Dận Nhưng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Dận Nhưng
Crown Prince Yinreng.jpg
Thông tin chung
Phối ngẫuHoàn Nhĩ Giai thị
(瓜爾佳氏)
Tên đầy đủÁi Tân Giác La Dận Nhưng
(爱新觉罗胤礽)
Ái Tân Giác La Doãn Nhưng
(爱新觉罗允礽)
Thụy hiệuLý Mật Thân vương (理密親王)
Thân phụThanh Thánh Tổ Khang Hi Đế
Thân mẫuHiếu Thành Nhân Hoàng hậu
Sinh16 tháng 6 năm 1674
Mất27 tháng 1 năm 1725

Ái Tân Giác La Dận Nhưng (chữ Hán: 爱新觉罗胤礽; 16 tháng 6 năm 1674 - 27 tháng 1 năm 1725), là Hoàng tử thứ 2 tính trong số những người con sống tới tuổi trưởng thành và là Hoàng đích tử duy nhất của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế.

Ông là người được Khang Hi Đế lập làm Thái tử dù còn rất nhỏ, nhưng sau lại bị phế. Theo gia pháp tổ tông của Mãn Châu, tránh việc công khai lập Thái tử, nhưng do Khang Hi Đế quá thương yêu Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu mà đã phá lệ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Dận Nhưng là người con duy nhất còn sống tới tuổi trưởng thành của Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu. Ban đầu có tên là Bảo Thành (保成), sau đổi thành Dận Nhưng. Khi Ung Chính Đế lên ngôi đổi thành Doãn Nhưng để tránh kị huý.

Khang Hi Đế đích thân dạy dỗ và tuyên bố Dận Nhưng là Thái tử khi Dận Nhưng được một tuổi. Dưới sự giám hộ của các học giả, Dận Nhưng trở nên thành thạo cả tiếng Hán lẫn tiếng Mãn Châu. Giữa năm 16961697, Khang Hi Đế đã hai lần chống lại Cát Nhĩ Đan của Chuẩn Cát Nhĩ, Dận Nhưng được bổ nhiệm làm nhiếp chính giám sát mọi việc ở triều đình Bắc Kinh. Mặc cho những lời can gián buộc tội của quần thần, Khang Hi Đế vẫn giao Tây Hoa Viên (西花園) cho Dận Nhưng làm phủ đệ của mình.

Năm Khang Hi thứ 42 (1703), Sách Ngạch Đồ, thúc phụ của Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu, bị kết tội âm mưu ám sát Khang Hi Đế, cùng với một loạt các tham nhũng, bị bỏ tù và chết ngay sau đó. Dận Nhưng dần dần bị thất sủng.

Năm Khang Hi thứ 47 (1708), do Dận Nhưng “có lối sống xa hoa, dâm loạn, ngôn ngữ lộn xộn, có triệu chứng của người điên” nên bị Khang Hi Đế phế bỏ ngôi vị Thái tử. Sau đó, Hoàng tam tử Dận Chỉ (胤祉), lan truyền tin đồn cáo buộc Hoàng trưởng tử Dận Thì (胤禔) sử dụng tà thuật hãm hại Hoàng đích tử Dận Nhưng để đoạt ngôi vị trí Thái tửKhang Hi Đế tức giận đã tước bỏ hết phong hiệu của Dận Thì (1708) và giam lỏng ông ngay tại phủ đệ. Một năm sau đó (1709), Khang Hi Đế đã khôi phục lại ngôi vị Thái tử cho Dận Nhưng với lý do “bị ma nhập, nhưng đã chữa khỏi”.

Song, 3 năm sau đó, Khang Hi Đế lại mượn cớ “bệnh điên” của Dận Nhưng để phế bỏ ngôi vị Thái tử rồi đem bắt giam ở Hàm An cung.

Sau khi lên ngôi, Ung Chính Đế vẫn "để mắt" tới người anh này, nên một mặt phong ông làm Lý Quận vương (理郡王), mặt khác lại điều ông về Trịnh Gia trang ở Sơn Tây để trấn thủ, nhưng thực chất chính là giam lỏng. Vào năm Ung Chính thứ 2 (1725), Dận Nhưng qua đời trong tình trạng bị giam giữ, được truy phong Lý Mật Thân vương (理密親王).

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Đích Phúc tấn Hoàn Nhĩ Giai thị.

Đích Phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàn Nhĩ Giai thị (瓜爾佳氏), con gái của Đô thống Thạch Văn Bính (石文炳).

