Dáng hình thanh âm (phim)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Dáng hình thanh âm
Áp phích tiếng Việt của phim
Thông tin phim
Tiếng Nhật 聲の形
Hepburn Koe no Katachi
Đạo diễn Naoko Yamada
Kịch bản Reiko Yoshida
Dựa trên Dáng hình thanh âm của
Yoshitoki Ōima
Diễn viên
Âm nhạc Kensuke Ushio
Hãng sản xuất
Phát hành Shochiku
Công chiếu

Nhật Bản 17 tháng 9 năm 2016
Việt Nam 12 tháng 5 năm 2017
Úc 6 tháng 4 năm 2017
New Zealand 16 tháng 4 năm 2017
Indonesia 3 tháng 5 năm 2017
Singapore 9 tháng 3 năm 2017
Malaysia 9 tháng 3 năm 2017
Brunei 20 tháng 4 năm 2017
Đài Loan 24 tháng 3 năm 2017

Hồng Kông 6 tháng 4 năm 2017
Độ dài 130 phút [1]
Quốc gia Cờ Nhật Bản Nhật Bản
Ngôn ngữ Tiếng Nhật
Doanh thu 2,3 tỉ JP¥
(19.56 triệu US$)[2]

Dáng hình thanh âm (tiếng Nhật: 聲の形 HepburnKoe no Katachi?, tiếng Anh: A Silent Voice hay còn được dịch là The Shape of Voice) là một anime học đường do Kyoto Animation sản xuất, Yamada Naoko đạo diễn và Yoshida Reiko biên kịch, thiết kế nhân vật nổi bật bởi Nishiya Futoshi và âm nhạc được Ushio Kensuke thực hiện.[3][4] Bộ phim dựa trên manga cùng tên do họa sĩ manga Ōima Yoshitoki viết kịch bản và vẽ minh họa; manga nguyên tác đã được cấp phép bản quyền cho nhà xuất bản Trẻ dưới tựa đề tiếng Việt chính thức là "Dáng hình thanh âm".[5] Phim được công chiếu lần đầu tại Nhật Bản vào ngày 17 tháng 9 năm 2016,[3] và trên thế giới từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2017.

Bộ phim nhận được đề cử "Phim hoạt hình xuất sắc nhất" tại Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 40,[6][7][8] chiến thắng tại Giải phê bình điện ảnh Nhật Bản lần thứ 26 hạng mục phim hoạt hình,[9][10] đề cử tại giải thưởng Liên hoan Nghệ thuật truyền thông Nhật Bản lần thứ 20,[11] và được Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản khuyến nghị nên xem.[12]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Nishimiya Shouko, một cô bé bị khiếm thính từ nhỏ, đã chuyển trường vào lớp của cậu bé Ishida Shouya. Để thỏa mãn sự tò mò của mình, cậu bé Ishida đã khơi mào trò bắt nạt Nishimiya vì khiếm thính. Trong một lần bắt nạt quá đà, Shouko đã bị chảy máu tai, và sau đó cô bé phải tiếp tục chuyển trường. Ishida, thay cho Nishimiya, bị cả lớp tẩy chay và bắt nạt. Mãi cho tới khi bước vào cao trung, Ishida, bị hành hạ và ân hận bởi những gì mình đã làm trong quá khứ, quyết định rằng cậu phải gặp lại Nishimiya một lần nữa. Ishida muốn bù đắp lại những tổn thương mà cậu đã gây ra cho Nishimiya và thực lòng muốn làm bạn với cô bé.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Shōya Ishida (石田将也 Ishida Shōya?)
Lồng tiếng bởi: Miyu Irino, Mayu Matsuoka (hồi nhỏ)
Shōko Nishimiya (西宮硝子 Nishimiya Shōko?)
Lồng tiếng bởi: Saori Hayami
Yuzuru Nishimiya (西宮結絃 Nishimiya Yuzuru?)
Lồng tiếng bởi: Aoi Yūki
Tomohiro Nagatsuka (永束友宏 Nagatsuka Tomohiro?)
Lồng tiếng bởi: Kenshō Ono
Naoka Ueno (植野直花 Ueno Naoka?)
Lồng tiếng bởi: Yūki Kaneko
Miyoko Sahara (佐原みよこ Sahara Miyoko?)
Lồng tiếng bởi: Yui Ishikawa
Miki Kawai (川井みき Kawai Miki?)
Lồng tiếng bởi: Megumi Han
Satoshi Mashiba (真柴智 Mashiba Satoshi?)
Lồng tiếng bởi: Toshiyuki Toyonaga

