Cygnus X-1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cygnus X-1/HDE 226868
Diagram showing star positions and boundaries of the Cygnus constellation and its surroundings
Cercle rouge 100%.svg
Vị trí của Cygnus X-1 (khoanh tròn).[1]
Dữ liệu quan sát
Kỷ nguyên J2000      Xuân phân J2000
Chòm sao Thiên Nga
Xích kinh 19h 58m 21.67595s[2]
Xích vĩ +35° 12′ 05.7783″[2]
Cấp sao biểu kiến (V) 8.95[3]
Các đặc trưng
Kiểu quang phổO9.7Iab[3]
Chỉ mục màu U-B−0.30[4]
Chỉ mục màu B-V+0.81[4]
Kiểu biến quangbiến quang kiểu êlip
Trắc lượng học thiên thể
Vận tốc xuyên tâm (Rv)−13[3] km/s
Chuyển động riêng (μ) RA: −3.37[2] mas/năm
Dec.: −7.15[2] mas/năm
Thị sai (π)0.539 ± 0.033[5] mas
Khoảng cách6100 ± 400 ly
(1900 ± 100 pc)
Cấp sao tuyệt đối (MV)−65±02[6]
Chi tiết
Khối lượng14–16[7] M
Bán kính20–22[8] R
Độ sáng3–4×105[8] L
Hấp dẫn bề mặt (log g)331±007[9] cgs
Nhiệt độ31000[10] K
Tự quay5,6 ngày
Tuổi5[11] Myr
Tên gọi khác
AG (or AGK2)+35 1910, BD+34 3815, HD (or HDE) 226868, HIP 98298, SAO 69181, V1357 Cyg.[3]
Cơ sở dữ liệu tham chiếu
SIMBADdữ liệu

Thiên nga X-1 (Cygnus X-1, viết tắt Cyg X-1)[12] là một nguồn phát tia X của Thiên hà trong chòm sao Thiên Nga, và là nguồn đầu tiên như vậy được chấp nhận rộng rãi là một lỗ đen.[13][14] Nó được phát hiện vào năm 1964 trong một chuyến bay tên lửa và là một trong những nguồn tia X mạnh nhất được thấy từ Trái Đất, sản sinh ra thông lượng tia X cực đại là 2,3 × 10-23 Wm-2Hz-1 (2,3 × 10³ Jansky).[15][16] Nó vẫn là một trong các vật thể thiên văn được quan sát rộng rãi nhất. Vật thể đặc này được ước tính có khối lượng bằng khoảng 21,2 lần Mặt trời[17][18] và có kích thước quá nhỏ đối với bất kỳ loại sao nào đã biết, hay bất kỳ vật thể nào khác ngoại trừ lỗ đen.[19] Nếu nó thực sự là một lỗ đen thì bán kính chân trời sự kiện của nó khoảng 300 km.[20]

Thiên nga X-1 nằm trong một hệ sao đôi phát tia X, nằm cách Mặt trời khoảng 6070 năm ánh sáng, xoay quanh một sao biến quang siêu khổng lồ xanh ký hiệu HDE 226868,[21] ở khoảng cách 0,2 AU. Gió sao từ ngôi sao cung cấp vật chất cho đĩa bồi tụ xung quanh nguồn phát tia X. Vật chất ở vành đai trong bị đốt nóng lên tới hàng triệu độ, sản sinh ra tia X.[22] Hai luồng vật chất bắn ra từ hai phía vuông góc với đĩa, mang năng lượng của vật chất rơi vào bên trong đĩa.[23]

Hệ sao này có thể thuộc một cụm sao gọi là Thiên Nga OB3, có nghĩa là Thiên Nga X-1 có tuổi khoảng 5 triệu năm và được hinh thành từ một sao có khối lượng 40 lần Mặt trời. Phần lớn khối lượng ngôi sao tản vào không gian, rất có thể dưới dạng gió sao. Nếu ngôi sao này đã là một siêu tân tinh, thì lực tạo ra bởi vụ nổ có lẽ đã bắn tất cả tàn dư bên trong hệ, do đó ngôi sao này phải co sụp lại thành một lỗ đen.[11]

