Dư Quốc Đống

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
DƯ QUỐC ĐỐNG
Tiểu sử
Sinh

21 tháng 12, 1932(1932-12-21)

Rạch Giá, Kiên Giang
Mất

21 tháng 4, 2008 (76 tuổi)

California, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1951-1975
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị Vietnamese Airborne Division 's Insignia.svg Binh chủng Nhảy dù
Flag of Dong De Military School.svg Trường Hạ sĩ quan
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Công việc khác Trưởng đoàn VNCH
Ban Liên hợp 4 bên

Dư Quốc Đống (1932-2008), nguyên là một tướng lĩnh Nhảy dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị do Liên quân do Quốc gia mở ra ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam. Tốt nghiệp ông được chọn về đơn vị Nhảy dù. Ông đã có hầu hết thời gian trong quân ngũ chỉ phục vụ cho Binh chủng Nhảy dù. Trong các đời Tư lệnh đơn vị Nhảy dù, ông là Tư lệnh với thời gian lâu nhất (1964-1972). Ông cũng từng đảm trách Tư lệnh một Quân đoàn chủ lực của Việt Nam Cộng hòa.

Tiểu sử và Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 21 tháng 12 năm 1932 trong một gia đình điền chủ khá giả tại làng Vĩnh Thanh Vân, Minh Lương, Rạch Giá, miền Tây Nam phần Việt Nam. Thiếu thời, ông học ở trường Tiểu học Tư thục Võ Thành Trứ tại Rạch Giá. Khi lên Trung học, ông được gia đình cho lên Sài Gòn học ở trường Tư thục Guillerault Chasseloup Laubat. Năm 1950, ông tốt nghiệp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng 4 năm 1951, sau khi tốt nghiệp Trung học Phổ thông, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 52/120.247. Theo học khóa 5 Hoàng Diệu tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 7 năm 1951. Ngày 24 tháng 4 năm 1952 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được chọn vào đơn vị Nhảy Dù[1]

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng 11 năm 1955, sau khi chuyển từ Quân đội Quốc gia sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Trung úy giữ chức Đại đội trưởng của Tiểu đoàn 1 Nhảy dù. Đầu năm 1959, ông được thăng cấp Đại úy và giữ chức Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 Nhảy dù. Tháng 11 năm 1960, ông được lên giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng thay thế Thiếu tá Trần Văn Đô.[2]

Ngày Quốc khánh Đệ nhất Cộng hòa 26 tháng 10 năm 1961, ông được đặc cách ở mặt trận, thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm. Đầu tháng 1 năm 1962, Lữ đoàn Nhảy dù thành lập Chiến đoàn, ông được chỉ định giữ chức vụ Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 1 Nhảy dù tân lập. Đầu năm 1963, ông được thăng cấp Trung tá bàn giao Chiến đoàn 1 lại cho Thiếu tá Trương Quang Ân để giữ chức vụ Tư lệnh phó Lữ đoàn Nhảy dù dưới quyền Tư lệnh của Đại tá Cao Văn Viên.

Tháng 9 năm 1964, ông được thăng cấp Đại tá, được cử giữ chức vụ Quyền Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù thay thế Thiếu tướng Cao Văn Viên[3]. Ngày 1 tháng 11 cùng năm, nhân kỷ niệm lần thứ nhất ngày đảo chính (1/11/1963) thành công, ông được thăng cấp Chuẩn tướng và trung tuần tháng 12, ông chính thức được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy Dù.[4] Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Ngày 1 tháng 7 năm 1970, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm.

Ngày 11 tháng 11 năm 1972, ông bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn Nhảy dù lại cho Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng (nguyên Tư lệnh phó của Sư đoàn). Đầu năm 1973, ông được cử làm Trưởng phái đoàn Việt Nam Cộng hòa trong Uỷ ban Quân sự 4 bên thay thế Thiếu tướng Ngô Du. Cuối năm, chuyển ra Duyên hải miền Trung, ông đảm nhiệm chức vụ vụ Chỉ huy trưởng Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế, Nha Trang thay thế Chuẩn tướng Võ Văn Cảnh, sau khi bàn giao chức vụ Trưởng đoàn Quân sự 4 bên lại cho Trung tướng Cao Hảo Hớn. Cuối năm 1974, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III và Quân khu 3, hoán chuyển nhiệm vụ với Trung tướng Phạm Quốc Thuần[5]

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng tháng 1, khi đang là Tư lệnh Quân đoàn III, ông đã xin từ chức sau khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bác bỏ lời yêu cầu của ông gửi quân tăng viện đến mặt trận Phước Long.[6] Sau đó, ông bàn giao chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III lại cho Trung tướng Nguyễn Văn Toàn (Nguyên Chỉ huy trưởng Binh chủng Thiết Giáp Trung ương). Đồng thời, ông được chuyển về Bộ Tổng tham mưu làm Phụ tá cho Tổng tham mưu trưởng.