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim anime chuyển thể của manga được công bố khi chương cuối cùng của manga phát hành vào ngày 19 tháng 11 năm 2014,[13] sau đó tiết lộ thêm rằng bản chuyển thể sẽ là một bộ phim điện ảnh anime chiếu trên hệ thống rạp vào ngày 17 tháng 12 năm 2014.[14] Ngày 14 tháng 10 năm 2015, số phát hành thứ 46 của tạp chí Weekly Shōnen Magazine năm 2015 thông báo rằng Kyoto Animation là xưởng phim thực hiện việc sản xuất và Yamada Naoko sẽ đạo diễn của dự án.[15] Công ty phân phối phim Shochiku thông báo bộ phim chuyển thể sẽ ra mắt vào quý 4 năm 2016.[16] Ngày 8 tháng 4 năm 2016, website chính thức của bộ phim được khởi tạo, đồng thời công bố rằng Yoshida Reiko sẽ viết kịch bản phim, Nishiya Futoshi đảm nhận phần thiết kế nhân vật; phim cũng được lên lịch phát hành tại các rạp chiếu phim Nhật Bản vào ngày 17 tháng 9 năm 2016.[17] Kensuke Ushio soạn nhạc và Pony Canyon viết lời. Bài hát chủ đề của bộ phim có tên là "Koi wo Shita no wa" (恋をしたのは), do Aiko trình bày.[18][19]

Đạo diễn Yamada Naoko sử dụng ngôn ngữ các bông hoa được xen vào giữa các chuyển cảnh để bầu không khí xung quanh đẹp đẽ và không gây ra cảm giác lo lắng, đồng thời sử dụng hiệu ứng ống kính để thay đổi dáng điệu và hướng của phân cảnh giúp cho câu chuyện không quá nhẹ nhàng hoặc nặng nề giống như có thể đã như vậy.[20][21]

Lồng tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Irino Miyu "khi không chắc về cách diễn xuất cho Ishida, Irio Miyu có thể đã diễn với một ước muốn trong tâm trí để kết nối với mọi người", và được Yamada Naoko khuyên nên diễn giống như "một con thú nhỏ bé phóng túng đang bị dọa nạt".[22][23] Ishida Shouya là cậu bé nghỗ nghịch và bắt nạt Nishimiya Shouko bị bệnh khiếm thính; nhưng Matsuoka Mayu phải diễn xuất cậu ta như đang không hề bắt nạt mà giống với một sự chuyển dịch cảm xúc thuần khiết khi một đứa bé tiểu học tìm thấy được một số điều hứng thú.[23] Matsuoka Mayu lồng tiếng cho Ishida Shouya lúc tiểu học là phần khó, và cô được chọn bởi vì phần giọng thể hiện rối loạn của cậu bé. Irino Miyu nhận xét rằng: Matsuoka có một thời gian gặp khó khăn ở một vài phân cảnh, nhưng cảm giác muốn nói chính là chủ đề đặc biệt trong nhiều phân cảnh.[22][23] Matsuoka Mayu đã nhiều lần hét lên cụm từ "Bít tết Hamburger" trong quá trình thu âm theo lời khuyên từ đạo diễn, bởi nếu cô đưa ra một chỉ dẫn chân thành thì sẽ làm dao động hình ảnh Ishida của người khác nên bản thân đang cố không thẳng thắn.[22][23] Diễn xuất thanh âm đáng ngạc nhiên của Shoya thời sơ trung và Shoya thời cao trung gần như trở thành một người.[20][21]