Trắc Phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lý Giai thị (李佳氏), con gái của Khinh xa Đô uý Thư Nhĩ Đức Khố (舒爾德庫).
  • Trình Giai thị (程佳氏), con gái của Trình Thế Phúc (程世福).

Thê thiếp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đường Giai thị (唐佳氏).
  • Vương Giai thị (王佳氏).
  • Lâm Giai thị (林佳氏).
  • Phạm Giai thị (范佳氏).
  • Lưu Giai thị (劉佳氏).
  • Lưu thị (劉氏).
  • Tiền thị (錢氏).
  • Khâu thị (邱氏).
  • Châu thị (朱氏).
  • Kỳ thị (祁氏).
  • Bùi thị (裴氏).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Trưởng tử (1691 - 1701), chết yểu, mẹ là Lý Giai thị.
  2. Hoằng Tích (弘晳; 1694 - 1742), mẹ là Lý Giai thị, được phong Lý Quận vương (1723), sau phong Lý Thân vương (1728), bị tước phong hiệu năm 1739.
  3. Hoằng Tấn (弘晉; 1696 - 1717), mẹ là Lâm Giai thị, qua đời được truy phong Phụng ân Phụ quốc công.
  4. Tứ tử (1704 - 1705), chết yểu, mẹ là Đường Giai thị.
  5. Ngũ tử (1708), chết ngay khi sinh, mẹ là Lưu thị.
  6. Hoằng Yên (弘曣; 1712 - 1750), mẹ là Đường Giai thị, qua đời được truy phong Phụng ân Phụ quốc công.
  7. Hoằng Thiếu (弘晀; 1714 - 1774), mẹ là Vương Giai thị, được phong Phụng ân Phụ quốc công (1734), sau bị tước bỏ phong hiệu (1769).
  8. Bát tử (1715 - 1726), chết yểu, mẹ là Tiền thị.
  9. Hoằng Diêu (弘暚; 1716 - 1783), mẹ là Khâu thị, được phong Tam đẳng Thị vệ.
  10. Hoằng Quế (弘㬙; 1719 - 1780), mẹ là Trình Giai thị, được phong Phụng ân Phụ quốc công (1736), sau phong Lý Quận vương (1739), qua đời được truy phong Lý Khác Quận vương.
  11. Hoằng Bính (弘昞; 1720 - 1763), mẹ là Vương Giai thị.
  12. Hoằng Hân (弘晥; 1724 - 1775), mẹ là Trình Giai thị, được phong Phụng ân Phụ quốc công (1738).

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Trưởng nữ (1693), chết ngay khi sinh, mẹ là Lý Giai thị.
  2. Nhị nữ (1694), chết ngay khi sinh, mẹ là Lý Giai thị.
  3. Tam nữ (1697 - 1735), mẹ là Hoàn Nhĩ Giai thị, hạ giá lấy Đạt Nhĩ Hán A Lạt Bố Thản (達爾漢 阿喇布坦).
  4. Tứ nữ (1706), chết ngay khi sinh, mẹ là Phạm Giai thị.
  5. Ngũ nữ (1708 - 1712), chết yểu, mẹ là Phạm Giai thị.
  6. Hoà Thạc Thục Thận công chúa (和碩淑慎公主; 1708 - 1784), được Ung Chính Đế nhận nuôi, mẹ là Đường Giai thị, hạ giá lấy Quan Âm Bảo (觀音保), họ hàng của Hiếu Huệ Chương Hoàng hậu.
  7. Thất nữ (1711 - 1716), chết yểu, mẹ là Lưu thị.
  8. Bát nữ (1714 - 1760), mẹ là Trình Giai thị, được phong Quận chúa, hạ giá lấy Bành Tô Khắc Lạp (彭蘇克拉).
  9. Cửu nữ (1715 - 1762), mẹ là Lý Giai thị, được phong Huyện chúa, hạ giá lấy Sách Vượng Đa Nhĩ Tế (策旺多爾濟).
  10. Thập nữ (1717 - 1720), chết yểu, mẹ là Trình Giai thị.
  11. Thập Nhất nữ (1717 - 1725), chết yểu, mẹ là Lý Giai thị.
  12. Thập Nhị nữ (1717 - 1776), mẹ là Kỳ thị, được phong Quận chúa, hạ giá lấy Nhất đẳng Tháp Bố Nan (塔布囊).
  13. Thập Tam nữ (1718 - 1719), chết yểu, mẹ là Châu thị.
  14. Thập Tứ nữ (1722), chết ngay khi sinh, mẹ là Bùi thị.

Trong văn hoá đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Được diễn bởi Trương Lôi trong phim Bộ bộ kinh tâm.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]