Thiên Nga X-1 trở thành đề tài tranh cãi giữa Stephen HawkingKip Thorne vào năm 1975. Hawking cho rằng nó không phải là một lỗ đen. Sau này ông thừa nhận điều đó khi các dữ liệu quan sát ủng hộ quan điểm rằng nó thực sự là một lỗ đen. Giả thuyết này được công nhận rộng rãi thông qua các bằng chứng gián tiếp.[24]

Phát hiện và quan sát[sửa | sửa mã nguồn]

Các quán sát bức xạ tia X cho phép các nhà thiên văn học nghiên cứu các hiện tượng thiên thể có sự hiện diện của khí nóng tới hàng triệu độ. Tuy nhiên, do tia X bị bầu khí quyển Trái đất chặn lại nên quan sát các nguồn phát tia X ngoài hành tinh phải được thực hiện ở một độ cao nhất định.[25][26] Cygnus X-1 được phát hiện bởi các thiết bị tia X trên một tên lửa dưới quỹ đạo phóng từ White Sands Missile Range, New Mexico. Để thực hiện một dự án khảo sát các nguồn tia X, hai tên lửa Aerobee được phóng vào năm 1964, mang theo bộ đếm Geiger để đo các bức xạ tia X trong khoảng bước sóng từ 1 đên 15 Å trên một vùng bầu trời rộng 8.4°. Các thiết bị này quét khắp bầu trời khi tên lửa quay, tạo thành một bản đồ gồm các dải khít nhau.[23]

Kết quả phát hiện được tám nguồn tia X mới, trong đó có Cyg XR-1 (sau này là Cyg X-1) trong chòm sao Thiên Nga. Tọa độ thiên thể của nguồn này được ước tính là 19h53m xích kinh và 34,6° xích vĩ. Không có nguồn sáng hay radio mạnh đáng kể nào nằm ở vị trí nói trên.[23]

Nhận thấy cần những quan sát kéo dài hơn, vào năm 1963 Ricarrdo Giacconi và Herb Gursky đề xuất vệ tinh quan sát tia X đầu tiên. NASA phóng vệ tinh Uhuru vào năm 1970,[27] khám phá thêm được 300 nguồn tia X mới.[28] Các quan sát kéo dài của Cygnus X-1 cho thấy những thăng giáng trong cường độ tia X diễn ra vài lần trong một giây.[29] Sự thay đổi nhanh này có nghĩa là quá trình sản sinh năng lượng phải diễn ra trên một vùng tương đối nhỏ khoảng 105 km, do giới hạn tốc độ ánh sáng. Để so sánh, bán kính của Mặt Trời là khoảng 1,4 × 106 km.

Từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1971, Luc Braes và George K. Miley của đài thiên văn Leiden, độc lập với Robert M. Hjellming và Campbell Wade ở Đài Quan sát Vô tuyến quốc gia[30] phát hiện bức xạ radio phát ra từ Cygnus X-1, và vị trí radio chính xác họ thu được chỉ ra được nguồn phát tia X này chính là ngôi sao AGK2 +35 1910 = HDE 226868.[31][32] Nó nằm cách ngôi sao độ sáng cấp 4 là Eta Cygni khoảng 0,5° nhìn từ Trái Đất.[1] Nó là một sao siêu khổng lồ nhưng không có khả năng phát ra lượng tia X đủ để quan sát được. Do đó, ngôi sao phải có một vật thể đồng hành có khả năng đốt nóng khí đến hàng triệu độ để sản sinh ra tia X.