Chủ đề[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim được hình thành từ chủ đề "khiếm thính bẩm sinh" và "bắt nạt học đường",[20][21][24][25] với phần tựa đề gợi mở đến chủ đề chính là "khiếm thính bẩm sinh" nhưng thay vào đó thì nội dung bộ phim lại tập trung nhiều hơn vào sự khó khăn trong việc kết nối cảm xúc chân thành giữa mọi người.[23][25] Dù có phần biểu lộ khác biệt so với manga nguyên tác nhưng Irino Miyu nhận xét rằng cảm giác muốn kết nối là khía cạnh quan trọng nhất của loạt manga, và cũng là mục đích đặc biệt trong bộ phim.[22][23]

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếu rạp[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim được công chiếu lần đầu tại 120 rạp trên toàn Nhật Bản vào ngày 17 tháng 9 năm 2016.[17][26]

Danh sách các sự kiện có công chiếu bộ phim
Địa điểm Tên sự kiện Ngày công chiếu Nguồn
Cờ Nhật Bản Nhật Bản: Tokyo Sự kiện ra mắt 17 tháng 9 năm 2016 [23]
Scotland Scotland: Edinburgh Scotland Loves Animation 2016 22 tháng 10 năm 2016 [27][28]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh Quốc:Leeds Liên hoan phim quốc tế Leeds lần thứ 30 6 tháng 11 năm 2016 [29]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh Quốc: Luân Đôn ICA 5 tháng 2 năm 2017 [30][31]
Scotland Scotland: Glasgow Liên hoan phim Glasgow 2017 23 tháng 2 năm 2017 [32][33]
Scotland Scotland: Liên hoan phim Discovery 26 tháng 2 năm 2017 [34]
Nhật Bản Nhật Bản: Tokyo Liên hoan phim hoạt hình Tokyo 11 tháng 3 năm 2017 [35][36]
Nhật Bản Nhật Bản: Tokyo Liên hoan phim Akihabara 2017 2 tháng 4 năm 2017 [37][38]
Cộng hòa Ireland Ireland: Cork Liên hoan phim Nhật Bản lần thứ 17 5 tháng 4 năm 2017 [39]
Ý Ý: Bologna Liên hoan phim Future 2017 2 tháng 5 năm 2017 [40]
México México: México Liên hoan phim Konichiwa 5 tháng 5 năm 2017 [41]
Pháp Pháp: Cannes Liên hoan phim Cannes lần thứ 70 19 tháng 5 năm 2017 [42]
Đức Đức: Frankfurt am Main Liên hoan phim Nhật Bản Nippon Connection 2017 25 tháng 5 năm 2017 [43]
Pháp Pháp: Annecy Liên hoan phim hoạt hình quốc tế Annecy 2017 12 tháng 6 năm 2017 [44][45]

Tính đến năm 2017, bộ phim Dáng hình thanh âm đã được công chiếu tại hơn 30 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới.[46] Viz Media Europe đã được cấp phép bản quyền phân phối bộ phim (dưới dạng phim chiếu rạp, DVD, đĩa Blu-ray, VoD, TV) theo khu vực Liên minh Châu Âu, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và khối các nước châu Phi nói tiếng Pháp.[47]

Danh sách các nước và vùng lãnh thổ công chiếu
Quốc gia/vùng lãnh thổ Nhà phân phối Tên địa phương Ngày phát hành Nguồn
 Nhật Bản Shochiku 映画 聲の形 17 tháng 9 năm 2016 [3]
 Singapore Purple Plan A Silent Voice: The Movie 9 tháng 3 năm 2017 [46]
 Anh Quốc Anime Limited 15 tháng 3 năm 2017 [48]
 Ireland
 Thái Lan M Pictures รักไร้เสียง 23 tháng 3 năm 2017 [49]
 Đài Loan Cai Chang Asia 電影版 聲之形 24 tháng 3 năm 2017 [46][50]
 Úc Madman Entertainment A Silent Voice: The Movie 6 tháng 4 năm 2017 [51]
 Hồng Kông Neofilms 電影版 聲之形 [46][52]
 New Zealand Madman Entertainment A Silent Voice: The Movie 16 tháng 4 năm 2017 [51]
 Malaysia Purple Plan 20 tháng 4 năm 2017 [53]
 Brunei [53][54]
 Indonesia Encore Films 3 tháng 5 năm 2017 [55][56]
 México Cinépolis Una voz silenciosa La Película 5 tháng 5 năm 2017 [57]
 Costa Rica
 El Salvador
 Guatemala
 Honduras
 Panama
Peru Peru
 Hàn Quốc Media Castle 목소리의 형태 9 tháng 5 năm 2017 [58]
 Philippines Pioneer Films A Silent Voice: The Movie 10 tháng 5 năm 2017 [59][60]
 Việt Nam Encore Films Dáng hình thanh âm 12 tháng 5 năm 2017 [61]
 Chile Una voz silenciosa La Película 17 tháng 6 năm 2017 [62]
 Brasil 2017 [41][63]
 Colombia 2017
Argentina Argentina 2017
Paraguay Paraguay 2017
Ecuador Ecuador 2017
Bolivia Bolivia 2017
 Trung Quốc 電影版 聲之形 2017 [64]

