lawful Permanent Resident Status”. U.S. Citizenship and Immigration Services. 1996. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2006. 
  49. ^ “Dream Machine: Cub”. Palm Beach Post. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2007. 
  50. ^ Jane Sutton. “Cubans sneak ashore during U.S. security drill”. International Family Planning Perspectives, 1999, 25(Supplement):S30 – S38. Truy cập Mar 8 năm 2007.  While hundreds of U.S. law enforcement agents intercepted imaginary Cuban migrants during a massive training exercise in south Florida, two boatloads of actual Cubans sneaked ashore on Miami Beach on Thursday.
  51. ^ “Human Rights Overview: Cub”. hrw.org. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  52. ^ a ă Catholic church in Cuba strives to reestablish the faith National Catholic Observer
  53. ^ “Government officials visit Baha'i center”. Baha'iWorldNewsService.com. June 13 năm 2005. 
  54. ^ http://www.islamawareness.net/LatinAmerica/cuba.html
  55. ^ “Social Policy” (PDF). oxfamamerica.org. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  56. ^ “Social Policy” (PDF). oxfamamerica.org. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  57. ^ “Cuban tourism in 2007: economic impact”. University of Texas. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  58. ^ a ă “Background Note: Cuba”. U.S. Department of State. December năm 2005. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  59. ^ http://www.uiowa.edu/ifdebook/conferences/cuba/TLCP/Volume%201/Facio.pdf Tourism in Cuba during the Special Period
  60. ^ Schweimler, Daniel (May 4 năm 2001). “Cuba's anti-corruption ministry”. BBC News. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  61. ^ “Rank Order Exports”. CIA:The World Fact Book. June 29 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  62. ^ “Cuba”. CIA World Fact Book. June 29 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  63. ^ “Cuba Exports - commodities”. IndexMundi.vom. January 1 năm 2005. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  64. ^ Calzon, Frank (March 13 năm 2005). “Cuba makes poor trade partner for Louisiana”. ShreveportTimes.com. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2005. 
  65. ^ “Rank Order - GDP (purchasing power parity)”. CIA Fact Book. June 29 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  66. ^ “Cuba”. heritage.org. 2004. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  67. ^ “Cuba’s Sugar Industry and the Impact of Hurricane Michele”. International Agricultural Trade Report. December 6 năm 2001. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  68. ^ “Global Nickel Mine Production 2002”. 2002. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2006. 
  69. ^ Frank, Marc (December 18 năm 2002). “Cuba's 2002 nickel exports top 70.000 tonnes”. Center for International Policy. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006. 
  70. ^ Smith-Spark, Laura (2006). “Cuba oil prospects cloud US horizon”. BBC. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2006. 
  71. ^ New York Times (1995). “Well-to-Do in Cuba to Pay an Income Tax”. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2007.  Đã bỏ qua tham số không rõ |onth= (trợ giúp)
  72. ^ Cuban army called key in any post-Castro scenario Anthony Boadle Reuters 2006
  73. ^ [1]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tìm thêm về Cuba tại một trong những đồng dự án của Wikipedia (bằng tiếng Anh)
Commons-logo.svg Commons Hình ảnh
Wiktsister en.png Wiktionary Từ điển
Wikibooks-logo.svg Wikibooks Sách
Wikiquote-logo.svg Wikiquote Danh ngôn
Wikisource-logo.svg Wikisource Tư liệu
Wikinews-logo.svg Wikinews Tin tức
Chính thức
Chung


ndsnl:Kuba batsmg:Kuba