Cung điện Myślewicki

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cung điện Myślewicki
Pałac Myślewicki (tiếng Ba Lan)
Pałac Myślewicki w Warszawie 2019.jpg
Thông tin chung
Phong cáchRococo-Neoclassical
Thành phốWarsaw
Quốc giaBa Lan
Khách hàngStanisław August Poniatowski
Xây dựng
Khởi công1775
Hoàn thành1779
Thiết kế
Kiến trúc sưDomenico Merlini

Cung điện Myślewicki (tiếng Ba Lan: Pałac Myślewicki) là một cung điện tân cổ điển nằm trong Công viên Nhà tắm Hoàng gia của Warsaw. Nó được tạo ra dành cho Vua Stanisław August Poniatowski là một trong những tòa nhà đầu tiên trong Nhà tắm Hoàng gia. Tên của nó bắt nguồn từ tên của làng Myślewice gần đó hiện không còn tồn tại.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu, cung điện có các triều thần của nhà vua và sau đó là Józef Antoni Poniatowski, cháu trai của nhà vua.[2] Các kiến trúc ô-van phía trên lối vào chính được trang trí bằng chữ cái đầu của ông JP.[1]

Vào thế kỷ 19 và tại Cộng hòa Nhân dân Ba Lan, cung điện đóng vai trò là nhà khách và mở cửa cho những vị khách nổi tiếng như Napoleon I và Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon.[3] Vào ngày 15 tháng 9 năm 1958, cuộc gặp đầu tiên của các đại sứ của Cộng hòa Nhân dân Trung HoaHoa Kỳ đã diễn ra trong cung điện, được coi là nỗ lực đầu tiên để thiết lập mối liên hệ giữa hai nước.[4]

Mặt tiền được trang trí bằng một hình bán nguyệt lớn với các tác phẩm điêu khắc của Jakub Monaldi mô tả Zephyr và Flora, trong khi phần mái cong nhẹ đề cập đến các thiết kế phổ biến của Trung Quốc [1] Phần lớn các đồ nội thất nguyên bản còn sót lại sau chiến tranh thế giới thứ hai như tranh của Jan Bogumił Plersch từ năm 1778 và Antoni Gerżabka cũng như đồ trang trí và điêu khắc bằng vữa. Đặc biệt có giá trị là Phòng ăn với tầm nhìn ra RomeVenice và Phòng tắm với một tấm bạt của Plersch mô tả Zephyr và Flora [1]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b “Pałac Myślewicki”. www.lazienki-krolewskie.pl (bằng tiếng Ba Lan). Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010. 
  2. ^ Mark Salter, Jonathan Bousfield (2002). Rough guide to Poland. Rough Guides. tr. 117. ISBN 1-85828-849-5. 
  3. ^ Daniel Schorr (2002). Staying Tuned: A Life in Journalism. Simon & Schuster. tr. 140. ISBN 0-671-02088-9. 
  4. ^ Alan Lawrance (1975). China's foreign relations since 1949. Routledge. tr. 60. ISBN 0-7100-8092-1. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]