Tại gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản đĩa Blu-ray được xác nhận phát hành tại Nhật Bản vào ngày 17 tháng 5 năm 2017.[65][66]

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Doanh thu phòng vé[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nước[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim đứng thứ 2 tại các phòng vé Nhật Bản, sau Your Name - Tên cậu là gì? của Shinkai Makoto; và sau hai ngày công chiếu đầu tiên ở 120 rạp thì bộ phim đạt doanh thu tổng cộng là 283 triệu yên từ 200.000 vé vào xem phim.[26] Đến ngày 30 tháng 11 năm 2016, bộ phim thu về hơn 2,2 tỉ yên từ 1,7 triệu vé vào cửa.[67] Bộ phim xếp thứ #16 trên bảng xếp hạng Nikkei Hit Ranking năm 2016 theo khu vực phía Đông.[68] Đây là bộ phim có doanh thu cao thứ #19 tại Nhật Bản vào năm 2016, và đồng thời cũng là bộ phim điện ảnh Nhật Bản có doanh thu cao thứ #10 tại Nhật với 2,3 tỉ yên năm 2016 (cùng doanh thu với Quyển sổ tử thần: Khai sáng thế giới mới).[69]

Nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Singapore, bộ phim có doanh thu xếp thứ #4 sau tuần đầu khởi chiếu,[70][71] và xếp thứ #10 sau 3 tuần công chiếu.[72][71]