Louise Webster và Paul Murdin ở Đài Thiên văn Greenwich[33] và Charles Thomas Bolton làm việc độc lập tại Đài Thiên văn David Dunlap của trường Đại học Toronto,[34] thông báo về phát hiện một vật thể không quan sát được đồng hành của HDE 226868 vào năm 1971. Các phép đo độ dịch chuyển Doppler của quang phổ ngôi sao cho thấy vật thể tồn tại và cho phép ta tính toán được khối lượng của nó từ các tham số quỹ đạo.[35] Dựa trên khối lượng phỏng đoán của vật thể, người ta vẫn nghĩ rằng nó có thể là một lỗ đen bởi một sao neutron không thể có khối lượng vượt quá ba lần Mặt Trời.[36]

Các quan sát sau đó củng cố cho giả thuyết, cho tới cuối năm 1973 cộng đồng thiên văn học gần như đồng ý với nhau rằng Cygnus X-1 hầu như là một lỗ đen.[37][38] Các phép đo chính xác của Cygnus X-1 cho thấy sự thay đổi trong khoảng 1 milli giây. Điều này nhất quán với sự nhiễu loạn trong đĩa bồi tụ vật chất xung quanh một hố đen. Các chớp tia X kéo dài khoảng ⅓ giây khớp với khoảng thời gian ước tính vật thể rơi vào lỗ đen.[39]

This X-ray image of Cygnus X-1 was taken by a balloon-borne telescope, the High-Energy Replicated Optics (HERO) project. NASA image.

Kể từ đó Cygnus X-1 được quan sát rất nhiều trong các quan sát mặt đất và cả trên quỹ đạo.[3] Sự tương tự giữa các cặp sao đôi tia X như HDE 226868/Cygnus X-1 và các nhân thiên hà hoạt động (AGN) gợi ý một cơ chế chung phát sinh năng lượng có sự góp mặt của lỗ đen, đĩa bồi tụ và luồng vật chất phóng ra.[40] Vì vậy mà Cygnus X-1 được xếp vào loại microquasar, một loại vật thể tương tự quasar, ngày nay được biết đến là các nhân thiên hà hoạt động ở rất xa. Các nghiên cứu của các hệ sao đôi như HDE 226868/Cygnus X-1 có thể mang lại nhiều giải thích về các thiên hà hoạt động.[41]

Hệ sao đôi[sửa | sửa mã nguồn]

Vật thể đặcsao siêu khổng lồ xanh tạo thành một hệ sao đôi quay quanh trọng tâm của hệ theo chu kỳ 5,599829 ngày.[42] Nhìn từ Trái đất, hệ sao này không che lấp, tuy nhiên độ nghiêng quỹ đạo so với góc nhìn từ Trái đất vẫn chưa được làm rõ, các phỏng đoán dao động từ 27-65°. Một nghiên cứu năm 2007 ước tính độ nghiêng là 48.0 ±6.8°, nghĩa là bán trục lớn khoảng 0,2 AU. Độ lệch tâm quỹ đạo được cho là khoảng 0.0018 ±0.002, tức là gần tròn.[7][43] Khoảng cách từ Trái đất đến hệ là khoảng 1.860 ± 120 parsec (6.070 ± 390 năm ánh sáng).[5]

Hệ HDE 226868/Cygnus X-1 chuyển động chung trong không gian cùng với các sao khác trong cụm Cygnus OB3 cách Mặt trời khoảng 2000 parsecs. Từ đó suy ra HDE 226868/Cygnus X-1 và cụm sao OB này được sinh ra ở cùng một nơi và vào cùng một thời điểm. Nếu đúng như vậy thì tuổi của hệ vào khoảng 5 ± 1,5 triệu năm. Chuyển động tương đối của HD 226868 với Cygnus OB3 là 9 ± 3 km/s; một giá trị thường gặp của chuyển động ngẫu nhiên trong một cụm sao OB. Khoảng cách từ HD 226868 đến tâm của cụm là khoảng 60 parsec, và thời gian để chúng tách ra là khoảng 7 ± 2 triệu năm, xấp xỉ tuổi của cụm.[44]

Hệ sao có tọa độ thiên hà là kinh độ 4°, vĩ độ 71°.[45] Cygnus X-1 thường được cho là thuộc nhánh Sagittarius,[46] mặc dù hiểu biết về cấu trúc của dải Ngân Hà vẫn còn hạn chế.