Ngày 29 tháng 4, ông cùng gia đình di tản khỏi Việt Nam. Sau đó được sang định cư tại Huntington Beach, Orange (Quận Cam) thuộc miền Nam Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Ông đã về hưu sau 13 năm phục vụ cho Hội Bác Ái Công giáo (Catholic Charities) tại Los Angeles trong cương vị là người cố vấn tìm công ăn việc làm cho người di dân.

Ngày 21 tháng 4 năm 2008, ông từ trần tại nơi định cư. Hưởng thọ 76 tuổi. Lễ tang được tổ chức ngày 3 Tháng 5 tại nhà thờ First United Methodist Church, Huntington Beach.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Dư Sòng (Nguyên là Công chức phục tại Thương cảng Sài Gòn)
  • Thân mẫu: Cụ Trần Thị Hiển (1911-2003 - Hạ sinh 8 người con gồm 3 trai, 5 gái. Tướng Đống là con thứ 2)
  • Bào huynh: Ông Dư Quốc Lương (Nguyên Đại tá Không quân Việt Nam Cộng hòa, sinh năm 1930, tốt nghiệp Võ khoa Thủ Đức K2, chức vụ sau cùng là Chánh sở Không Yểm tại Bộ Tư lệnh Không quân)
  • Phu nhân: Bà Dư Thị Long (Ái nữ của Bác sĩ Dư Quốc Sinh)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Binh chủng Nhảy dù được hình thành từ thời Quân đội Liên hiệp Pháp. Từ năm 1948 được bổ sung nhiều quân nhân người Việt. Năm 1952 hình thành cấp Liên đoàn, đến năm 1959 nâng lên cấp Lữ đoàn. Cuối năm 1965, trang bị hoàn chỉnh để hình thành cấp Sư đoàn. Binh chủng Nhảy dù luôn luôn là một đơn vị thiện chiến nhất và cũng là một trong các Lực lượng Tổng trừ bị của Bộ Tổng Tham mưu Quân lực VNCH
  2. ^ Thiếu tá Trần Văn Đô giải ngũ năm 1965 ở cấp Đại tá
  3. ^ Thiếu tướng Cao Văn Viên chuyển về Bộ Tổng Tham mưu giữ chức vụ Tham mưu trưởng Liên quân
  4. ^ Chuẩn tướng Dư Quốc Đống là Tư lệnh thứ tư của Binh chủng Nhảy dù sau các tướng: Đỗ Cao Trí, Nguyễn Chánh ThiCao Văn Viên.
    Tướng lãnh xuất thân từ Binh chủng Nhảy dù, ngoài 4 vị kể trên còn có:
    -Cấp Đại tướng:
    -Nguyễn Khánh (Chỉ huy Tiểu đoàn Nhảy Dù thời Quân đội Liên hiệp Pháp, sau chuyển qua Bộ binh)
    -Cấp Trung tướng:
    -Nguyễn Văn Vỹ (Chỉ huy Đại đội Nhảy dù từ thời Quân đội Liên hiệp Pháp, sau chuyển qua Bộ binh)
    -Phan Trọng Chinh (Chỉ huy Tiểu đoàn Nhảy dù dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, sau chuyển sang Bộ binh)
    -Ngô Quang Trưởng (Trước khi chuyển sang đơn vị Bộ binh đã là Tư lệnh phó Sư đoàn Nhảy dù)
    -Cấp Thiếu tướng:
    -Trương Quang Ân, Đỗ Kế Giai, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn PhúĐoàn Văn Quảng (Hai tướng Phú và Quảng, sau chuyển sang làm Tư lệnh Binh chủng Lực lượng Đặc biệt)
    -Cấp Chuẩn tướng:
    -Vũ Văn Giai, Hồ Trung Hậu, Trần Quốc Lịch, Trần Đình Thọ, Lê Văn Tư, Lê Nguyên VỹLê Quang Lưỡng (Tư lệnh sau cùng của Sư đoàn Nhảy dù).
    -Tướng H. Norman Schwarzkopf, Tư lệnh Quân lực Hoa Kỳ trong chiến dịch Bão táp Sa mạc vùng Vịnh, đã từng phục vụ dưới quyền tướng Dư Quốc Đống trong vai trò Thiếu tá Cố vấn Quân sự cấp Tiểu đoàn và cấp Lữ đoàn Nhảy dù VNCH trong các năm từ 1965-1970.
  5. ^ Trung tướng Phạm Quốc Thuần đang là Tư lệnh Quân đoàn III, chuyển ra Nha Trang giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế thay cho tướng Dư Quốc Đống
  6. ^ Phước Long là Tỉnh và Tiểu khu thuộc Quân khu 3, ngày 6 tháng 1 năm 1975 đã bị quân Bộ đội Bắc Việt Nam tấn công và chiếm đoạt.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]