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo diễn Shinkai Makoto của phim anime có doanh thu cao nhất tính đến hiện tại, đã gọi Dáng hình thanh âm là một "tác phẩm tuyệt vời" đồng thời cũng là một "sản phẩm xuất chúng và đẹp đẽ" mà chính ông cũng không thể bắt chước được.[73]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Đối tượng Kết quả Nguồn
2017 Giải thưởng phim Mainichi lần thứ 71 Phim hoạt hình xuất sắc nhất Dáng hình thanh âm Đề cử [74]
Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 40 Phim hoạt hình xuất sắc nhất của năm Dáng hình thanh âm Đề cử [7][8][75]
Liên hoan phim hoạt hình Tokyo Phim hoạt hình xuất sắc nhất của năm (Hạng mục phim điện ảnh) Dáng hình thanh âm Đoạt giải [35][76]
Kịch bản xuất sắc Yoshida Reiko Đoạt giải [36][77]
Giải phê bình điện ảnh Nhật Bản lần thứ 26 Phim hoạt hình xuất sắc nhất của năm Dáng hình thanh âm Đoạt giải [9][10]
Liên hoan phim hoạt hình quốc tế Annecy 2017 Phim hoạt hình xuất sắc nhất Dáng hình thanh âm Chưa quyết định [45][44][78]
Liên hoan Nghệ thuật truyền thông Nhật Bản lần thứ 20 Phim hoạt hình xuất sắc nhất Dáng hình thanh âm Đề cử [79]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Green, Scott (ngày 7 tháng 8 năm 2016). "A Silent Voice" Anime Movie Listed For Over Two Hours”. Crunchyroll. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2016. 
  2. ^ “Top 20 Highest-Grossing Films in Japan Has 6 Anime Films”. Anime News Network. Ngày 18 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2016. 
  3. ^ a ă â “映画「聲の形」硝子と将也の声が聞ける予告公開!悠木碧や小野賢章らも出演”. Comic Natalie (bằng tiếng Nhật). Ngày 8 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2017. 
  4. ^ “映画「聲の形」(2016)”. allcinema. Stingray. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2016. 
  5. ^ “Ra mắt [Dáng Hình Thanh Âm]”. Nhà xuất bản Trẻ. Ngày 14 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2017. 
  6. ^ “第40回日本アカデミー賞 優秀賞一覧”. Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản (bằng tiếng Nhật). Ngày 16 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2017. 
  7. ^ a ă “In This Corner of the World, 'your name.' Win Japan Academy Prizes”. Anime News Network. Ngày 4 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  8. ^ a ă “your name., Shin Godzilla Earn Japan Academy Prize Nods”. Anime News Network. Ngày 16 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  9. ^ a ă “第26回受賞作品 速報”. Giải phê bình điện ảnh Nhật Bản (bằng tiếng Nhật). Ngày 11 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2017. 
  10. ^ a ă “A Silent Voice, Masako Nozawa, Makoto Shinkai Win Japan Movie Critics Awards”. Anime News Network. Ngày 17 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2017. 
  11. ^ “「シン・ゴジラ」「君の名は。」が文化庁メディア芸術祭の大賞に輝く”. Comic Natalie (bằng tiếng Nhật). Ngày 16 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2017. 
  12. ^ “映画『聲(こえ)の形』とタイアップ!~ 勇気をもって 心の声を伝えよう ~”. Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (Nhật Bản) (bằng tiếng Nhật). Ngày 2 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016. 
  13. ^ “A Silent Voice Manga Has Anime in the Works”. Anime News Network. Ngày 17 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  14. ^ “A Silent Voice Anime Project Is a Theatrical Film”. Anime News Network. Ngày 15 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  15. ^ “Kyoto Animation to Produce A Silent Voice Film With Director Naoko Yamada”. Anime News Network. Ngày 11 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  16. ^ "Silent Voice" Anime Movie Listed For Fall 2016”. Crunchyroll. Ngày 27 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  17. ^ a ă “A Silent Voice Anime Film's Visual, Teaser Video, Release Date, More Staff Revealed”. Anime News Network. Ngày 8 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016. 
  18. ^ “A Silent Voice Anime Film Reveals Trailer, More Cast, New Visual”. Anime News Network. Ngày 8 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016. 
  19. ^ “aiko to Perform A Silent Voice Anime Film's Theme Song”. Anime News Network. Ngày 28 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016. 