Vật thể đặc[sửa | sửa mã nguồn]

Chandra X-ray Observatory image of Cygnus X-1

Hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa bồi tụ[sửa | sửa mã nguồn]

Các luồng phóng ra[sửa | sửa mã nguồn]

HDE 226868[sửa | sửa mã nguồn]

An artist's impression of the HDE 226868–Cygnus X-1 binary system. ESA/Hubble illustration.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Abrams, Bernard; Stecker, Michael (1999), Structures in Space: Hidden Secrets of the Deep Sky, Springer, tr. 91, ISBN 1-85233-165-8, Eta Cygni is 25 arc minutes to the west-south-west of this star.
  2. ^ a b c d van Leeuwen, F. (tháng 11 năm 2007), “Validation of the new Hipparcos reduction”, Astronomy and Astrophysics, 474 (2): 653–664, arXiv:0708.1752, Bibcode:2007A&A...474..653V, doi:10.1051/0004-6361:20078357, S2CID 18759600
  3. ^ a b c d e Staff (3 tháng 3 năm 2003), V* V1357 Cyg -- High Mass X-ray Binary, Centre de Données astronomiques de Strasbourg, truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2008
  4. ^ a b Bregman, J.; và đồng nghiệp (1973), “Colors, magnitudes, spectral types and distances for stars in the field of the X-ray source Cyg X-1”, Lick Observatory Bulletin, 647: 1, Bibcode:1973LicOB..24....1B
  5. ^ a b Reid, Mark J.; và đồng nghiệp (tháng 12 năm 2011), “The Trigonometric Parallax of Cygnus X-1”, The Astrophysical Journal, 742 (2): 83, arXiv:1106.3688, Bibcode:2011ApJ...742...83R, doi:10.1088/0004-637X/742/2/83, S2CID 96429771
  6. ^ Ninkov, Z.; Walker, G. A. H.; Yang, S. (1987), “The primary orbit and the absorption lines of HDE 226868 (Cygnus X-1)”, Astrophysical Journal, 321: 425–437, Bibcode:1987ApJ...321..425N, doi:10.1086/165641, Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2017, truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018
  7. ^ a b Orosz, Jerome (1 tháng 12 năm 2011), “The Mass of the Black Hole In Cygnus X-1”, The Astrophysical Journal, 742 (2): 84, arXiv:1106.3689, Bibcode:2011ApJ...742...84O, doi:10.1088/0004-637X/742/2/84, S2CID 18732012
  8. ^ a b Ziółkowski, J. (2005), “Evolutionary constraints on the masses of the components of HDE 226868/Cyg X-1 binary system”, Monthly Notices of the Royal Astronomical Society, 358 (3): 851–859, arXiv:astro-ph/0501102, Bibcode:2005MNRAS.358..851Z, doi:10.1111/j.1365-2966.2005.08796.x, S2CID 119334761 Note: for radius and luminosity, see Table 1 with d=2 kpc.
  9. ^ Hadrava, Petr (September 15–21, 2007), “Optical spectroscopy of Cyg X-1”, Proceedings of RAGtime 8/9: Workshops on Black Holes and Neutron Stars, Opava, Czech Republic: 71, arXiv:0710.0758, Bibcode:2007ragt.meet...71H
  10. ^ Staff (10 tháng 6 năm 2003), Integral's view of Cygnus X-1, ESA, truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2008
  11. ^ a b Mirabel, I. Félix; Rodrigues, Irapuan (2003), “Formation of a Black Hole in the Dark”, Science, 300 (5622): 1119–1120, arXiv:astro-ph/0305205, Bibcode:2003Sci...300.1119M, doi:10.1126/science.1083451, PMID 12714674, S2CID 45544180
  12. ^ Bowyer, S.; và đồng nghiệp (1965), “Cosmic X-ray Sources”, Science, 147 (3656): 394–398, Bibcode:1965Sci...147..394B, doi:10.1126/science.147.3656.394, PMID 17832788, S2CID 206565068
  13. ^ Staff (5 tháng 11 năm 2004), Observations: Seeing in X-ray wavelengths, ESA, truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2008
  14. ^ Glister, Paul (2011), "Cygnus X-1: A Black Hole Confirmed." Centauri Dreams: Imagining and Planning Interstellar Exploration, 2011-11-29. Truy cập 2016-09-16.
  15. ^ Lewin, Walter; Van Der Klis, Michiel (2006), Compact Stellar X-ray Sources, Cambridge University Press, tr. 159, ISBN 0-521-82659-4
  16. ^ “2010 X-Ray Sources”, The Astronomical Almanac, U.S. Naval Observatory, truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2009 gives a range of 235–1320 μJy at energies of 2–10 kEv, where a Jansky (Jy) is 10−26 Wm−2 Hz−1.
  17. ^ Miller-Jones, James C. A.; và đồng nghiệp (18 tháng 2 năm 2021). “Cygnus X-1 contains a 21–solar mass black hole—Implications for massive star winds”. Science. 371 (6533): 1046–1049. arXiv:2102.09091. Bibcode:2021Sci...371.1046M. doi:10.1126/science.abb3363. PMID 33602863. S2CID 231951746. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2021.