  20. ^ a ă â “KOE NO KATACHI COMIC NATALIE INTERVIEW – NAOKO YAMADA”. Sakugabooru. Ngày 27 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  21. ^ a ă â “「映画『聲の形』」特集 山田尚子監督インタビュー “存在している”彼らを通して伝わるもの (1/4)”. Comic Natalie (bằng tiếng Nhật). Ngày 14 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  22. ^ a ă â b “「聲の形」初日、入野自由 「大きな小動物のような感じ」という山田監督の助言に苦戦?”. AnimeAnime.jp (bằng tiếng Nhật). Ngày 18 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  23. ^ a ă â b c d đ “Koe no Katachi Opening Greeting: Miyu Irino Confused By Yamada Director’s Advice ”Like a Large Small Animal”?”. Manga Tokyo. Ngày 18 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  24. ^ “Koe no Katachi (A Silent Voice) and Kyoto Animation”. Manga Tokyo. Tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  25. ^ a ă “About the movie “Koe no Katachi(A Silent Voice)””. Manga Tokyo. Tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  26. ^ a ă “A Silent Voice Anime Film Earns 283 Million Yen in 2 Days, Ranks #2”. Anime News Network. Ngày 21 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2016. 
  27. ^ “Edinburgh Programs”. Scotland Loves Animation. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2017. 
  28. ^ “Extra Silent Voice and Your Name Screenings at Edinburgh Scotland Loves Anime”. Anime News Network. Ngày 30 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2017. 
  29. ^ “A Silent Voice”. Liên hoan phim quốc tế Leeds. Ngày 6 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2016. 
  30. ^ “The Japan Foundation Touring Film Programme 2017”. Trung tâm Giao lưu Văn hóa Nhật Bản. Ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2017. 
  31. ^ “A Silent Voice in Japanese Film Tour”. Anime News Network. Ngày 10 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2017. 
  32. ^ “アニメ オブ ザ イヤー作品賞受賞『聲の形』3都市で再上映決定”. Oricon (bằng tiếng Nhật). Ngày 24 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2017. 
  33. ^ “Director Q&A at A Silent Voice Glasgow Screening”. Anime News Network. Ngày 31 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2017. 
  34. ^ “A Silent Voice (Koe no Katachi)”. Discovery Film Festival. Ngày 26 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2017. 
  35. ^ a ă “TAAF2017アニメ オブ ザ イヤー部門グランプリは『映画『聲の形』』と『ユーリ!!! on ICE』に決定!” (bằng tiếng Nhật). Tokyo Anime Award Festival. 22 tháng 2 năm 2017. 
  36. ^ a ă “映画「聲の形」「ユーリ!!!」がTAAF2017アニメ オブ ザ イヤー部門グランプリに”. Comics Natalie (bằng tiếng Nhật). Ngày 24 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  37. ^ “秋葉原映画祭2017: 映画 聲の形”. Akihabara Film Festival (bằng tiếng Nhật). Ngày 2 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2017. 
  38. ^ “2nd Akihabara Film Festival 2017 to Hold Live Dubbing and Special Events”. Manga Tokyo. Ngày 14 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2017. 
  39. ^ “A SILENT VOICE”. Japanese Film Festival. Ngày 26 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2017. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  40. ^ “KOE NO KATACHI”. Future Film Festival. Ngày 2 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2017. 
  41. ^ a ă ““Koe no Katachi” (Una Voz Silenciosa)”. Konnichiwa Festival. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  42. ^ “Viz Media Europe to Present A Silent Voice, Yo-Kai Watch Movies at Cannes Film Market”. Anime News Network. Ngày 12 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2017. 
  43. ^ “A SILENT VOICE”. Nippon Connection. Ngày 15 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2017. 
  44. ^ a ă “Annecy Festival Screens A Silent Voice, In This Corner of the World, Lu over the wall”. Anime News Network. Ngày 25 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2017. 
  45. ^ a ă “A Silent Voice”. Liên hoan phim hoạt hình quốc tế Annecy. Ngày 24 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2017. 
  46. ^ a ă â b “アニメ オブ ザ イヤー作品賞受賞『聲の形』3都市で再上映決定”. Oricon (bằng tiếng Nhật). Ngày 24 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2017. 
  47. ^ “A Silent Voice Animated Movie Acquired by Viz Media Europe”. Anime News Network. Ngày 28 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2017. 
  48. ^ “A Silent Voice UK and Ireland Cinema Details”. Anime News Network. Ngày 23 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2017. 
  49. ^ “アニメ映画「聲の形」がタイで2017年3月23日公開”. Box Office Mojo. Ngày 26 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2017. 
  50. ^ “A Silent Voice Anime Film Opens in Taiwan in March”. Anime News Network. Ngày 11 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2017. 
  51. ^ a ă McCallum, Jessica (ngày 2 tháng 3 năm 2017). “A Silent Voice is Heading to Australia and New Zealand This April”. Madman Entertainment. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2017. 
  52. ^ “Neofilms Streams Chinese-Subtitled Trailer for Kyoto Animation's A Silent Voice Anime Film”. Anime News Network. Ngày 21 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2017. 
  53. ^ a ă “The Silent Voice – coming to Singapore 9 March, Malaysia and Brunei, 20 April”. Wow Japan. Ngày 9 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2017. 
  54. ^ “Kyoto Animation's A Silent Voice Film Opens in Brunei on April 20”. Anime News Network. Ngày 24 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2017. 
  55. ^ “Film A Silent Voice Siap Diputar di Indonesia Pada Bulan Mei”. KAORI (bằng tiếng Indonesia). Ngày 18 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2017. 
  56. ^ “Kyoto Animation's A Silent Voice Film Opens in Indonesia on May 3”. Anime News Network. Ngày 14 tháng 4 năm 2017. Truy cập 25 tháng 4 năm 2017. 
  57. ^ “¿Dónde comprar boletos para #KoeNoKatachi “Una Voz Silenciosa” en México, El Salvador, Honduras, Costa Rica, Guatemala, Perú y más países?”. AniGamers.com. 5 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2017. 
  58. ^ “목소리의 형태', 2종 메인 포스터 및 예고편 공개”. 더팩트 (bằng tiếng Hàn). Ngày 19 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2017. 
  59. ^ “Koe no Katachi finally has a new release date in the Philippines”. The Hyped Geek. Ngày 2 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  60. ^ “Pioneer Films to Open A Silent Voice Film on May 10 in the Philippines”. Anime News Network. Ngày 3 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2017. 
  61. ^ “A Silent Voice opens 12 May in Vietnam.”. Encore Films. Ngày 24 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2017. 
  62. ^ “Una voz silenciosa, el éxito del cine japones llega a Chile”. Punto Seguido. Ngày 11 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2017. 
  63. ^ “#Cine ¡”Una Voz Silenciosa” se mantiene en el Top10 de México se anuncia BD y más funciones!”. Retorno Anime. Ngày 15 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2017. 
  64. ^ “网传动画电影《声之形》国内定档9月17日 期待新奇迹”. 动漫星空 (bằng tiếng Trung). Ngày 12 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2017. 
  65. ^ “映画「聲の形」早見沙織が日本アカデミー賞優秀賞を祝福、監督は「ほんまかな?」”. Comic Natalie (bằng tiếng Nhật). Ngày 1 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2017. 
  66. ^ “A Silent Voice Anime Film's Blu-ray to Add 2 New Animated Videos”. Anime News Network. Ngày 13 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2017. 
  67. ^ “A Silent Voice Film Earns 2.2 Billion Yen, Sells 1.7 Million Tickets”. Anime News Network. Ngày 3 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2016. 
  68. ^ “横綱は『君の名は。』と『ポケモンGO』、嵐は大関”. Yahoo! Japan (bằng tiếng Nhật). Ngày 5 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2016. 
  69. ^ “Top 20 Highest-Grossing Films in Japan Has 6 Anime Films”. Anime News Network. Ngày 18 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2016. 
  70. ^ “Singapore Box Office (Weekend): Week of 09 March 2017-12 March 2017”. Cinema Online. Ngày 12 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2017. 
  71. ^ a ă “A Silent Voice Ranks at #10 in Singapore Box Office in 3rd Weekend”. Anime News Network. Ngày 30 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2017. 
  72. ^ “Singapore Box Office (Weekend): Week of 23 March 2017-26 March 2017”. Cinema Online. Ngày 12 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2017. 
  73. ^ “Makoto Shinkai's official Twitter”. Ngày 7 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2017. 
  74. ^ “第71回毎日映画コンクール 心に迫る一本 日本映画大賞・日本映画優秀賞候補作” (bằng tiếng Nhật). Mainichi Newspaper. 16 tháng 12 năm 2016. 
  75. ^ “第40回 日本アカデミー賞 優秀賞一覧” (bằng tiếng Nhật). Japan Academy Prize. 16 tháng 1 năm 2017. 
  76. ^ “Tokyo Anime Award Festival Chooses "Yuri!!! On ICE" and "A Silent Voice" as Best TV/Film of 2016”. Crunchyroll. Ngày 23 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  77. ^ “Yuri!!! on Ice, A Silent Voice Win Tokyo Anime Award Festival's Top Prizes”. Anime News Network. Ngày 23 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  78. ^ “アヌシー映画祭長編コンペに「この世界の片隅に」「聲の形」「夜明けを告げるルーのうた」”. アニメーションビジネス・ジャーナル (bằng tiếng Nhật). Ngày 24 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2017. 
  79. ^ “20jmaf_award_winning_works” (PDF). Liên hoan Nghệ thuật truyền thông Nhật Bản. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]