  18. ^ Overbye, Dennis (18 tháng 2 năm 2021). “A Famous Black Hole Gets a Massive Update - Cygnus X-1, one of the first identified black holes, is much weightier than expected, raising new questions about how such objects form”. The New York Times. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2021.
  19. ^ The Illustrated Encyclopedia of the Universe. New York, NY: Watson-Guptill. 2001. tr. 175. ISBN 0-8230-2512-8.
  20. ^ Harko, T. (28 tháng 6 năm 2006), Black Holes, University of Hong Kong, Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2009, truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2008
  21. ^ Ziolkowski, Janusz (2014). “Masses of the components of the HDE 226868/Cyg X-1 binary system”. Monthly Notices of the Royal Astronomical Society: Letters. 440: L61. arXiv:1401.1035. Bibcode:2014MNRAS.440L..61Z. doi:10.1093/mnrasl/slu002. S2CID 54841624.
  22. ^ Gies, D. R.; Bolton, C. T. (1986), “The optical spectrum of HDE 226868 = Cygnus X-1. II — Spectrophotometry and mass estimates”, The Astrophysical Journal, 304: 371–393, Bibcode:1986ApJ...304..371G, doi:10.1086/164171
  23. ^ a b c Gallo, Elena; Fender, Rob (2005), “Accretion modes and jet production in black hole X-ray binaries”, Memorie della Società Astronomica Italiana, 76: 600–607, arXiv:astro-ph/0509172, Bibcode:2005MmSAI..76..600G
  24. ^ Staff (27 tháng 2 năm 2004), Galaxy Entree or Main Course?, Swinburne University, truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2008
  25. ^ Herbert, Friedman (2002), “From the ionosphere to high energy astronomy – a personal experience”, The Century of Space Science, Springer, ISBN 0-7923-7196-8
  26. ^ Liu, C. Z.; Li, T. P. (2004), “X-Ray Spectral Variability in Cygnus X-1”, The Astrophysical Journal, 611 (2): 1084–1090, arXiv:astro-ph/0405246, Bibcode:2004ApJ...611.1084L, doi:10.1086/422209
  27. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên heasarc200306262
  28. ^ Giacconi, Riccardo (8 tháng 12 năm 2002), The Dawn of X-Ray Astronomy, The Nobel Foundation, truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2008
  29. ^ Oda, M.; và đồng nghiệp (1999), “X-Ray Pulsations from Cygnus X-1 Observed from UHURU”, The Astrophysical Journal, 166: L1–L7, Bibcode:1971ApJ...166L...1O, doi:10.1086/180726
  30. ^ Kristian, J.; và đồng nghiệp (1971), “On the Optical Identification of Cygnus X-1”, The Astrophysical Journal, 168: L91–L93, Bibcode:1971ApJ...168L..91K, doi:10.1086/180790
  31. ^ Braes, L.L.E.; Miley, G.K. (23 tháng 7 năm 1971), “Physical Sciences: Detection of Radio Emission from Cygnus X-1”, Nature, 232 (5308): 246, Bibcode:1971Natur.232Q.246B, doi:10.1038/232246a0, PMID 16062947, S2CID 33340308
  32. ^ Braes, L.L.E.; Miley, G.K. (1971), “Variable Radio Emission from X-Ray Sources”, Veröffentlichungen Remeis-Sternwarte Bamberg, 9 (100): 173, Bibcode:1972VeBam.100......
  33. ^ Webster, B. Louise; Murdin, Paul (1972), “Cygnus X-1—a Spectroscopic Binary with a Heavy Companion?”, Nature, 235 (5332): 37–38, Bibcode:1972Natur.235...37W, doi:10.1038/235037a0, S2CID 4195462
  34. ^ Bolton, C. T. (1972), “Identification of Cygnus X-1 with HDE 226868”, Nature, 235 (5336): 271–273, Bibcode:1972Natur.235..271B, doi:10.1038/235271b0, S2CID 4222070
  35. ^ Luminet, Jean-Pierre (1992), Black Holes, Cambridge University Press, ISBN 0-521-40906-3
  36. ^ Bombaci, I. (1996), “The maximum mass of a neutron star”, Astronomy and Astrophysics, 305: 871–877, arXiv:astro-ph/9608059, Bibcode:1996A&A...305..871B, doi:10.1086/310296, S2CID 119085893
  37. ^ Rolston, Bruce (10 tháng 11 năm 1997), The First Black Hole, University of Toronto, Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2008, truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2008
  38. ^ Shipman, H. L.; Yu, Z; Du, Y.W (1975), “The implausible history of triple star models for Cygnus X-1 Evidence for a black hole”, Astrophysical Letters, 16 (1): 9–12, Bibcode:1975ApL....16....9S, doi:10.1016/S0304-8853(99)00384-4
  39. ^ Rothschild, R. E.; và đồng nghiệp (1974), “Millisecond Temporal Structure in Cygnus X-1”, The Astrophysical Journal, 189: 77–115, Bibcode:1974ApJ...189L..13R, doi:10.1086/181452
  40. ^ Koerding, Elmar; Jester, Sebastian; Fender, Rob (2006), “Accretion states and radio loudness in Active Galactic Nuclei: analogies with X-ray binaries”, Monthly Notices of the Royal Astronomical Society, 372 (3): 1366–1378, arXiv:astro-ph/0608628, Bibcode:2006MNRAS.372.1366K, doi:10.1111/j.1365-2966.2006.10954.x, S2CID 14833297
  41. ^ Brainerd, Jim (20 tháng 7 năm 2005), X-rays from AGNs, The Astrophysics Spectator, truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2008
  42. ^ Brocksopp, C.; và đồng nghiệp (1999), “An Improved Orbital Ephemeris for Cygnus X-1”, Astronomy & Astrophysics, 343: 861–864, arXiv:astro-ph/9812077, Bibcode:1999A&A...343..861B
  43. ^ Bolton, C. T. (1975), “Optical observations and model for Cygnus X-1”, The Astrophysical Journal, 200: 269–277, Bibcode:1975ApJ...200..269B, doi:10.1086/153785
  44. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên science300_5622_11192
  45. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên SIMBAD2
  46. ^ Goebel, Greg, 7.0 The Milky Way Galaxy, In The Public Domain, Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2008, truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2008

Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “nayashin_dove1998” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “heasarc20030626” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Kemp” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “apj167_L15” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “esa070516” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “mit20060109” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “pasp113” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “mgmgr10” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “roy_watzke2003” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “mnras341_2_385” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “chandra20060830” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “mnras325_3_1045” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “apj484_1_375” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “asr38_12_2810” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “apj678_2_1230” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “science297_5583_947” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “wen1998” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “apj2le288_L45” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “ag44_6_77” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “apj531_1_546” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “science300_5627” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “apj626_2_1015” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “mnras376_3_1341” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “apj418_457” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “nature436_7052_819” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “apjl665_1_L51” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “caballero” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “cox2001” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “rmaa31_1_63” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “aaa63_1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “apj506_1_424” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “apj203_438” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “apj620_1_398” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “baas38_334” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “mnras302_1_L1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “apj583_1_424” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “apj185_2_L113” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “sut_ir” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “kaler” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “hawking1988” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “hawking1998” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “thorne1994” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “iorio2007” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.

Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “rapid rotation” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.